ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: LỊCH SỬ
Đề tài: Biến đổi cơ cấu kinh tế miền Bắc 1954 - 1960
(Chuyên đề: Biến đổi cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam 1954-1995)
1
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của Cách mạng Việt Nam, chế độ kinh tế nước ta đã
có những thay đổi rất sâu sắc. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám và sự thành lập
của nhà nước dân chủ nhân dân đã tạo những điều kiện để chúng ta cải biền nền
kinh tế mang nặng tính chất thuộc địa và nửa thuộc địa phong kiến thành một nền
kinh tế độc lập và dân chủ. Nhiệm vụ kinh tế đó chưa thực hiên được bao nhiêu thì
dân tộc ta lại phải tiến hành cuộc kháng chiến gian khổ và lâu dài chống bọn đế
quốc xâm lược để bảo vệ nền độc lập mới giành được, để bảo vệ nhà nước dân chủ
nhân dân non trẻ.
Trong tình hình như vậy mà phải chuyển nền kinh tế còn mang nhiều tàn tích
thực dân, phong kiến và rất thấp kém thành một nền kinh tế kháng chiến, một nền
kinh tế có khả năng phục vụ cho nhu cầu to lớn của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ
quốc, thật là một sự nghiệp cực kỳ khó khăn. nhưng nhờ vào sự lãnh đạo tài tình
của Đảng và nhà nước dân chủ nhân dân kết hợp với lòng yêu nước cao độ, lòng hy
sinh vô bờ bến và tinh thần phấn đấu tự lực cánh sinh của nhân dân cả nước, một
nền kinh tế kháng chiến đẫ vững vàng như ý chí chiến đấu cứu nước của nhân dân
ta đã xây dựng được và lớn mạnh dần theo đà phát triển của cuộc kháng chiến thần
thánh cứu nước. Nền kinh tế được xây dựng nên trong thời kỳ khói lửa ấy, tuy
không thể nói là phồn thịnh, nhưng đã đảm bảo cho quân và dân ta có đủ cơm ăn áo
mặc để theo đuổi cuộc đấu tranh vũ trang đến thắng lợi.
Nền kinh tế kháng chiến không phải chỉ là một nền kinh tế dân tộc mà nó
còn mang ngày càng nhiều tính chất dân chủ: cuộc cách mạng ruộng đất đã được
thực hiện từng bước ngay trong thời kỳ kháng chiến, một phần lớn ruộng đất trước
đây tập trung trong tay bọn thực dân và phong kiến, lần lượt được chuyển về tay
dân cày, và cuối cùng, những đợt triệt để cải cách ruộng đất tiến hành trước và sau
3
viết trên tạp chí kinh tế chủ yếu là những năm từ 60 –65, tạp chí nghiên cứu lịch sử.
Bài chuyên đề này của tôi gồm có 3 phần:
Phần 1: Tình hình kinh tế miền Bắc trước và sau khi tiếp quản.
Phần 2: Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội miền Bắc 1954-1960
Do phạm vi chuyên đề nhỏ, do việc tiếp cận với tài liệu trong thời gian ngắn
và trình độ hiểu biết còn hạn chế nên trong bài viết này không tránh khỏi những
khuyết điểm thiếu xót. Em kính mong thầy và các bạn bổ xung, giúp đỡ.
Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo người đã giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài viết này.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
4
Phần 1. Tình hình kinh tế miền Bắc trước và sau khi tiếp quản
Cách mạng tháng Tám thành công lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, nhưng chưa được bao lâu thì với sự giúp đỡ của đế quốc Mỹ ngày 23/9/1945
thực dân Pháp lại quay trở lại xâm lược đất nước ta một lần nữa. Nhân dân ta tiếp
tục bắt tay vào thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp can thiệp Mỹ. Do
bối cảnh trong lịch sử như vậy nên nền kinh tế thời kỳ này là nền kinh tế kháng
chiến với những đăc điểm nổi bật: kinh tế diễn ra ở hai khu vực, khu vực tự do và
vùng bị chiếm đóng.
Trong đó ở vùng tự do thì hầu hết là những nơi hẻo lánh, giao thông rất khó
khăn. Nền kinh tế chỉ là kinh tế đóng, đóng là do bị phong toả, không có khả năng
mở với thế giới chứ không phải do chủ trương “bế quan toả cảng”. Cho đến năm
1950 vùng kháng chiến bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Đối với vùng
Pháp chiếm đống, những ranh giới đồng thời là chiến tuyễn, nên quan hệ kinh tế rất
hạn chế. Do đó nền kinh tế kháng chiến về căn bản là dựa vào nội lực. Từ năm
1951, 1952 có một chút quan hệ ngoại thương và viện trợ của Trung Quốc, nhưng
nó không đóng vai trò quan trọng lắm đối với kinh tế chung. Kinh tế về cơ bản là
kinh tế tư nhân. Nông nghiệp nằm trong tay nông dân với hình thức gia đình, sản
Do đó, ngay khi hoà bình lập lại, nhân dân miền bắc bắt tay ngay vào tiếp
quản, thực hiện cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Lợi dụng 300
ngày chuyển quân tập kết theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ, thực dân Pháp
phối hợp với đế quốc Mỹ ra sức phá hoại miền Bắc. Chúng cài lại gián điệp, đốt
phá kho tàng, phá hoại những công trình công cộng, những di tích lịch sử và văn
hoá( như phá chùa Một Cột, cầu Phủ Lạng Thương, nhà máy điện Uông Bí…).
Chúng vơ vét tài sản, vật tư, tháo rỡ máy móc thiết bị, mang theo hoặc huỷ hoại hồ
sơ, tài liệu hòng gây khó khăn cho ta trong việc kiểm kê, điều hành công việc và
hoạt động sau này. Chúng đóng cửa nhà máy, hãng buôn, công sở, trường học làm
6
cho sinh hoạt ở thành phố, thị xã ngừng trệ. Chúng còn tung tin xuyên tạc, bôi nhọ
chế độ miền Bắc, biạ đặt tin “chính phủ Việt Nam cấm đạo”, “chúa đã vào Nam”…
để ra sức lôi kéo, dụ dỗ, cưỡng bức gần một triệu đồng bào công giáo di cư vào
Nam. chúng ra sức lôi kéo, mua chuộc các chuyên gia vào Nam.
Lợi dụng nếp sống lạc hậu, mê tín dị đoan của đồng bào miền núi, chúng bịa
ra việc “xưng vua”, “đón vua”, xúi giục đồng bào chống lại chính sách của chính
phủ, bỏ sản xuất, gât mất trật tự an ninh . nhân dân miền Bắc nhất là nhân dân
những vùng sắp giải phóng, đã tiến hành các cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại âm
mưu trên của địch.
Phong trào đấu tranh bảo vệ máy móc, tài sản của công nhân đã diễn ra mạnh
mẽ ở nhiều nơi. Hàng nghìn cán bộ đảng viên và các đoàn thể quần chúng đã lăn
lộn, đi sâu vào từng gia đình ở thành phố, thị xã, nông thôn để vận động quần
chúng chống địch cướp phá tài sản, vận động binh lính người Việt trong quân đội
“liên hiệp Pháp” trở về với gia đình và chống địch cưỡng ép đồng bào di cư vào
nam. Miền Bắc lần lượt được giải phóng. Việc tiếp quản vùng mới giải phóng, nhất
là các thành thị, hoàn toàn tốt đẹp. Ngày 16/5/1955 toán lính Pháp cuối cùng rút
khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng.
Sau khi tiếp quản xong, dân số miền Bắc thay đổi không đáng kể so với thời
kỳ trước (13.574000 người). Nhưng kinh tế thì lại gặp rất nhiều khó khăn. Hồ Chủ
Tịch đã nói về cảnh tượng của miền Bắc lúc đó như sau: “ chiến tranh xâm lược
nghiêm trọng. Hàng nghìn km đường sắt bị tàn phá, chỉ có hơn 100 km tuyến
đường sắt hà Nội-Hải Phòng hoạt động; 3500 cầu cống bị phá huỷ, phương tiện vận
tải thiếu thốn, việc giao lưu giữa các vùng gặp rất nhiều khó khăn.
Thương nghiệp bị đình đốn, các hoạt động đầu cơ, nâng giá lũng đoạn thị
trường diễn ra phổ biến. Nhà nước mới chỉ nắm được 40,5% khối lượng hàng hoá
bán buôn và 22,5% hàng bán lẻ. Sản xuất ngừng trệ, lưu thông phân phối khó khăn,
hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng. Tiền tệ chưa thống nhất, nền kinh tế quốc dân ở
miền Bắc mất cân đối gay gắt. Hàng chục vạn người thất nghiệp, kể cả hàng vạn
binh lính nguỵ bỏ ngũ, về các địa phương. Nạn đói lan tràn khắp nơi. Tháng 9/1954
8
miền Bắc có gần nửa triệu người bị đói. Do chính sách ngu dân cuả thực dân Pháp
và do hoàn cảnh chiến tranh, nền giáo dục miền Bắc ở trong tình trạng thấp kém,
hàng triệu người bị mù chữ. Năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kỹ
thuật. Mạng lưới y tế lạc hậu, nhiều dịch bệnh như sốt rét, lao phổi, hoa liễu, đau
mắt hột…hoành hành phổ biến. Thực dân Pháp còn lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn
giáo để gây thêm những khó khăn phúc tạp chia rẽ trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Tình hình kinh tế sau tiếp quản đã đặt ra cho nhân dân miền Bắc rất nhiều
khó khăn trong việc bắt tay vào làm nhiệm vụ kinh tế mới và làm hậu phương vững
chắc cho tuyền tuyến miền Nam.
Tuy vậy, Đảng và nhà nước ta đã xác định những khó khăn đó chỉ là những
khó khăn tạm thời, trước mắt. Sự thực là bên cạnh những khó khăn, thì miền Bắc
cũng có rất nhiều những thuận lợi để làm nhiệm vụ đó. Trước hết là, khi kết thúc
quá trình tiếp quản chúng ta có nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ của
chuyên chính vô sản, làm đòn bẩy cho mọi cuộc cải tạo kinh tế và xã hội. Chúng ta
có nền kinh tế quốc doanh xây dựng từ trong kháng chiến và được củng cố sau khi
hoà bình. Trong khu vực sản xuất công nghiệp nhà nước, lực lượng cán bộ kỹ thuật
tuy không nhiều, nhưng ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà đã đào tạo những cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc thế hệ đầu
tiên. cho nên ngay những năm đàu sau giải phóng miền Bắc đã có khoảng 300 cán
bộ tốt nghiệp đại học và cao đẳng và gần 1000 cán bộ kỹ thuật trong biên chế cán
chúng ta không dừng lại nửa đường mà sẽ lập tức tiến lên cách mạng XHCN, dựa
vào lực lượng của giai cấp vô sản có tổ chức và có giác ngộ”. tập trung đầu tư xây
dựng lại nền kinh tế mới, kinh tế XHCN. Từ đó Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây
dựng nền kinh tế mới.
10
Đầu năm 1955, chính phủ đã đề ra trương trình khôi phục kinh tế mà những
nét lớn đã được kỳ họp thứ 4 của quốc hội (tháng 3/ 1955) thông qua. Tại kỳ họp
thứ 4 (tháng 3/1955), Quốc hội nhấn mạnh : “ nhiệm vụ chung của thời kỳ khôi
phục kinh tế là dựa vào sức lực của nhân dân ta, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của
các nước bạn-sức ta là chính-nhằm khôi phục sản xuất nông nghiệp, tiểu công
nghiệp và công nghiệp; khôi phục thương nghiệp và bình ổn giá cả, củng cố nền tài
chính quốc gia; khôi phục giao thông vận tải”
2
2.1. Trong nông nghiệp
Xuất phát từ đặc điểm của công nghiệp hoá XHCN ở nước ta là tiến thẳng
lên CNXH không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là
chúng ta đi lên CNXH xuất phát từ nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở để thực
hiện công nghiệp hoá XHCN. Nắm vững quan điểm đó, ngay sau khi hoà bình lập
lại, trong lĩnh vực kinh tế điều quan trọng trước tiên đựơc Đảng quan tâm là đẩy
mạnh sản xuất nông nghiệp. Nghị quyết của bộ chính trị Trung ương Đảng tháng
9/1954 đã chỉ rõ:“ sau đình chiến, chúng ta đứng trước một nhiệm vụ to lớn trong
công tác kinh tế là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm
bớt những khó khăn về đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế một cách có kế
hoạch và làm từng bước, mở rộng việc giao lưu kinh tế giữa thành thị và thôn
quê…trong thời kỳ phục hồi, trước hết cần nắm vững việc phục hồi và phát triển
sản xuất nông nghiệp. Đó là vấn đề then chốt, cơ sở của việc cải thiện đời sống của
nhân dân, phồn thịnh kinh tế, mở rộng việc giao lưu hàng hoá”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân vừa kết thúc ở miền Bắc thì giai đoạn cách mạng XHCN được tiếp nối ngay.
Trước hết là hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất: cuộc cải cách được bắt
Tiếp sau đó là hợp tác hoá nông nghiệp.
Muốn cho nông nghiệp là cơ sở để công nghiệp hoá thì phải làm cho nông
nghiệp và công nghiệp phát triển từng bước cân đối với nhau, và muốn tạo ra sự
cân đối đó thì phải hợp tác hoá nông nghiệp. Hơn nữa sau khi hoàn thành cuộc cải
12
cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu về ruộng đất phong kiến, thực hiện khẩu
hiệu người cày có ruộng, đời sống của nông dân ở miền Bắc đã được cải thiện một
phần, nhưng nói chung còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, và với nền kinh tế cá thể,
trước mắt nông dân có hai con đường: con đường làm ăn riêng lẻ, tự phát tư bản
chủ nghĩa và con đường hợp tác hoá tiến lên CNXH . Nếu sau khi xoá bỏ chế độ
chiếm hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân
cá thể, giai cấp công nhân không kịp thời giáo dục và tổ chức nông dân đi vào con
đường làm ăn tập thể thì khuynh hướng tư bản chủ nghĩa tự phát trong nông dân sẽ
phát triển. Lê nin nói: “ nền tiểu sản xuất thì lại từng ngày, từng giờ đẻ ra chủ nghĩa
tư bản và giai cấp tư sản, một cách tự phát và trên những quy mô rộng lớn”
3
Ở miền Bắc, trên thực tế sau cải cách ruộng đất, khuynh hướng tư bản chủ
nghĩa tự phát đã bộc lộ trong thời kỳ sửa sai từ cuối năm 1956 đầu năm 1957. Sự
phân hoá mới về giai cấp bắt đầu nảy sinh ở nông thôn. Một số bần nông và trung
nông lớp dưới đã bị sa sút, phải bán bớt ruộng đất trâu bò, không giữ nguyên được
những thành quả của cải cách ruộng đất. Hơn nữa, chế độ bóc lột của phú nông vẫn
còn, kinh tế tiểu nông-chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất của nông dân lại hàng
ngày, hàng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản thành thị lại thường dựa
vào sự mua bán với nông dân cá thể để buôn bán đầu cơ, phá rối thị trường, gây
ảnh hưởng không tốt cho khối liên minh công nông. Do đó phải triệt bỏ nguồn gốc
của chủ nghĩa tư bản ở nông thôn là kinh tế tiểu nông, cắt đứt mối liên hệ giữa chủ
nghĩa tư bản thành thị với nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để cải tạo XHCN đối
với công thương nghiệp tư bản tư doanh, giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa
CNXH và chủ nghĩa tư bản miền Bắc. Đảng ta đã chỉ rõ: “hợp tác hoá nông nghiệp
làm ăn đã trở thành tập quán mấy nghìn năm không phải là một chuyện dễ. Không
thấy hết, không nắm lấy điều quan trọng này để giải quyết, mà chỉ nói chung chung
quan hệ giữa cá thể và tập thể thì thật là chưa đủ. Hợp tác hoá là thay đổi phương
thức sản xuất cũ, xây dựng một phương thức sản xuất mới. Cái mới nhất là từ sản
4
Nghị quyết của hôi nghị trung ương lần thứ 16 tháng 4/1959) về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp, ban chấp
hành trung ương Đảng lao động Việt Nam xuất bản, 1959 tr11.
14
xuất cá thể sang sản xuất tập thể, từ qủan lý lao động một gia đình đến quản lý
nhiều người. Nếu muốn nông dân đi vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp với
nhiệt tình cách mạng và thật thà tự nguyện, trước hết phải làm tốt công tác tư
tưởng. Do đó mà sau cải cách ruộng đất, Đảng đã giáo dục và kêu gọi nông dân đi
lên CNXH bằng con đường hợp tác hoá nông nghiệp, giúp cho nông dân hiểu rõ hai
con đường: một con đường nghèo đói và một con đường no ấm, làm cho họ trở
thành người đào mồ chôn cái gốc rễ của chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời và trở thành
người sáng tạo ra cuộc sống mới ở nông thôn. thực tiễn của việc tiến lên CNXH
của các dân tộc chậm tiến ở Liên Xô với sự giúp đỡ của giai cấp công nhân Nga
trước kia cũng như việc chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên
cách mạng XHCN của Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ nhân dân khác
vơi sự giúp đỡ của Đảng cộng sản và giai cấp công nhân Liên Xô đã chứng minh
rằng việc quan hệ sản xuất XHCN thắng lợi trước khi sức sản xuất phát triển đến
một trình độ tương đối cao ở các nước đó là một quy luật phát triển của các nước
đó. Tình hình miền Bắc Việt Nam sau khi hoà bình được lập lại cũng nằm trong
quy luật ấy. Cho nên đối với chúng ta, muốn khắc phục được tình trạng lạc hậu của
nông nghiệp thì ta cần phải xây dựng quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn, để trên
cơ sở quan hệ sản xuất mới đó mà đẩy mạnh sức sản xuất nông nghiệp phát triển.
Chính do chủ trương đúng đắn của Đảng mà sản xuất nông nghiệp đã được
khôi phục và phát triển nhanh chóng, và do đó đã làm cho trong bản thân người
nông dân dần dần có sự chuyển biến sâu sắc, và sự chuyển biến đó trở thành một
phong trào rộng rãi trong hàng triệu nông dân lao động ở miền Bắc nước ta, họ từ
và toàn thể nhân dân. Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp trở thành cao trào cách
mạng rộng rãi ở nông thôn. Đến tháng 12/1959 số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
đã lên tới 28.800 cái (trong đó có1.350 cái bậc cao), gồm 1.241.400 hộ xã viên,
chiếm 45,41% tổng số nông hộ. so sánh số nông hộ đã tham gia hợp tác xã thì
phong trào năm 1959 đã phát triển gấp hơn 9 lần năm 1958. Nếu kể cả những hộ
16
tham gia tổ đổi công thì năm 1959, phong trào cách mạng XHCN ở nông thôn đã
lôi cuốn tới 83% số nông hộ. Ruộng đất đưa vào hợp tác xã đã lên tới 734.430 ha,
chiếm 41% tổng số ruộng đất canh tác toàn miền Bắc. Nhiều xã và một số huyện đã
căn bản hoặc sắp căn bản hoàn thành hợp tác xã bậc thấp. Quy mô hợp tác xã cũng
lớn dần. Số hợp tác xã gồm từ 70, 80 hộ trở lên đã có nhiều ở các tỉnh và theo
thống kê chưa đầy đủ, tính đến đầu tháng 12/1959 trong 14 tỉnh đã có 308 hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp có từ 100 đến 300 hộ. Năm 1955, bình quân một hợp tác
xã chỉ có 13 hộ với 7,4 ha ruộng đất; năm 1957 có 16 hộ với 12,1 ha ruộng đất, đến
năm 1959 bình quân số hộ và ruộng đất của mỗi hợp tác xã là 43 hộ và 25,5 ha.
Như vậy là chỉ trong vòng mấy tháng, số lượng hợp tác xã mới xây dựng đã
xấp xỉ với tổng số hợp tác xã đã có kể từ nửa đầu năm 1959 trở về trước (16.356)
và số nông hộ tham gia hợp tác xã thì phát triển hơn gấp đôi số cũ (21,9%). Tính
đến cuối năm 1960 số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có tới 41.401 cái, bao gồm
85,8% số hộ nông dân lao động, với khoảng 76% ruộng đất, trong đó có 12 % số hộ
nông dân vào hợp tác xã bậc cao.
Việc hoàn thành về căn bản cuộc cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp
là một thắng lợi lịch sử to lớn của cách mạng nước ta. Chế độ người bóc lột người
ở nông thôn đã bị xoá bỏ về căn bản, lao động tập thể đã thay thế cho lao động
riêng lẻ, sản xuất nông nghiệp đã bắt đầu đi vào kế hoạch, đời sống vật chất và văn
hoá của nông dân đã được cải thiện bước đầu. Kinh tế nông nghiệp XHCN ở miền
Bắc bao gồm hai hình thức sở hữu chủ yếu là hình thức sở hữu toàn dân (nông
trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (hợp tác xã nông nghiệp). Nông nghiệp hợp
tác hoá đã bắt đầu phát huy tính hơn hẳn so với kinh tế tiểu nông, đã có tác dụng rõ
rệt thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, thâm canh tăng năng xuất, tăng vụ, khai hoang và
5
Nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thưa 8 về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần
thứ nhất(1961-1965) NXB Sự thật Hà nội, 1963, tr9.
6
Xem bộ nông lâm: thành tích sản xuất nông nghiệp trong 15 năm dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà,
NXB sự thật, Hà nội, 1960 tr15
18
đề cấp bách trước mắt, mà là vấn đề rất quan trọng lâu dài về sau. Lương thực là
một vật tư chiến lược của nhà nước chuyên chính vô sản. V.Lênin đã nói: “ Chỉ khi
nào nhà nước của công nhân thật sự có được một số dự trữ lương thực đầy đủ, thì
khi đó nó mới đứng trên một cơ sở kinh tế vững chắc, và mới có thể đảm bảo cho
đại công nghiệp phục hồi được, tuy là chậm, nhưng không ngừng, thì khi đó nó mới
có thể đào tạo nên một chế độ tài chính bình thường được”.
7
Thực tiễn những năm qua ở miền Bắc nước ta cũng chỉ rõ những vấn đề
lương thực là vấn đề mấu chốt trong nông nghiệp. Muốn phát triển nông nghiệp
toàn diện phải có cơ sở lương thực bảo đảm. Vấn đề lương thực ảnh hưởng lớn đến
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Những năm mà vấn đề lương thực gặp khó khăn, thì
việc thực hiện toàn bộ kế hoạch Nhà nước bị trở ngại lớn. Vì vậy, chúng ta đã tích
cực phấn đấu đi đến giải quyết vững chắc vấn đề lương thực. Ngay sau khi hoà
bình lập lại, trong thời gian đầu- thời kỳ khôi phục và phát triển sản xuất nông
nghiệp, Đảng đã vạch ra là phải nắm vững khâu lương thực là trung tâm, dựa vào
kết quả giải quyết vấn đề lương thực mà phát triển sản xuất nông nghiệp một cách
toàn diện.
Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn phù hợp với tình hình thực tế sản
xuất và sinh hoạt của nước ta. Bởi lương thực chiếm một phần trọng yếu trong ngân
sách mỗi gia đình và trong dự trữ của nhà nước. Nó đảm bảo cho nhân dân được
ấm no và có một sức khoẻ dồi dào bảo đảm cho sản xuất của xã hội được phát triển
mạnh mẽ. Trong nông nghiệp, các mặt sản xuất khác chỉ có thể phát triển được trên
Lấy năm 1939 so với 3 năm khôi phục kinh tế ta thấy diện tích gieo cấy, sản
lượng cây lương thực nói chung và lúa nói riêng là như sau:
Năm 1939 1955 1956 1957
Diện tích gieo cấy cây lương thực(1000 ha) 2.008,7 2.567,7 2.792 2.544,8
Sản lượng cây lương thực ( 1000 tấn) 2.713 4.418,1 5.629,1 4.892,6
Diện tích gieo cấy lúa (1000 ha) 1.840,5 2.176,4 2.284,2 2.191,8
Sản lượng lúa ( 1000 tấn) 2.407 3.523,4 4.135,6 3.948,0
(Nguồn: kinh tế Việt Nam 1954-1960, NXB sự thật, Hà nội,1960 tr151)
20
Như vậy là chỉ vài năm sau khi hoà bình lập lai, diện tích gieo cấy cây lương
thực năm 1957 đã vượt năm 1939 hơn 23%, riêng lúa vượt 19%; về sản lượng cây
lương thục nói chung, nếu lấy năm 1939 là 100 thì năm 1957 chỉ số đó lên tới
164%, nếu tính mức năng suất thì năm 1957 lên tới 138,1% so với năm 1939. Năm
1957 so với năm 1955 giá trị sản lượng lúa tăng 12,9% .Bình quân lương thực kể cả
hao mầu quy thóc năm 1939 là 232,2 kg, thì năm 1957 đạt được 329 kg. Đó là
những thành tựu rất quan trọng trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp. Thắng
lợi về sản xuất lương thực trong thời kỳ hàn gắn những vết thương nặng nề của
chiến tranh chứng tỏ rằng chúng ta có khả năng giải quyết vững chắc vấn đề lương
thực ở miền Bắc, và trên thực tế, chúng ta đã sản xuất được tương đối đủ lương
thực.
Sang năm 1958, khi phong trào hợp tác hoá đã chuyển sang giai đoạn mới,
Trung ương lại chỉ thị nhấn mạnh rằng phải gắn liền việc cải tiến kỹ thuật, đẩy
mạnh sản xuất với phong trào hợp tác hoá, đồng thời vẫn đặt vấn đề lương thực lên
hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp. Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ 14
tháng 11/1958 nhấn mạnh: “song song với việc phát triển và củng cố tổ đổi công,
hợp tác xã, phải đẩy mạnh sản xuất lương thực…phải đưa tốc độ phát triển lương
thực tăng nhanh hơn nhu cầu, thoả mãn nhu cầu chung về lương thực của nhân dân,
tăng thêm dự trữ của nhân dân và nhà nước, tăng thêm xuất khẩu”. Do đó vụ mùa
năm 1958 đã đạt mức thu hoạch chưa từng có là 3.353.000 tấn thóc và mặc dù vụ
chiêm mất mùa nặng nhưng số thu hoạch cả năm 1958 về lúa vẫn đạt trên
tấn thóc. Riêng số này đã bằng 76% tổng số thóc miền Nam sản xuất trong năm
1959 (thời Pháp thuộc hàng năm miền Bắc sản xuất kém miền Nam 1.893.000 tấn
thóc). Như vậy là năng suất lúa ở miền Nam cũng chỉ ở mức 12 tạ không nhích lên
được và thu hoạch bình quân tính theo đầu người chỉ có 234kg/ năm.
Chuyển biến rõ rệt nhất trong sản xuất lương thực từ 1955-1960 là màu tăng
mạnh cả về số lượng và chất lượng. Điều đáng chú ý là tỷ trọng hoa mầu trong tổng
sản lượng lương thực tăng khá. Năm 1939 chỉ chiếm 11,8%, năm 1957 lên 13,9%.
Tỷ trọng này còn tiếp tục tăng trong những năm sau đó. Tỷ trọng hoa mầu tăng đã
làm thay đổi cơ cấu trong sản xuất lương thực, bảo đảm lương thực cho người và
bước đầu có thêm thức ăn nuôi gia súc. Những thành tích ở miền Bắc nước ta về
22
sản xuất lương thực nói trên thật to lớn. Nhưng với mức sản xuất lương thực đó,
vấn đề lương thực của chúng ta vẫn chưa được giải quyết một cách căn bản và
vững chắc. Sản xuất lương thực còn cần phải đẩy mạnh lên nữa. Căn cứ vào khả
năng của chúng ta, năm 1960 có thể đẩy sản lượng lúa lên cao hơn nữa và dự tính
chỉ khi nào sản lượng lúa của miền Bắc đạt tới khoảng 9, 10 triệu tấn một năm mới
có thể nói vấn đề lương thực của chúng ta căn bản mới được giải quyết và sản suất
nông nghiệp mới có những chuyển biến nhanh chóng và to lớn trong việc phát triển
toàn diện, nhất là trong phạm vi trồng cây công nghiệp và chăn nuôi. Trên cơ sở
thắng lợi to lớn về giải quyết vấn đề lương thực, cơ cấu nông nghiệp đang chuyển
biến theo hướng toàn diện và tương đối cân đối.
Vấn đề cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi.
Đây là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo cho nông nghiệp phát triển toàn diện.
Giữa trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ hữu cơ. Lương thực là điều kiện để
đẩy mạnh chăn nuôi: có giải quyết được vấn đề lương thực thì mới có thể cung cấp
đủ thức ăn cho gia súc và dành một phần đất dùng để trồng hoa mầu, rau cỏ làm
thức ăn nuôi gia súc. Chăn nuôi là nguồn chủ yếu cung cấp sức kéo và phân bón
cho trồng trọt.
Dưới thời thực dân và phong kiến, miền Bắc thiếu lương thực nghiêm trọng,
do đó chăn nuôi không phát triển được, mặc dù có nhiều điều kiện thiên nhiên để
nhau, nhất là các cây đặc sản của vùng nhiệt đới. Nghị quyết hội nghị Trung ương
lần thứ 14 viết: “ Nước ta có điều kiện khí hậu rất thích hợp để phát triển nhiều loại
cây công nghiệp rất cần cho việc phát triển công nghiệp trong nước và có nhiều khả
năng xuất khẩu, trước hết là trao đổi với các nước anh em”.
Do đó bên cạnh việc lấy sản xuất lương thực làm trung tâm, chú trọng đến
chăn nuôi thì việc trồng cây công nghiệp và cây ăn quả cũng được chú ý phát triển:
“theo phương châm toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, giải quyết tốt vân đề lương
8
24
thực là trọng tâm đồng thời hết sức coi trọng cây công nghiệp, đẩy mạnh chăn
nuôi…”
8
.
Dưới thời Pháp thuộc, vì phải xoay vào việc độc canh về lúa để có lương
thực ăn, nên diện tích trồng cây công nghiệp rất thấp. Sau khi hoà bình lập lại,
chúng ta ra sức phấn đấu giải quyết vấn đề lương thực là trọng tâm, đồng thời tích
cực đẩy mạnh trồng cây công nghiệp để làm cơ sở cho việc phát triển một nền nông
nghiệp toàn diện. Việc trồng cây công nghiệp và cây ăn quả đã phát triển tương đối
nhanh và bắt đầu tập trung thành một số vùng nhằm bước đầu thực hiện chuyên
môn hoá sản xuất, nâng cao sản xuất. Một số cây quan trọng như: mía, thuốc lá,
chè, lạc, đay, gai, cói, dâu tằm,…đã bắt đầu phát triển tình hình đó đã góp phần vào
việc xoá dần tính chất độc canh của nền nông nghiệp nước ta. Ngoài ra chúng ta có
nhiều loại sản phẩm cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao trên thị trường quốc tế.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ cây công nghiệp là công nghiệp, là xuất
khẩu”. So sánh diện tích gieo trồng với sản lượng cây công nghiệp năm 1959 với
3 năm khôi phục kinh tế chúng ta thấy kết quả như sau:
Năm 1939 1955 1956 1957
Diện tích gieo trồng cây CN (ha) 67.000 69.100 93.600 105.400
Sản lượng cây CN (tấn) 141.338 131.786 250.553 444.148