PHÂN TÍCH tác ĐỘNG của CHÍNH SÁCH TIỀN tệ THỜI kỳ KHỦNG HOẢNG KINH tế ở VIỆT NAM - Pdf 95

Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
Chương I: Lý luận tổng quan về chính sách tiền tệ,các công cụ thực thi
chính sách tiền tệ và khủng hoảng kinh tế.
I.Chính sách tiền tệ (CSTT)
1.Khái niệm chính sách tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ xuất phát từ ngân hàng
trung ương. Chính sách tiền tệ được xây dựng và khởi động từ NHTW, lan ra
đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ
thống ngân hàng trung gian và các tổ chức tài chính trong nước. Chính vì thế,
vận động của NHNN về các khía cạnh tiền tệ luôn luôn nằm trong hệ thống
những ý đồ chiến lược mà ta gọi là chính sách tiền tệ. Nếu chính sách tài chính
tập trung vào thành phần, kết cấu các mức chi phí, thuế khoá của Nhà nước, thì
CSTT quốc gia lại tập trung vào việc giải quyết khả năng thanh toán cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho
lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn cho hoạt động
kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ
đạo đã định, kiểm soát hoạt động của hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng
khác, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy
kinh tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức
mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá.
Nói tóm lại, chính sách tiền tệ là tổng hoà những phương thức mà ngân
hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng
tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định.
Chính sách tiền tệ tốt được biểu hiện cụ thể trong thực tế là các dấu hiệu
tiền tệ lưu thông ở mức thoả đáng sao cho việc trao đổi được dễ dàng và tương
ứng với mức cân bằng nhất định giữa cung hàng hoá sẵn có và cầu về hàng hoá
đó, đồng thời càng tạo ra được sự cân bằng về công ăn việc làm thì càng tốt.
Nếu các dấu hiệu tiền tệ khan hiếm tới mức không cung cấp đủ cho cầu các
Trang 1
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn

Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
2.Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bất cứ chính sách nào đều có mục tiêu của nó. Vì chính sách tiền tệ là hoạt
động có ý thức của NHNN, cho nên những tác động của nó đến nền kinh tế
phải được hiểu là nằm trong hệ thống các mục đích mà NHNN cần đạt được.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ có thể quy về 2 nhóm sau: Mục tiêu tiền tệ và
mục tiêu kinh tế.
2.1. Mục tiêu tiền tệ
2.1.1.Điều hoà khối tiền tệ
Nhằm duy trì mối tương quan tiền – hàng được ổn định bằng cách giữ
nguyên, tăng hay giảm khối tiền tệ. Có một nguyên tắc tổng quát: nếu mỗi năm
kinh tế đều tăng trưởng, thì phải tăng khối tiền tệ bằng tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế. Nguyên tắc này khắc chế xu hướng ấn định khối tiền tệ cứng nhắc một lần
cho khoảng thời gian dài. Một khối tiền tệ ấn định trước một cách chặt chẽ sẽ
có tác dụng làm cho giá cả và lương bổng giảm nếu sản xuất tăng lên. Nhưng
làm như vậy sẽ tạo ra nhiều căng thẳng trong các hoạt động sản xuất, lưu thông
phân phối, làm nguy hại đến mức tăng trưởng kinh tế.
Điều hoà khối tiền tệ ngày nay có nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền và sử
dụng tiền trong hệ thống ngân hàng hai cấp. Chức năng của hệ thống ngân hàng
hai cấp là tạo tiền, điều chỉnh mức cung tiền để ổn định tiền tệ. Do việc phân
chia hệ thông ngân hàng thành hai cấp, nên có việc phân chia hai loại tiền: tiền
ngân hàng trung ương và tiền ngân hàng. Tiền trung ương là tiền do NHTW tạo
ra thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là tiền các tài khoản
thanh toán séc. Nó được tạo ra như là sự mở rộng gấp nhiều lần quỹ dự trữ
ngân hàng (thông qua hệ số tạo tiền).
Hệ thống NHTM không thể tạo tiền tín dụng từ hư không mà phải dựa vào
tiền trung ương. Mức tạo tiền tín dụng do hệ số tạo tiền hay tỷ lệ dự trữ bắt
buộc quyết định. Một đồng tiền NHTW mà NHTM huy động được tạo khả
Trang 3
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn

lưu thông bên ngoài hệ thống ngân hàng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của
NHNN. Đó cũng là lí do cần phải thu hút lượng tiền trong tay dân cư vào hệ
thống ngân hàng dưới hình thức tiền gởi không kỳ hạn và dùng séc để thanh
toán, một yếu tố cần thiết để cho việc thức hiện thi CSTT được hữu hiệu.
2.1.3.Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền bằng cách ổn định vật giá.
Giá trị quốc nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch
vụ trong nước. Sức mua của đồng tiền biến đổi ngược chiều với vật giá. Khi
mức vật giá chung gia tăng, sức mua của đồng tiền giảm. Ngược lại, khi mức
vật giá chung giảm, sức mua của đồng tiền tăng. Sức mua đồng tiền tăng khi
mức vật giá chung giảm chỉ là điều đáng mừng khi nào do năng suất chung
tăng lên. Nếu vật giá chung giảm, không do năng suất mà do mức cầu trên thị
trường giảm, thì là một biểu hiện đáng lo. Vật giá giảm, sức mua đồng tiền tuy
có tăng, nhưng đó chỉ là tăng nhất thời, vì người sản xuất có thể rơi vào tình
trạng lổ lã. Tình hình đó mà lan rộng, thất nghiệp sẽ trầm trọng, làm giảm số
cầu của thị trường, làm cho kinh tế suy thoái thêm.
Do đó chính sách tiền tệ phải nhằm đảm bảo mức vật giá chung ổn định. Sự
ổn định của vật giá là điều cần thiết để mọi người được an tâm, tin tưởng trong
việc tính toán công việc đầu tư, vì đầu tư là cuộc tính toán lâu dài. Vậy cần có
sự ổn định lâu dài mới khuyến khích sức đầu tư. Lẽ tất nhiên, một chính sách
tiền tệ có thể tác động tới sự gia tăng năng suất trong hoạt động sản xuất của
các chủ thể kinh tế vẫn là điều mong mỏi.
2.1.4.Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền.
Giá trị quốc ngoại của đồng tiền được đo lường bởi tỷ giá hối đoái thả nổi.
Một sự biến động của tỷ giá hối đoái ít hay nhiều ảnh hưởng tới hoạt động kinh
tế trong nước tuỳ theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế. Mọi biến chuyển
về tiền tệ cũng tác động đến mối tương quan giữa tiền tệ trong nước với tiền tệ
nước ngoài. Tỷ giá hối đoái chịu sự tác động mạnh của khối dự trữ ngoại hối,
thị trường và chính sách hối đoái, tình hình giá cả trong nước. Do đó, một
Trang 5
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn

hiện linh động việc gia tăng khối tiền tệ trong chính sách tiền tệ, bên cạnh đó
cần có những biện pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất và thâm dụng nhân công.
2.2.2.Giảm thiểu những thăng trầm chu chuyển kinh tế
Sự tăng trưởng kinh tế bất cứ nước nào không thể kéo dài mãi với thời gian.
Khi nền kinh tế tăng trưởng liên tục, đến một lúc nào đó, nhân công khan hiếm,
hạn chế mức gia tăng sản xuất, sự khan hiếm nguyên liệu làm nâng cao giá
thành và giá bán trên thị trường. Vào thời điểm này, nếu khối lượng tiền tệ tiếp
tục gia tăng mà không kiềm chế, cầu tăng mạnh, hậu quả tất yếu làm tăng vật
giá, sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến lạm phát từ yếu tố tiền tệ và CSTT sẽ là công cụ phát huy hiệu quả tốt nhất
trong việc kiểm soát lạm phát do nguyên nhân này. Trước tình hình này, buộc
NHNN phải sử dụng CSTT thắt chặt để giảm bớt khối tiền tệ trong lưu thông.
Tuy nhiên, nếu như quá chặt tay vô hình chung có thể dẫn đến làm giảm số
cầu, làm giảm khuynh hướng tiêu thụ của dân cư. Hoạt động kinh tế rơi vào
tình trạng ngưng trệ. Trước tình hình này, các đơn vị sản xuất hàng hoá bán
chậm lại, giảm bớt sản xuất. Không ai chịu đầu tư trong tình huống như thế:
tình trạng: suy thoái kinh tế lan rộng. Để chặn đứng đà suy thoái, NHNN sẽ
phải thi hành chính sách bành trướng khối tiền tệ, khuyến khích các ngân hàng
cho vay để nâng số cầu lên, các nhà sản xuất có một cái nhìn lạc quan trên thị
trường. Đưa nền kinh tế từ giai đoạn suy thoái sang giai đoạn phục hưng. Lúc
này, tiền được rót thêm vào guồng máy kinh tế kích thích tiêu thụ tăng mạnh
kéo theo sức gia tăng trong số lượng đầu tư. Từ đó có khả năng nền kinh tế
chuyển từ giai đoạn phục hưng sang giai đoạn tăng trưởng mạnh.
Trong mỗi giai đoạn kinh tế, chính sách tiền tệ đóng một vai trò quan trọng,
góp phần rút ngắn thời gian ngưng trệ và suy thoái kinh tế để chuyển sang giai
đoạn tăng trưởng kinh tế, nhất là làm sao duy trì một mức độ tăng trưởng với
lạm phát ở tỷ lệ chấp nhận được, có thể là tỷ lệ lạm phát một con số, hay tổng
quát hơn, một tỷ lệ lạm phát thấp với tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Trang 7
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn

gọi là dự trữ bắt buộc. NHNN ấn định tỷ lệ đó khi tăng khi giảm tuỳ theo tình
hình. Mục đích của việc bắt buộc dự trữ như vậy là để giới hạn khả năng cho
vay của NHTM, tránh trường hợp ngân hàng này ham kiếm lợi nhuận bằng
cách cho vay quá mức, có thể phương hại tới quyền lợi của người ký gởi tiền ở
ngân hàng. Hơn nữa, việc tập trung dự trữ của NHTM ở NHNN còn là một
phương tiện để ngân hàng này có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân
hàng, tạo sự lệ thuộc của NHTM đối với NHNN. Khả năng cho vay của NHTM
bị hạn chế do tỷ lệ dự trữ bắt buộc nêu trên sẽ buộc họ phải đi vay lại ở NHNN.
NHNN là người cho vay sau cùng của mọi ngân hàng và là vị cứu tinh của họ
trong những trường hợp khẩn cấp như trường hợp xảy ra tình trạng đồng loạt
rút tiền gởi của công chúng.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ khối lượng quan trọng nhất của NHNN.
Việc quy định dự trữ bắt buộc này làm tăng khả năng điều tiết của NHNN đối
với NHTM. Về nguyên tắc, khi ấn định một mức dự trữ bắt buộc ở mức thấp
NHNN muốn khuyết khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của
họ, tức là muốn bành trướng khối tiền tệ. Ngược lại, khi nâng cao mức dự trữ
bắt buộc, NHNN giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, báo hiệu
một chính sách tiền tệ “thắt chặt”
Dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính chất hành chính của NHNN nhằm
điều tiết mức cung tiền tệ của NHTM cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo
tiền(hệ số nhân tiền tín dụng) đối với lượng tín dụng của các NHTM cung ứng
cho nền kinh tế. Dự trữ bắt buộc là biện pháp kiểm soát cung ứng tiền tệ, nó có
ý nghĩa to lớn để điều hoà cung cầu trên thị trường tiền tệ, thực hiện yêu cầu
của CSTT.
3.2.Công cụ chiết khấu, tái chiết khấu.
Trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN phải sắp xếp các loại lãi suất để
đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa các loại lãi suất của NHNN với nhau và lãi
Trang 9
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
suất thị trường. NHNN ngày càng nâng cao độ nhạy cảm về hệ thống lãi suất

vay qua đêm, vì mục đích của NHNN là tính bền vững của cả hệ thống.
3.3.Chính sách lãi suất tiền vay và tiền gởi ngân hàng
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo theo
sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng
khối lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong những công
cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ. NHTW kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường
bằng cách quy định các loại lãi suất như: lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
theo từng kỳ hạn, sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khung
lãi suất giới hạn, công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch,…Dựa vào
các lãi suất ấn định NHTM áp dụng để giao dịch kinh doanh với khách hàng.
Lãi suất vừa là đối tượng quản lý, vừa là một công cụ quan trọng của CSTT.
Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp với những điều kiện, tình hình
kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, sẽ có tác dụng trực tiếp đến kiểm soát lạm
phát, kích thích tiết kiệm và đầu tư phát triển, cũng như ảnh hưởng đến những
thay đổi của tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thanh toán quốc tế.
Ngược lại, nếu sử dụng nó cứng nhắc, không phù hợp với điều kiện thực tế của
nền kinh tế, lãi suất lại trở thành vật cản kìm hãm, trói buộc nền kinh tế.
3.4.Chính sách thị trường mở
Công cụ thị trường mở phản ánh việc NHTW mua hoặc bán chứng từ có giá
trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt đến mục tiêu điều chỉnh lượng
tiền trong lưu thông. Các chứng từ có giá mà các NHTW thường sử dụng để
tiến hành nghiệp vụ thị trường mở là các chứng khoán kho bạc, bởi vì thị
trường của những chứng khoán này “rất lỏng” và có dung lượng kinh doanh
lớn.
Khi NHTW đem chứng khoán ra thị trường mở bán sẽ thu được tiền mặt và
séc về. Điều này làm cho khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông giảm, dự trữ
Trang 11
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
của các ngân hàng trung gian giảm, làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của
các ngân hàng trung gian, và như thế cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt

cho nền kinh tế.
3.6.Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa
đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng của đồng nội
tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái
có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu
đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng
hoá. Do vậy, tỷ giá hối đoái là một công cụ để NHTW thực thi chính sách tiền
tệ thông qua việc ổn định tỷ giá ở một mức độ nào đó được coi là hợp lý, phù
hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất nước trong từng giai đoạn, để tác
động chung cuộc của nó đối với kinh tế là tốt nhất.
Biện pháp chủ yếu mà các NHTW thường dùng để can thiệp vào cung – cầu
ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hối đoái. Cụ thể, khi tỷ giá
hối đoái tăng cao, NHTW tung ngoại tệ bán, làm cho khả năng cung ngoại tệ
trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, tỷ giá sẽ từ
từ giảm xuống. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, NHTW sẽ mua vào ngoại
tệ, làm cho cầu ngoại tệ tăng lên, tỷ giá hối đoái sẽ từ từ tăng lên. Ngoài ra,
NHTW còn sử dụng linh hoạt biên độ dao động tỷ giá để đưa tỷ giá về mức cân
bằng của cung – cầu mà vẫn nằm trong sự kiểm soát của NHTW.
II)Khủng hoảng kinh tế:
1.Khái niệm:
Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm
trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế.
Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết Kinh tế
chính trị của Mác-Lênin. Từ ngữ chỉ này khoảng thời gian biến chuyển rất
Trang 13
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế. Bài viết này chủ yếu về khái niệm
Khủng hoảng kinh tế của Karl Marx vốn vẫn được dùng thịnh hành trong
Kinh tế chính trị Marx. Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất

Từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay, trên thế giời đã có nhiều cuộc khủng hoảng
kinh tế xẩy ra như khủng hoảng kinh tế … Nhưng gần đây nhất là cuộc khủng
hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng Kinh tế Mỹ bắt đầu
năm 2007 là ảnh hưởng nhiều nhất đến nền kinh tế nước ta.
2.1.Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
2.1.1.Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà
kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị
đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do
hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên
1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ
giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách
tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách
vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình
chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt
ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong
thời kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc
suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế
tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái
neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt tài khoản
vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước
ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.
Trang 15
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó
còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông
Á".Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là do
kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động.
Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rất

làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở
Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất
ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ. Và do đồng tiền của các nước
Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên
kém cạnh tranh. Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của
Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng
lai của họ.
2.1.4.Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là
những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á.
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động
sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không
còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát
hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á,
một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á. Các nhà đầu
tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra.
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng
hoảng yếu kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ
các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức
bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm
cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống
tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh
Trang 17
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
tế ASEAN. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya,
Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997
nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ
hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này.Ngẫu
nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước

đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các
khoản lỗ kinh doanh.
2.2.2.Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến
cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra,
tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá giảm đến
một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn
bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn.
Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked
short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo
kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu.
Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo than: “Họ giống như kẻ
hôi của sau một cơn bão”.
2.2.3.Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân
hàng đầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này.
Các ngân hàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK
để vay tiền. Danh mục cho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức
tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình. Có loại CK
không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn.
Trang 19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài
chính sang NH đầu tư. Nhà đầu tư lắm tiền trên thế giới đã đổ tiền mua CK
này, nhờ vậy đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường BĐS ở Mỹ
tăng nóng.
Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh
tế 2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai
trách nhiệm chính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống
tài chính Mỹ đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như

đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 1% GDP.
Khi xảy ra khủng hoảng, các nguồn vốn ngắn hạn này biến mất cũng nhanh
như khi xuất hiện, vì không hề có các công cụ điều tiết.
Bài học thứ hai: Cần xây dựng hành lang pháp lý phù hợp.
Cũng giống như việc nối các thị trấn nhỏ với đường cao tốc mà trước đó
không trang bị cho chúng hệ thống đường xá và cảnh sát giao thông phù hợp để
giám sát việc tuân thủ luật lệ, sẽ thật liều lĩnh khi mở cửa nền kinh tế của các
nước đang phát triển với thị trường vốn quốc tế mà chưa xây dựng hệ thống
luật pháp phù hợp và đào tạo được đội ngũ cán bộ liêm khiết.
Hệ thống ngân hàng với sự giám sát lỏng lẻo vào những năm trước thời
điểm 1997 đã dẫn đến sự phát triển quá mức của thị trường tín dụng ở nhiều
nước châu Á, như Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và Thái Lan,
kéo theo việc đầu tư dư thừa vào một số ngành kinh tế.
Việc dư thừa nguồn tín dụng còn dẫn đến tình trạng lãng phí, với cuộc chạy
đua sở hữu tòa nhà cao nhất thế giới ở các nước châu Á là một ví dụ. Tệ hơn,
việc “thừa tiền” còn châm ngòi cho sự phát triển bong bóng của thị trường bất
động sản, từ đó lại quay lại tình trạng dư thừa tín dụng, vì các ngân hàng cho
Trang 21
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
vay nhiều hơn giá trị thực của tài sản thế chấp. Kết quả là khi “bong bóng” vỡ,
các ngân hàng phải hứng chịu hậu quả.
Hệ thống ngân hàng với sự giám sát lỏng lẻo còn cho phép các ngân hàng
có tỷ lệ vốn lưu động không phù hợp. Theo số liệu năm 1997 của Ngân hàng
Thanh toán Quốc tế (BIS), ở Philippines (17%), Hồng Kông (18%) và
Singapore (19%), tỷ lệ này cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế.
Bài học thứ ba: Nguy cơ dư thừa vốn.
Chính phủ của các nền kinh tế mới nổi không thể làm gì nhiều để ngăn “lũ”
vì nguồn cơn của sự mất cân bằng trên thị trường tài chính quốc tế không nằm
trong tầm kiểm soát trực tiếp của họ.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á không phải chỉ do sự “tắc trách” của

tài chính Mỹ hiện nay là vi phạm chuẩn cho vay bất động sản có sự dung túng
của chính phủ…
Thứ hai, vai trò của công tác thông tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an
toàn, nhất là an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng là hết sức quan trọng và
không thể coi nhẹ trong bất luận trường hợp nào và vào thời điểm nào… ngoài
ra, cần luôn tỉnh táo với các tác động lan tỏa, dây chuyền của các sự biến kinh
tế trên thị trường trong nước và quốc tế. Cần dập ngòi khủng hoảng từ khi nó
còn nhen nhúm, thay vì khi nó đã thành đám cháy mạnh và lan rộng, thì chi phí
là khó đo lường, nhất là với một nước còn nghèo và các thiết chế thị trường còn
chưa phát triển, hoàn thiện.
Thứ ba, nhà nước có vai trò không thể thiếu được và ngày càng to lớn trong
cuộc chiến với các chấn động kinh tế chu kỳ hoặc bột phát, nhất là khủng
hoảng tài chính - ngân hàng, dù nó xảy ra không trực tiếp từ sai lầm của chính
phủ hoặc trong khu vực kinh tế nhà nước… Tuy nhiên, sự can thiệp này phải
tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường, không làm xấu đi sự ổn định kinh tế
Trang 23
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SVTH: Trương Mạnh Tuấn
vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích, nhất là không đổ gánh nặng khủng hoảng
lên người dân, người tiêu dùng. Sử dụng các công cụ nợ, biến nợ xấu thành
chứng khoán có thể mua - bán trên thị trường nợ là một trong các lựa chọn cần
thiết và hiệu quả trong trường hợp này và cho mục tiêu đó.
Yêu cầu và cách thức đối phó với khủng hoảng tài chính Mỹ có khác nhau
với các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước. Điều này tùy thuộc vào mức độ
liên quan trực tiếp và gián tiếp tới cuộc khủng hoảng từ mỗi doanh nghiệp…
Có một số nguyên tắc chung sau:
Một là, cần rà roát lại các dự án và hoạt động đầu tư – kinh doanh của đơn
vị, tự phân loại tính chất, cách thức và mức độ ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng
này, từ đó chủ động có phương án xử lý cụ thể hiệu quả cho đơn vị và đối tác
cụ thể trong giả định tình huống xấu nhất có thể xảy ra.
Hai là, thực hiện đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh và thị trường, cũng

suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện. Cụ
thể là: 1991 (5,81%); 1992 (8,7%); 1993 (8,08%); 1994 (8,83%); 1995
(9,54%); 1996 (9,34%).
 Giai đoạn 1997-2000: Tốc độ tăng trưởng GDP năm 1997 (8,15%),
1998 (5,76%), 1999 (4,77%), 2000 (6,79%). Hai năm 1998 và 1999 đã có sự
suy giảm tương đối, một phần nguyên nhân là do nằm trong bối cảnh chung
của khu vực Đông Á khi đó đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ 1997-1998.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status