Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sự phát triển của thơng mại Việt Nam và những điều chỉnh trong chính
sách thơng mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực
Lời nói đầu
Cách day 10 - 15 năm một hoạt động nào đó mang tính chất quốc tế, hay khu
vực diễn ra tại nớc ta đã trở thành sự kiện bất ngờ, lạ lẫm đối với ngời dân Việt Nam
thì ngày nay, qua báo chí, truyền thanh truyền hình hàng ngày chúng ta có thể thấy
các tổ chức quốc tế, khu vực, các hoạt động văn hoá thể thao, chính trị, đặc biệt là
kinh tế diễn ra tại Việt Nam.
Chính trị ngoại giao có sự kiện: Tổng thống Mỹ Biclintơn và gia đình đến Việt
Nam vào tháng 4 - 2001 (bây giờ là cựu tổng thống).
Văn hoá thể thao có: Liên hoan quốc tế tại Việt Nam, thể thao Việt Nam quen
thuộc với các huy chơng vàng, bạc ngang tầm với khu vực quốc tế. năm 2002
Seagame 22 diễn ra tại nớc ta...
Nổi bật nhất là kinh tế: Các Hội nghị khu vực, quốc tế tại Việt Nam, đó là hội
nghị EMM - 3 và ASM - 33, Việt Nam là thành viên của ASEAN, Hiệp định Thơng
mại Việt - Mỹ ký kết...
Đồng thời nhìn ra thế giới ta cũng có thể thấy các quốc gia ngày càng gần nhau
hơn: ta có ASEAN 10 thành viên đầy đủ, các quốc gia Châu Âu hình thành đồng tiền
chung ERO. Trung Quốc gia nhập WTO,... toàn cầu hoá hay hội nhập quốc tế không
còn xa lạ với chúng ta nữa. Và hơn bao giờ hết, bài toán hội nhập kinh tế quốc tế đã
làm đau đầu không chỉ Chính phủ mà đối với mỗi một doanh nghiệp, mỗi một chủ
thể tham gia vào nền kinh tế nớc ta. Chúng ta không thể không hội nhập kinh tế quốc
tế nhng chung ta hội nhập nh thế nào, chúng ta đang có những thuận lợi và phải khắc
phục khó khăn nào để hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế.
Đảng và Nhà nớc ta đã và đang từng bớc đề ra phù hợp đúng đắn cho vấn đề hội
nhập kinh tế quốc tế.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năm 1997 Luật Đầu t nớc ngoài ra đời cũng thể hiển chủ trơng của Đảng đợc
của cuộc cách mạng công nghệ; tầm quan trọng của sự đổi thay trong các hệ thống
quản lý các tập đoàn Công ty lớn, hay trong hệ thống tổ chức công nghệ hoá là cơ sở
cho sức cạnh tranh của các nớc, các Công ty; sự đa dạng hoá ngày càng tăng giữa các
nớc phát triển, nạn đói nghèo và nguy cơ một tỷ lệ lớn dân số trên trái đất bị loại trừ;
những vấn đề nghiêm trọng về nạn thất nghiệp và những khác biệt về tiền lơng về
mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ở những nớc phát triển nhất, sự thay đổi của
vai trò Chính phủ....
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vợt khỏi các đờng biên giới quốc gia tới quy
mô quốc tế, của các luồng giao lu hàng hoá, dịch vụ thơng mại, đầu t, tài chính, công
nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trờng thống nhất trên phạm vi toàn
cầu và khu vực, cũng nh sự hình thành và phát triển các định chế và các cơ chế điều
tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế.
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và phát triển,
mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có ngời cho rằng những tiền đề này đã có
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa t bản, trên cơ sở quá trình xã hội hoá của lực lợng
sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải khẳng định lại rằng toàn cầu hoá là
một quá trình. Hơn nữa, đây là một xu thế khách quan là quy luật tất yếu trong sự
phát triển của xã hội loài ngời. Khẳng định trên dựa vào những căn cứ, cơ sở thực tế
sau:
1.2. Tất yếu của toàn cầu hoá:
Một là, một nền chủ nghĩa toàn cầu đang xuất hiện.
Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lần thứ I: từ thế kỷ XVIII,
lần thứ II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây. Những
tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc cách mạng này đã làm giảm
chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống
vài trăm lần; đã có tác động cực kỳ quá trình đến toàn bộ quan hệ kinh tế quốc tế, đã
toàn cầu đã vợt xa con số 1500 tỷ USD. Trong đó, ta thấy rằng, thơng mại điện tử
xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt.
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy đã ngày
càng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia. Các quốc gia các khu vực,
xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế. mang bản chất chính trị nhiều
hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết kinh tế giữa Mỹ - Tây Âu - Nhật và
Hội đồng tơng trợ kinh tế SEV giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay lại
hình thành nên các tổ chức nh APEC, AFTA, NAFTA,... Đặc biệt quá trình quốc tế
hoá về tài chính đẩy mạnh nhanh chóng: hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF),
Ngân hàng thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên
với đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra đời
các cam kết này đã, đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tờng thành quốc gia,
rào cản quốc gia. Các nớc thành viên của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cũng đã
cam kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối với Mỹ, trong xu thế toàn cầu
hoá hiện nay gây sức ép thơng mại đối với các nớc có vẻ nh đã mất hiệu lực, với dấu
hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN) đối với Trung Quốc.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên bức xúc
và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó khăn gì để có thể
nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu. Môi trờng ngày càng bị
phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt; dân số thế giới tăng nhanh đến
mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng vốn toàn cầu vận động tự do không có sự
điều tiết là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc khủng hoàng liên tiếp Châu Âu,
Châu Mỹ, Châu á trong thời gian vừa qua; chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với
nó là kết thúc sự đối đầu giữa các siêu cờng, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát
triển mới...
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu hoá kinh tế
với những đặc trng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế và phi thuế quan
đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa phơng và toàn cầu, tức là
Nam có nhiều chi nhánh ở nớc ngoài. Đây là dấu hiệu của khả năng cạnh tranh lành
mạnh của hàng hoá, dịch vụ nớc ta. Bên cạnh đó, thị trờng Việt Nam đã đang và sẽ
xuất hiện ngày càng nhiều hàng hoá mang nhãn hiệu của các nớc khu vực và thế giới,
đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải cạnh tranh với những u thế của ngời bạn
láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ, mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng và với cả tâm lý
"thích dùng đồ ngoại" của ngời dân nớc ta. Với những khó khăn đang phải đối mặt
liệu các doanh nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến. Có thể
nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát triển và chậm phát
triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng pháp quản lý tiên tiến từ
các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho các nớc nhận rút ngắn khoảng
cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai đoạn từ nghiên cứu cho đến khi triển
khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho các nớc đang phát triển có điều kiện đi tắt,
đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng cũng chính dòng chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phơng
pháp quản lý tiên tiến này tạo ra một thế lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc
gia trì trệ, kém hiệu quả. Trong một giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhân đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc vào tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề cho xã hội Chính phủ cần giải quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên kết kinh tế
cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan. Đây là điều kiện
quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong kinh tế trong
các quan hệ mua bán và giao lu quốc tế. Không những thế các nớc chậm phát triển đ-
ợc hởng u đãi đặc biệt, chế độ tối huệ quốc, đợc cung cấp thông tin tự do mậu dịch,
liên minh thuế quan, đợc bảo đảm các quyền thông qua các tổ chức quám sát, giám
định quốc tế. Chính vì vậy, các nớc chậm phát triển có điều kiện cải thiện quốc tế hoá
không, liệu các chính sách tài chính có bắt kịp yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc
khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga, trong những năm 1997 - 1998 vẫn còn là
những bài học sâu sắc cảnh báo cho các nớc có tình hình tơng tự.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung căn bản của toàn cầu hoá, nội dung
thứ hai là tự do hoá kinh tế. Nh vậy, nên hiểu toàn cầu hoá là một quá trình quốc tế
kinh tế bao gồm hai quá trình phát triển song song (đã nêu trên tự do hoá kinh tế và
hội nhập kinh tế quốc tế) thì toàn cầu hoá có nghĩa là các quan hệ kinh tế không
những đợc tự do phát triển trên phạm vi toàn cầu mà còn phải tuân theo những cam
kết toàn cầu đa dạng. Do đó Đảng và Nhà nớc ta đã xác định t tởng đúng đắn cho nền
kinh tế nớc ta. Chủ động hội nhập, chỉ có chủ động hội nhập thì nớc ta mới giữ gìn đ-
ợc bản sắc dân tộc trong tốc độ toàn cầu hoá hiện nay. Chỉ có chủ động hội nhập mới
đón bắt đợc những nguy cơ tiềm ẩn và giành lấy những cơ hội quý báo để phát triển
kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu đa dạng, phong phú. Chỉ có chủ động hội nhập,
Đảng và Nhà nớc mới có đợc những quyết định sáng suốt trong quá trình toàn cầu
hoá kinh tế gắn liền với toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, xã hội.
Khi nghiên cứu cuộc khủng hoàn kinh tế Thái Lan năm 1997, các nhà kinh tế
học cho rằng: toàn cầu hoá tự bản thân nó không là nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng mà chính là cái cách thức ngời ta điều hành quá trình của cuộc khủng hoảng
toàn cầu hoá. Tham gia vào một nền kinh tế thế giới rộng lớn hơn có thể là một sự trợ
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giúp cho nền kinh tế trong nớc phát triển song chắc chắn rằng: thành công hay thất
bại của các nớc chủ yếu dựa vào công nhân của nớc đó dựa bào các chính sách và đầu
t của Chính phủ. Các nhà kinh tế học cũng đã khẳng định: các nớc mà hiện nay đang
vấp phải vô vàn khó khăn trong quá trình hội nhập thì không phải là họ không biết
lợi dụng hiện tợng toàn cầu hoá mà bởi vì họ đã không thể trang bị cho mình một
cách kịp thời những thể chế và những cán bộ điều hành cần thiết để làm chủ quá trình
hội nhập toàn cầu. Lấy Thái Lan làm ví dụ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
sụp đổ nền kinh tế năm 1997 là do Thái Lan đã không làm chủ đợc dòng vốn từ nớc
ngoài. Từ những năm 1990 Thái Lan đã dỡ bỏ hết mọi hàng rào kiểm soát ngặt nghèo
sự dịch chuyển t bản qua biên giới, do đó dòng chảy t bản đã ào ạt vào Thái Lan dới
hình thức đầu t ngắn hạn, và sau đó lại rút ra hết sức nhanh chóng gây nên sự rối loạn
thị trờng tài chính. Do đó các nhà kinh tế đã đa ra các biện pháp chủ yếu để cần thiết,
ta có thể định lợng cao thấp, cam kết hạ dần hàng rào và quan trọng là có thể kiểm
soát việc thực hiện cam kết. Mức thuế suất đối với hàng nhập khẩu từ các nớc công
nghiệp sẽ giảm từ 6,3% xuống 3,9%. Đối với mức giảm thuế quan các thành viên
WTO (tức là GATT) cam kết thực hiện tự do hoá thơng mại và dịch vụ, chống bán
phá giá, đảm bảo quyền sở hữu trí tựu...
Thứ hai là công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các chủ thể và cá
nhân trong và ngoài nớc trên lãnh thổ của mình.
Lấy Mỹ và Việt Nam làm ví dụ. Nguyên tắc này cho phép các Công ty Việt
Nam sang Mỹ kinh doanh xuất nhập khẩu và ngợc lại với tất cả mọi quyền nh Công
ty của nớc sở tại, có nghĩa là sẽ thiết lập một môi trờng kinh doanh bình đẳng ở mọi
quốc gia, tạo ra một thế giới tơng đối thống nhất với các chsủ thể kinh doanh và
quyền hoạt động toàn cầu. Đây là con đờng phát triển bởi áp lực cạnh tranh sẽ tăng
lên, động lực phát triển sẽ tăng cờng. Bởi vì sự xuất hiện của các Công ty nớc ngoài
hùng mạnh vào hoạt động thì buộc các Công ty trong nớc phải vơn mình để tồn taị
và phát triển.
Về thơng mại dịch vụ:
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hiệp định dịch vụ của WTO quy định các nớc mở cửa thị trờng dịch vụ cho
nhau theo 4 phơng thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của nớc thành
viên này sang lãnh thổ thành viên khác. (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ. (3) hiện diện th-
ơng mại của Công ty một nớc thành viên lãnh thổ một thành viên khác với các hình
thức lập liên doanh, chi nhánh, Công ty 100% vốn đầu t nớc ngoài. (4) hiện diện chủ
nhân, di chuyển t nhân. WTO cũng đã quy định: khi đàm phán mở cửa thị trờng dịch
vụ, các nớc phát triển theo phơng pháp loại trừ tức là không chấp nhận dịch vụ nào thì
đa ra đàm phán, còn các nớc đang phát triển đợc quyền chỉ đa ra đàm phán lĩnh vực
nào đợc chọn mở cửa.
Về đầu t, WTO cha có đợc một hiệp định chung mà mới chỉ có một số quy
đọnh về đầu t có liên quan đến thơng mại.
WTO cũng đã có những quy định trong các lĩnh vực khác.
phải đối diện với các vấn đề mang tính toàn cầu, những khối kinh tế hùng mạnh.
2 - Các khối kinh tế khu vực.
Hiện nay, trên thế giới có thể kể đến hàng chục khối kinh tế khu vực khác nhau,
nhng hoạt động nổi bật hơn cả là: EU (Liên minh Châu Âu) NAFTA (Khối kinh tế
Bắc Mỹ), AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), APEC (Diễn đãn kinh tế Châu á -
Thái Bình Dơng).... Tuy nhiên mức độ hợp tác của các khối kinh tế này khác nhau.
Có khi chỉ dừng lại ở mức độ thỏa thuận buôn bán, có khối đã thoả thuận xoá bỏ hoàn
toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong khối, có khối đã lập ra liên minh thuế
quan, tạo lập ra cả một thị trờng chung cho phép tự do thơng mại hàng hoá, dịch vụ
vốn, lao động. Nấc thang phát triển cao nhất hiện nay của các khối kinh tế là liên
minh kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU) bắt đầu hoạt động từ năm 1992 với các chính
sách: tiền tệ, tài chính, thơng mại công nghệ, an ninh chung, quốc hội, toà án, đồng
tiền chung...
Việc ra đời các khối kinh tế có tác động quan trọng, thúc đẩy tự do hoá thơng
mại đầu ra, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trờng các quốc gia, tạo lập ra những khu
vực thị trờng rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiên tiến...
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3 - Những tổ chức kinh tế toàn cầu:
Thứ nhất là các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ kinh tế toàn
cầu hiện có: Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân
hàng thế giới (WB), một số tổ chức kinh tế của Liên hiệp quốc: VNDP, G8 (G7 Nga),
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế DECD... Hoạt động nổi bật nhất hiện nay vẫn là
WTO, IMF, WB. Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có những cam kết quốc tế về thơng
mại hàng hoá là tơng đối có hiệu lực, còn các lĩnh vực chính sách tiền tệ, đầu t chu
chuyển vốn, bảo vệ, tiêu chuẩn về lao động và di chuyển lao động quốc tế, chống
tham nhũng.... vẫn cần có luật lệ toàn cầu hữu hiệu hơn. Ngay cả hoạt động của IMF
và WB cũng chỉ kiểm soát một phần dòng vốn, tiền tệ chính thức của Nhà nớc, còn
việc buôn bán tiền tệ, và dòng vốn t nhân vẫn vận động ngoài vòng kiểm soát. Do đó
việc cải tổ thích hợp những tổ chức này là điều cần thiết trong thời gian tới.
với 1,3 tỷ dân. và chắc chắn cơ hội mở rộng thị trờng ra khu vực từng bớc thế giới vẫn
cha dừng ở đó.
Hai là, song song với việc xâm nhập thị trờng quốc tế, Việt Nam đã tăng khả
năng thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài. Kể từ khi có luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
đợc chính thức ban hành đầu năm 1988 và từng bớc đợc điều chỉnh đến cuối năm
2000 đã có trên 700 Công ty thuộc 62 nớc và vùng lãnh thổ đầu t trực tiếp vào nớc tă
với hơn 3.000 dự án, có tổng số vốn đăng ký trên 36 tỷ USD trong đó vốn đã thực
hiện 17 tỷ USD.
Mặc dù do khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực và sự chậm đổi mới
trong chính sách kinh tế, song sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài vẫn có xu hớng gia tăng những năm gần đây, cụ thể là tỷ trọng của khu vực này
trong GDP tăng lên, 6,3% năm 1995; 7,4% năm 1996; 9,1% năm 1997; 9,8% năm
1998; 10% năm 1999; trên 10% năm 2000 và đến hết ngày 30/10/2001 cả nớc thêm
1,9 tỷ USD vốn đầu t nớc ngoài tăng 200% về vốn so với cùng kỳ năm 2000. Bên
cạnh đó, ngoài thúc đẩy tăng trởng kinh tế, các dự án có vốn đầu t nớc ngoài tạo ra
khoảng 35 việc làm trực tiếp và hàng chục vạn việc làm gián tiếp.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hiện nay Việt Nam đợc đánh giá là đặc điểm an toàn nhất khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng. Đây có phải là cơ hội cho dòng chảy vốn đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam tăng lên?
Ba là, không chỉ các dòng vốn trực tiếp, nhiều tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
mới đợc đa vào nớc ta. Trong những dự án liên doanh hoặc 100% vốn nớc ngoài
thuộc các ngành bu chính viễn thông, dầu khí, điện, điện tử, dệt may, da giày... các
công nghệ đợc chuyển giao là tơng đối hiện đại. Mặc dù vẫn có những công nghệ
trung bình không còn phù hợp với các nớc Mỹ, Nhật... nhng vẫn có hiệu quả ở nớc ta
trong một số ngành sự khác do yêu cầu sử dụng lao động của các công nghệ đó cao,
có khả năng tạo thêm nhiều việc làm mới.
Quả thực thu hút vốn đầu t trực tiếp đồng thời tiếp nhận chuyển giao công nghệ
và sử dụng nó có hiệu quả là con đờng thích hợp với trình độ Việt Nam hiện nay hơn