MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM ĐẾN
HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NGƯ NGHIỆP SANG THỊ
TRƯỜNG HOA KỲ 2
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM NGƯ
NGHIỆP Ở VIỆT NAM 24
2.1. Giải pháp cho các hạn chế còn tồn tại 24
2.2.Phương hướng thúc đẩy xuất khẩu trong tương lai 24
2.1.2. Giải pháp từ phía hiệp hội 26
2.2 Phương hướng phát triển xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam 28
LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được nối lại vào đầu
những năm 1990 thì quan hệ giữa hai nước đã tiến triển rất tích cực, khi tổng thống
Mỹ Bill Clinton tuyên bố rộng rãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế vào tháng 2/1998 thì mối
quan hệ giữa hai nước mới thực sự phát triển.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ không chỉ có tác dụng quan hệ giữa hai
nước mà còn mở rộng quan hệ Việt Nam với nhiều nước khác. Khi hiệp định thương
mại có hiệu lực thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng
một cách đáng kể. Trong đó có ngành xuất khẩu thủy sản đóng một phần không nhỏ
trong việc phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản sang thị
trường Hoa Kỳ vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức vì thị trường Hoa Kỳ ngoài áp
dụng chính sách thuế quan mà còn áp dụng các chính sách phi thuế quan rất tinh vi
nhằm hạn chế xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Vì vậy nhóm em đã lựa chọn đề tài:
“Đề tài: Phân tích tác động của các chính sách thương mại đến hiệu quả phát triển
thị trường xuất khẩu sản phẩm ngư nghiệp của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ”.
Chúng em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hoàng Việt đã tận tình hướng dẫn
chúng em hoàn thành đề tài này, và các phương tiện truyền thông đã tạo điều kiện giúp
chúng em thu thập số liệu liên quan tới đề tài một cách chính xác nhất. Bài thảo luận
của chúng em vẫn còn một số thiếu sót, em hy vọng được nhận thêm những ý kiến từ
thầy (cô) và các bạn.
lớn hàng ngư nghiệp được chế biến theo nhiều hình thức khác nhau. Chỉ tính riêng
năm 1999 nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ lên tới con số kỷ lục là 9,3 tỷ USD. Vào
được thị trường Hoa Kỳ tức là hàng hóa uy tín chất lượng cao, bởi vì phải đảm bảo vệ
sinh an toan thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Nhìn chung Hoa Kỳ là một thị trường
tiêu thụ rộng lớn và giàu tiềm năng. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng là một thị trường khá
khắt khé. Thị trường luôn mở rộng do nhu cầu tiêu dùng cao, nhưng một sản phẩm
phải đạt tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng, độ an toàn thực phẩm và hàm lượng chất
dinh dưỡng thì mới đủ khả năng xuất hiện và cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ. Nếu
2
không có đủ tất cả các yêu cầu trên thì sản phẩm sẽ bị người tiêu dùng Hoa Kỳ tẩy
chay, khả năng tồn tại và phát triển sản phẩm đó rất khó khăn. Đó là đối với người tiêu
dùng, còn đối với Chính phủ Hoa Kỳ cũng có rất nhiều quy định đặt ra cho các sản
phẩm htuyr sản nhập khẩu. Khi đưa sản phẩm thủy sản vào thị trường Hoa Kỳ, chúng
ta phải quan tâm và hiểu được hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. Hệ thống này khá phức tạp,
chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam, vì vậy phải tìm hiểu rõ các luật
mà Hoa Kỳ đưa ra để tránh phải gánh chịu những thiệt thòi trong kinh doanh. Có thể
đơn cử một số luậ như sau:
- Luật chống độc quyền đư ra các chế tài hình sự khá nặng đối với những hành vi
độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh, cụ thể phạt tiền đến 1
triệu USD, đối với các công ty 100000 USD hoặc 3 năm tù với cá nhân
- Luật về trách nhiệm sản phẩm, theo đó người tiêu dùng bị thiệt hại có thể kiện nhà
sản xuất về mức bồi thường thiệt hại quy định gấp nhiều lần thực tế.
- Luật liên bang và các tiểu bang của Hoa Kỳ được áp dụng trong lĩnh vực thuế kinh
doanh đòi hỏi ngoài việc nắm vữ luật của tiểu bang mà các doanh nghiệp có quan hệ
kinh doanh còn phải nắm vững luật của Liên bang nữa.
Vì vậy có thể nói sự phù hợp cao giữa việc xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam
với yêu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ. Thị trường Hoa Kỳ luôn là thị trường khó tính của
thế giới. Hàng ngư nghiệp nhập khẩu và Hoa Kỳ phải qua kiểm tra chặt chẽ của cục
quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) theo tiêu chuẩn HACCP. Vấn đề vệ
sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường, bảo vệ sinh thái… là những lý do Hoa Kỳ đưa ra
Nhà nước có chính sách đồng bộ về đầu tư, đào tạo nghề, xây dựng hệ thống thông
tin liên lạc, điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường, dịch vụ hậu cần khuyến khích tổ
chức cá nhân phát triển khai thác thuỷ sản xa bê. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào hoạt
động khai thác thủy sản xa bờ được áp dụng theo luật khuyến khích đầu tư và ảnh
hưởng các chính sách ưu đãi khác của nhà nước.
• Về nuôi trồng thuỷ sản
Được cơ quan chuyên ngành phổ biến đào tạo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật mới
về nuôi trồng thuỷ sản, thông báo về tình hình môi trường dịch bệnh, thông tin về thị
trường thuỷ sản.
Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập
trung theo qui hoạch kế hoạch phát triển ngành thủy sản.
Nhà nước có chính sách khuyến khích nghiên cứu giống thủy sản quý hiếm, tạo
giống thủy sản quốc gia quản lí công tác xuất nhập khẩu giống thuỷ sản.
• Các hoạt động dịch vụ thuỷ sản
Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển tàu cá phù hợp với chiến
lược khai thác thủy sản xa bờ. Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của cảng cá,
khu neo đậu của tàu cá, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của bến cá, chợ thủy sản
và quản lí kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ngay tại các chợ đầu mối. Những sự hỗ
4
trợ này góp phần tăng thêm tiềm lực cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam tăng
xuất khẩu vào thị trường Mỹ
b.Mô hình chiến lược
Chiến lược 1:
Phát huy tiềm năng thuỷ sản tận dụng những ưu đãi của chính phủ Việt Nam để
khắc phục điểm yếu về nguyên liệu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng
nguyên liệu đầu vào đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm thuỷ sản của Mỹ.
• Các giải pháp tăng cường đầu tư và nâng cao năng lực quản lí việc đánh bắt cá xa
bờ và nuôi trồng thuỷ sản. Trước tình hình nguồn tài nguyên ven bờ đã cạn kiệt do
khai thác quá công suất trong thời gian qua thì việc tăng sản lượng khai thác đánh bắt
xa bờ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề nguyên liệu cho chế biến thuỷ
quan hành chính, các doanh nghiệp, cán bộ nghiên cứu cung cấp nguồn nhân lực để
nâng cao năng lực chế biến.
• Ngoài ra cần thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư phát triển
thuỷ sản, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực này.
• Đẩy mạnh vai trò của công tác khoa học công nghệ
- Nâng cấp các cơ sở nghiên cứu đào tạo với trang thiết bị hiện đại, đủ năng lực
nghiên cứu, giải quyết những vấn đề về công nghệ, về quản lí nguồn lợi, quản lí môi
trường và an toàn vệ sinh.
- Đẩy nhanh việc nghiên cứu và hướng dẫn áp dụng công nghệ tiên tiến nhất là công
nghệ, các tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực khai thác hải sản, nuôi trồng, chế biến, cơ
khí, dịch vụ cho thuỷ sản nhằm nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả sản xuất
kinh doanh, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.
- Lựa chọn và du nhập các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài
để rút ngắn khoảng cách về công nghệ sản xuất thuỷ sản, công nghệ nuôi và bảo vệ tái
tạo nguồn lợi thuỷ sản. Đồng thời nhanh chóng đưa các công nghệ mới này áp dụng
vào thực tiễn sản xuất.
• Hỗ trợ của chính phủ và cơ quan chức năng để nâng cao năng lực chế biến
Hỗ trợ về vốn của chính phủ là một nguồn rất quan trọng đối với tất cả các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thủy sản: doanh nghiệp khai thác, nuôi trồng và chế
biến. Cụ thể chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc ưu đãi tín dụng với các
doanh nghiệp thực hiện đổi mới quy trình công nghệ. Hoàn thiện hệ thống sản xuất
giai đoạn 2001-2005 chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước trong
đó nhiệm vụ của khoa học công nghệ trong lĩnh vực thủy sản chiếm tổng vốn đầu tư
27,82 tỷ đồng. Các biện pháp trên nhằm xây dựng ngành thủy sản Việt Nam trở thành
ngành có công nghệ cao và có nhiều sản phẩm giá trị gia tăng lớn, để có sức cạnh
tranh mạnh trên thị trường Mỹ cũng như các thị trường khác.
6
Chiến lược 3:.
• Giải pháp phòng ngừa dư lượng kháng sinh
Mối lo và nguy cơ lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp là chính sách “dư lượng bằng
Nam thì có thể nhập khẩu giống, công nghệ nuôi trồng chế biến.
Nhà nước cần hỗ trợ cho người nuôi trồng thực hiện những phương án này đồng
thời phối kết hợp giữa các doanh nghiệp kinh doanh nắm bắt nhu cầu thị trường
Mỹ với các nhà sản xuất thuỷ sản nước ta để tạo ra những sản phẩm đáp ứng tốt
nhất nhu cầu của khách hàng.
• Xây dựng thương hiệu cho hàng thuỷ sản Việt Nam
Khi các mặt hàng thuỷ sản Việt Nam như tôm, cá tra, cá basa trở thành sản phẩm
chủ lực và có thị phần đáng kể trên thị trường Mỹ thì cũng có không ít rủi ro đi kèm.
Để hạn chế rủi ro, mét trong những nhân tố quan trọng là phải tăng sức cạnh tranh của
mặt hàng trên thị trường. Mà yếu tố góp phần khẳng định chất lượng sản phẩm là
thương hiệu. Do vậy chúng ta cần phải xây dựng thương hiệu uy tín cho các mặt hàng
thuỷ sản Việt Nam.
Chiến lược5:
Dựa trên những kinh nghiệm đã đạt được về phát triển thị trường cùng với sự hỗ
trợ của Nhà nước tận dụng cơ hội từ quan hệ mở rộng hợp tác Việt_Mỹ thông qua
những cầu nối hữu hiệu và các hoạt động xúc tiến thương mại, khắc phục điểm yếu
về công tác thị trường vượt qua thách thức về sự khác biệt văn hoá kinh doanh để
tiếp cận và thâm nhập thị trường Mỹ.
Thương mại và thương vụ Việt Nam tại Mỹ cần xây dựng một chiến lược tổng thể
về thị trường giúp các doanh nghiệp định hướng sản xuất, kinh doanh và xây dựng
chiến lược xuất khẩu thuỷ sản cho riêng mình. Các doanh nghiệp sẽ biết được mặt
hàng nào nên sản xuất và với chất lượng ra sao, mức giá bán là bao nhiêu, đối thủ cạnh
tranh trên thị trường cũng như phương thức cạnh tranh của các đối thủ để xây dựng
chiến lược kinh doanh hiệu quả.
1.2. Chính sách về rào cản thuế quan trong xuất khẩu ngư nghiệp Việt Nam
1.2.1. Chính sách thương mại về thuế quan của Hoa Kỳ
Hiệp định song phương
Hiện nay khi Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực, quy chế Tối huệ
quốc (MFN) trong thương mại hàng hoá sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng thuỷ
sản Việt Nam vào thị trường đầy hấp dẫn này với sự ưu đãi về mặt thuế suất thuế nhập
kỷ lục. Để bảo vệ ngành thủy sản, chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt hạn ngạch hàng năm
cho các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Thông thường, nếu chưa có sự thỏa thuận, Hoa
Kỳ có quyền đơn phương tuyên bố hạn ngạch và tự áp dụng.
9
Có hai loại hạn ngạch, loại: Hạn ngạch tuyệt đối (absolute quota) và loại Hạn
ngạch thuế quan (tariff-rate quota). Hạn ngạch tuyệt đối là loại tính trên số lượng
cho phép nhập khẩu hàng năm. Nếu số lượng nhập đã lên đúng chỉ tiêu thì hàng nhập
phải chuyển qua kho để tái xuất đi nước khác hoặc chờ cho đến khi có hạn ngạch trở
lại. Hạn ngạch thuế quan là loại hạn ngạch dễ chịu hơn. Loại này cho phép một số
lượng nào đó hàng hoá trong một thời gian nào đó với mức thuế suất giảm (ređuce
rate). Chỗ khác biệt là hàng vượt quá chỉ tiêu sẽ không bị đẩy vào kho hay buộc phải
tái xuất đi nơi khác, hay phải nằm chờ có hạn ngạch trở lại mà vẫn có thể được nhập
với thuế suất cao hơn thuế suất trong phạm vi áp dụng hạn ngạch.
Chống bán phá giá :
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá da trơn sang Mỹ năm 1996, và đến năm 2001 thì số
lượng cá da trơn VN vào Mỹ đã lên đến hơn 9 triệu ký lô. Tuy thế con số này vẫn chỉ
bằng 1,7% tổng số loại cá này tiêu thụ tại Mỹ. Một tỷ lệ khiêm tốn nhưng cũng đủ để
ngành sản xuất nội địa tại Mỹ thấy chướng tai gai mắt. Phát súng đầu tiên được bắn ra
cuối tháng 12.2001, khi các thượng nghị sĩ Trent Lott và John Breaux, đáp ứng chiến
dịch lobby của Hiệp hội các chủ trại cá da trơn Mỹ (Catfish Farmers of America -
CFA), yêu cầu Quốc hội Mỹ thông qua một dự luật khẳng định là tên gọi catfish chỉ
dành cho loại cá Ictalurus punctatus mà thôi. Cá da trơn VN thuộc vào loại Pangasius.
Từ đó, để tiếp tục được xuất khẩu sang Mỹ, loại cá này phải mang tên là basa, hay cá
tra. Song song với việc ép đổi tên này, các nhà sản xuất Mỹ cũng tung ra tin là cá VN
nuôi trong điều kiện rất thiếu vệ sinh. Một phái đoàn của Bộ Nông nghiệp Mỹ đến tận
đồng bằng sông Cửu Long để điều tra và phủ nhận nguồn tin này. Số lượng cá từ VN
sang Mỹ, dưới tên basa, vẫn tiếp tục tăng.
Ngày 28.6.2002, CFA và một số các công ty chế biến cá da trơn tại Mỹ đệ đơn lên
DOC yêu cầu mở điều tra AD về một số mặt hàng phi-lê cá đông lạnh từ VN, với lý do
là các mặt hàng này, vì được nhập vào Mỹ dưới giá hợp lý, là mối đe doạ cho ngành
tiện cho việc nuôi cá ngọt, có loại cá rất giống cá basa.
Ngày 27.1.2003, DOC đưa ra phán quyết sơ bộ là các công ty VN bán phá giá cá
tra tại Mỹ, và ấn định các biên độ dumping từ 37.94% đến 61,88 % cho các công ty
này, tùy theo trọng lượng của mỗi công ty, và một mức chung 63,88% cho toàn VN.
Ngay hôm sau, VASEP đã phản đối và nêu lên những sai sót hay điểm bất hợp lý trong
phân tích của DOC. Nhờ vậy, tháng 3.2003, DOC đã quyết định sửa lại mức thuế AD
sẽ áp dụng cho các công ty tham gia vụ kiện (thí dụ từ 61,88% xuống 31,45% cho
Agifish, từ 53,96% xuống 38,09% cho Navisfishco) và giữ nguyên mức 63,88% cho
các công ty không tham gia.
Sau đó DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi trồng cá basa tại Việt Nam và đề
nghị Việt Nam thảo luận về thỏa thuận đình chỉ vụ và thay bằng việc áp dụng hạn
ngạch và giá đối với việc xuất khẩu mặt hàng này. Tuy thế tháng 5.2003 thì thỏa thuận
về đình chỉ vụ kiện bị đổ vỡ và ngày 17.6, khi đại diện của VASEP có mặt tại phiên
11
họp của ITC để điều trần thì DOC công bố quyết định mới, tăng trở lên lại, tuy là
không nhiều lắm, các biên độ dumping cho hầu hết các công ty, tiếp tục duy trì tình
trạng khẩn cấp đối với công ty Nam Việt và đưa thêm 5 công ty vào trường hợp này.
Bước diễn tiến mới này rất bất lợi, và theo luật sư Lê Công Định, của văn phòng
White & Case bào cãi cho VN, kết luận mới của DOC là một cú sốc đối với tất cả các
thành viên trong đoàn Việt Nam tham dự phiên điều trần trước ITC và đặc biệt là các
doanh nghiệp thủy sản đang làm ăn với Mỹ.
Sau phán quyết cuối cùng này của DOC, kết quả của vụ kiện chỉ còn tuỳ thuộc vào
phán quyết của ITC về vấn đề tổn hại, dựa trên ý kiến của DOC và phần trình bày của
hai bên (VASEP và CFA). Ngày 24.7.2003, ITC đưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng
định các doanh nghiệp VN đã bán với giá thấp hơn giá thành và gây tổn hại cho ngành
sản xuất của Mỹ, và ấn định mức thuế suất bán phá giá từ 36,84 đến 63,88%.
Sự thất bại này tuy thế cũng có mặt tốt. Có thể nói là trong lần đụng độ đầu tiên
này, VN đã tiếp cận vấn đề một cách tích cực và cố gắng giới hạn được phần nào sự
tổn thất, dẫu chưa khai thác được đúng mức các yếu tố thuận lợi và còn non kém trong
phong cách lý luận khi ra điều trần trước DOC và ITC. Nhưng đây cũng là cái giá của
đường nhiều chông gai. Một nước nghèo và nhỏ như Việt Nam hơn ai hết cần được
bảo vệ bởi những cơ chế và luật lệ qui định sự đàng hoàng trong các quan hệ thương
mại, một sân chơi bình đẳng ít ra là về nguyên tắc nếu chưa hoàn toàn có trong thực tế.
Khung pháp lý của hệ thống thương mại đa phương, tuy còn nhiều khuyết điểm và vẫn
thường xuyên được cải tổ, ngày càng đóng vai trò ấy.
1.2.2.Chính sách thương mại về rào cản kỹ thuật, môi trường và bảo hộ của Hoa Kỳ.
a. Rào cản kỹ thuật đối với thương mại về sản phẩm ngư nghiệp
Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam, trong đó thủy
sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Tuy nhiên,
những mặt hàng thủy sản có lợi thế của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng chính
là những mặt hàng mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước
trong ASEAN có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Đây cũng
là thị trường có những chính sách quản lý phức tạp nhất. Mặt hàng thủy sản của Việt
Nam cũng gặp phải nhiều rào cản khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ do chưa đáp ứng
yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe của Hoa
Kỳ.
- Rào cản của Hoa Kỳ đối với thủy sản nhập khẩu
• Quy định của Hoa Kỳ về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tiêu chuẩn HACCP ( Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và điểm kiểm soát tới
hạn ) nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phân
tích mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn.
Doanh nghiệp muốn xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ phải gửi kế hoạch, chương trình
HACCP cho cục thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ ( FDA), nếu FDA kết luận là đạt
13
yêu cầu thì doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu, FDA sẽ kiểm tra từng lô hàng
nhập khẩu, nếu phát hiện lô hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ bị từ
chối nhập khẩu; sẽ bị trả về nước hoạc tiêu hủy tại chỗ, mọi chi phí phát sinh do doanh
nghiệp chịu, ngoài ra tên doanh nghiệp được đưa vào mục “cảnh báo nhanh” trên
internet. Nếu 5 lô hàng tiếp theo của doanh nghiệp bị giữ lại ở cảng nhập khẩu để kiểm
tra theo chế độ tự động đảm bảo đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, doanh nghiệp làm đơn
- Kiểm soát các nhà nhập khẩu : để truy nguyên nguồn gốc nhập khẩu và xuất trình
lên chính phủ tài liệu về đảm bảo an ninh hệ thống cung cấp. Khi có dấu hiệu vi phạm
công ty phải có trách nhiệm trước pháp luật.
- Tiền phạt : nếu nhà nhập khẩu bị phát hiện nhập các loại thực phẩm không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ bị phạt tiền lên đến 500.000 USD
- Quyền triệu hồi: trao độc quyền độc lập để ra hiệu lệnh triệu hồi các lô sản phẩm
cho FDA thay vì do nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà phân phối thực phẩm quyết
định
- Yêu cầu chứng nhận:
- Hạn chế sử dụng oxit carbon và bắt buộc ghi nhãn
b.Quy định của Hoa Kì về bảo vệ môi trường và nguồn lợi
• Luật bảo vệ động vật biển có vú qui định năm 1972 quy định cấm nhập khẩu động
vật biển có vú và sản phẩm của loại này, trừ khi phục vụ mục đích nghiên cứu khoa
học. Luật cũng cho phép bộ tài chính cấm nhập khẩu cá hoặc các sản phẩm chế biến từ
cá nếu quá trình đánh bắt dẫn đến nguy hiểm cho các loài động vật có vú ở biển mà
vượt quá tiêu chuẩn của Hoa Kì. Ngoài ra, măn 1984 có bổ sung thêm điều luật yêu
cầu các nước xuất khẩu cá ngừ sang Hoa Kì phải chứng minh có áp dụng chương trình
bảo tồn cá heo tương đương với chương trình của hoa kì
• Đạo luật năm 1973 về các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cho phép Bộ Nội
vụ Hoa Kì được quyền cấm nhập khẩu 1 số loài động vật hay họ động vật có nguy cơ
tuyệt chủng
• Luật bảo vệ độngvật hoang dã nằm trong nhóm luật bảo vệ môi trường nhằm bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, những ai vi phạm luật này sẽ bị xủ lí theo quy định
của luật pháp Hoa Kì
• Luật thực thi lệnh cấm đánh bắt cá ngoài khơi xa bằng lưới quét với quy mô lớn
• Ngoài ra luật công Mỹ 102-162 đã cấm nhập khẩu tôm từ các khu vực trên thế
giới nếu việc đánh bắt gây nguy hiểm cho loài rùa biển trừ khi nước đánh bắt được
chứng nhận đã yêu cầu tàu thuyền đã xử dụng các thiết bị xua đuổi rùa biển
c.Tiêu chuẩn SPSs đối với mặt hàng ngư nghiệp nhập khẩu
Cộng đồng quốc tế đã đề cập đến tác động của các tiêu chuẩn trong buôn bán nông sản
cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tấtcả các nước thành viên khác. Thông thường
nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương. Khi
nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì
cũng đồng nghĩa với nguyên tăc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các
nước sẽ dành cho nhau sự "đối xử ưu đãi nhất". Nguyên tắc MFN trong WTO không
có tính chất áp dụng tuyệt đối. Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền
tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành
viên khác (Trường hợp Mĩ không áp dụng MFN đối với Cuba mặc dù Cuba là thành
viên sáng lập GATT và WTO).
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National
Treatment - NT)
- Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ
nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong
nước. Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ,
16
các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân. Phạm vi áp dụng
của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau. Đối với
hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung
(general obligation), có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi
đã đóng thuế quan hoặc được đăng kí bảo vệ hợp pháp được đối xử bình đẳng như
hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy
định về mua, bán, phân phối vận chuyển . Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng
đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ
thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ (exception).
- Các nước, về nguyên tắc, không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu
và xuất khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO,
cụ thể, đó là các trường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán (Điều XII và XVIII.b);
nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước (Điều XVIII.c); bảo vệ
ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối
phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều
nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu. Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện,
Đại hội đồng GATT đã phải thành lập một nhóm công tác (Working group) để xem xét
vụ này. Nhóm công tác đã cho kết luận rằng, về mặt pháp lí việc áp dụng các mức thuế
nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng không với các quy định của GATT,
nhưng việc áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những “điều kiện cạnh
tranh công bằng” mà U ruguay có quyền "mong đợi” từ phía những nước phát triển và
đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của U ruguay. Trên cơ sở kết luận của Nhóm
công tác, Đại hội đồng GATT đã thông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên
quan "đàm phán" với U ruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan
trước đó. Vụ kiện của U ruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các
nước đang phát triển. Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay cả khi về mặt
pháp lí không vi phạm bất kì điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước
này có những hành vi trái với nguyên tắc "cạnh tranh công bằng.
1.3. Thực trạng xuất khẩu sản phẩm ngư nghiệp của Việt Nam sang Hoa Kỳ
1.3.1.Thực trạng thực hiện chính sách thuế quan của Việt Nam để thúc đẩy xuất khẩu
sản phẩm ngư nghiệp sang Hoa Kỳ
Có thể nói trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam hiện nay, Mỹ
được đánh giá là thị trường đầy triển vọng. Bắt đầu từ sau năm 2001 thi trường Mỹ đã
trở thành thị trường dẫn đầu của Việt Nam. Mỹ đã sử dụng các hiệp định, chính sách
hay các nghị quyết để tạo nên hàng rào thuế quan trực tiếp tác động đến lượng hàng
hoá xuất khẩu vào thị trường của mình. Các chính sách này đều mang lại những thuận
lợi và khó khăn riêng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và ngành thuỷ sản
Việt Nam nói chung. Điều này buộc các doanh nghiệp cũng như nhà nước phải thực
hiện các biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm ngư nghiệp của mình một cách
thuận lợi sang Hoa Kỳ:
- Hiệp định thương mại Việt_ Mỹ(BTA)
18
Ngày 28/11/2001 nghị quyết số 48/2001/QH1 về phê chuẩn hiệp định giữa
CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì về quan hệ thương mại đã
được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua.
bán phá giá 44,66-63,88%, bốn công ty có tham gia vào quá trình điều tra bán phá giá
gồm Agifish, Cataco, Nam Việt và Vĩnh Hoàn sẽ chịu mức thuế từ 36,84 đến 52,90%,
những công ty khác có tham gia vào vụ kiện nhưng chỉ trả lời câu hỏi trong bô câu hỏi
điều tra bán phá giá của DOC sẽ chịu mức thuế 44,66%, các đơn vị khác có tham gia
tham gia vào xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ nhưng không theo kiện sẽ chịu mức thuế là
63,88%. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt
Nam. Đây cũng là một thách thức lớn đối với hàng thủy sản Việt Nam khi xuất khẩu
sang Hoa Kỳ.
Trước tình hình này, các doanh nghiệp Việt Nam tập hợp trong VASEP (Hiệp hội
Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam) cũng đã sẵn sàng những biện pháp đối
phó, trong đó có việc ký hợp đồng với Công ty luật White & Case - Công ty Luật lớn
đứng thứ 5 ở Mỹ để tư vấn cho thành viên của hội, chuẩn bị đối phó với khả năng Mỹ
mở cuộc điều tra về việc bán phá giá đối với cá tra, cá basa nhập từ Việt Nam. Tuy
nhiên Sáng ngày 24/7/2003, sau một thủ tục bỏ phiếu chỉ kéo dài 40 giây, không một
lời giải thích, Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) đã đưa ra phán quyết cuối
20
cùng về vụ kiện cá basa. Theo đó cơ quan này đã khẳng định các doanh nghiệp Việt
Nam bán cá basa vào thị trường Mỹ thấp hơn giá thành, gây tổn hại cho ngành sản
xuất cá da trơn của Mỹ và ấn định mức thuế suất chống bán phá giá rất cao từ 36,84%
đến 63,88%. Cả 4 thành viên của ITC dự họp đều bỏ phiếu thuận theo đề nghị của Bộ
Thương mại Mỹ (DOC) và khẳng định các bằng chứng về việc cá filê đông lạnh của
Việt Nam được bán phá giá là hợp lý, bất chấp sự phản đối gay gắt từ các doanh
nghiệp thủy sản Việt Nam, của nhiều thượng nghị sỹ và báo giới Mỹ.
1.3.2.Thực trạng thực hiện chính sách thương mại để vượt rào cản kỹ thuật, môi
trường và bảo hộ sản phẩm ngư nghiệp để xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
Nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh ATTP của Hoa Kỳ, ngành thủy sản Việt
Nam ngày càng chú trọng tới việc đả bảo các tiêu chuẩn này, đặc biệt là việc kiểm soát
dư lượng kháng sinh trong sản phẩm và thực hiên tiêu chuẩn HACCP. Mặc dù vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập nhưng ngành thủy sản cũng đã đạt được những thành công nhất
định.
Trong tháng 3/2010, Cục quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực
phẩm( NAFIQAVED) và các trung tâm vùng đã tổ chức 102 lượt kiểm tra điều kiện an
toàn vệ sinh cơ sở sản xuất thủy sản theo tiêu chuẩn ngành và quy định các thị trường
có thỏa thuận song phương. Kết quả là điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
của đa số các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu TNC và quy định của các thị trường.
Tình hình kiểm soát dư lượng kháng sinh và các hóa chất độc hại
Kể từ năm 2008, Việt Nam đã thực hiện việc kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại
đối với tất cả các mặt hàng chủ lực, nuôi tập trung như tôm sú, tôm chân trắng, tôm
càng xanh, cá basa, cá tra, cá rô phi, cua… chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu kiểm tra đối
với từng đối tượng cụ thể được thực hiện theo đúng quy định của thị trường Hoa Kỳ.
Trong năm 2008, có 2 mẫu thủy sản nuôi, 2 mẫu thủy sản đại lí và 15 mẫu nước bị
phát hiện quá mức giới hạn cho phép đói với chỉ tiêu dư lượng kháng chất kháng sinh
cấm và hạn chế đã được xử lý theo đúng quy định.
Tất cả các vùng đều thực hiện chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng nhuyễn
thể 2 mảnh vỏ. Đối với các sản phẩm thủy sản có mức độ tảo độc vượt quá giới hạn
cho phép được áp dụng chế độ kiểm tra tăng cường theo quy định, các sản phẩm có
nhiễm chất độc DSP bị đình chỉ thu hoạch, lấy mẫu kiểm tra tăng cường tảo độc và
chất độc đến khi đạt tiêu chuẩn.
Chương trình kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại trong thủy sản và sản phẩm
thủy sản nuôi được thực hiện trong thắng 3/2010 đã lấy 153 mẫu thủy sản nuôi, 16
mẫu nước ương giống thủy sản, kết quả không phát hiện dư lượng hóa chất, kháng
sinh cấm và dư lượng hóa chất kháng sinh , hạn chế sử dụng vượt quá giới hạn tối đa
cho phép trong các mẫu thủy sản nuôi
Tình hình đáp ứng các quy định về bao bì, ghi nhãn mác hàng thủy sản
22
Hiện nay, tiêu chuẩn ghi nhãn sinh thái là công cụ quản lý môi trường được áp
dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, được coi là tiêu chuẩn chung về môi
trường thay cho những quy định về hàng rào thuế quan. Việt Nam đang áp dụng nhãn
sinh thái được chia làm 3 loại theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO:
- Loại 1 ( ISO 14024) là chương trình tự nguyện, dựa trên tiêu chí của bên thứ 3
dư lượng trong thủy sản nuôi trồng và chương trình giám sát vệ sinh an toàn thực
phẩm vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ được áp dụng thử nghiệm ở 1 số tỉnh
đồng bằng sông cửu long. Việt Nam đã ban hành quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi
tôm an toàn vào ngày 10/4/2006 khiến Việt Nam trở thành những quốc gia đầu tiên áp
dụng thực hành nuôi tôm tốt và quy tắc ứng xử nghề cá.
Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 01/1998/CT_TTg nghiêm cấm sử dụng
chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản. Ngoài ra , chính phủ cũng yêu cầu
thực hiện tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, xử lý nghiêm các vụ
vi phạm.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
SẢN PHẨM NGƯ NGHIỆP Ở VIỆT NAM.
2.1. Giải pháp cho các hạn chế còn tồn tại.
2.2.Phương hướng thúc đẩy xuất khẩu trong tương lai
2.2.1. Giải pháp đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Để hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ngày càng phát triển hơn nữa thì
tiên quyết đó là cần phải hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp hơn với nhu cầu và tạo
thuận lợi cho xuất khẩu thuỷ sản. Cần phải rà soát và thay đổi những quy định không
còn phù hợp với thời đại ngày nay như một số điều trong luật thuỷ sản, luật đầu tư
nước ngoài, luật khuyến khích đầu tư trong nước để tạo ra các điều kiện thông thoáng
hơn cho việc phát triển ngành thủy sản. Ngoài ra cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách các
24