Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội miền Bắc 1954-1960 - Pdf 28



0
LỜI NĨI ĐẦU

Cùng với sự phát triển của Cách mạng Việt Nam, chế độ kinh tế nước ta đã
có những thay đổi rất sâu sắc. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám và sự thành lập
của nhà nước dân chủ nhân dân đã tạo những điều kiện để chúng ta cải biền nền
kinh tế mang nặng tính chất thuộc địa và nửa thuộc địa phong kiến thành một nền
kinh tế độc lập và dân chủ. Nhiệm vụ kinh tế đó chưa thực hiên được bao nhiêu thì
dân tộc ta lại phải tiến hành cuộc kháng chiến gian khổ và lâu dài chống bọn đế
quốc xâm lược để bảo vệ nền độc lập mới giành được, để bảo vệ nhà nước dân chủ
nhân dân non trẻ.
Trong tình hình như vậy mà phải chuyển nền kinh tế còn mang nhiều tàn tích
thực dân, phong kiến và rất thấp kém thành một nền kinh tế kháng chiến, một nền
kinh tế có khả năng phục vụ cho nhu cầu to lớn của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ
quốc, thật là một sự nghiệp cực kỳ khó khăn. nhưng nhờ vào sự lãnh đạo tài tình
của Đảng và nhà nước dân chủ nhân dân kết hợp với lòng u nước cao độ, lòng hy
sinh vơ bờ bến và tinh thần phấn đấu tự lực cánh sinh của nhân dân cả nước, một
nền kinh tế kháng chiến đẫ vững vàng như ý chí chiến đấu cứu nước của nhân dân
ta đã xây dựng được và lớn mạnh dần theo đà phát triển của cuộc kháng chiến thần
thánh cứu nước. Nền kinh tế được xây dựng nên trong thời kỳ khói lửa ấy, tuy
khơng thể nói là phồn thịnh, nhưng đã đảm bảo cho qn và dân ta có đủ cơm ăn áo
mặc để theo đuổi cuộc đấu tranh vũ trang đến thắng lợi.
Nền kinh tế kháng chiến khơng phải chỉ là một nền kinh tế dân tộc mà nó
còn mang ngày càng nhiều tính chất dân chủ: cuộc cách mạng ruộng đất đã được
thực hiện từng bước ngay trong thời kỳ kháng chiến, một phần lớn ruộng đất trước
đây tập trung trong tay bọn thực dân và phong kiến, lần lượt được chuyển về tay
dân cày, và cuối cùng, những đợt triệt để cải cách ruộng đất tiến hành trước và sau
ngày hồ bình được lập lại đã hồn tồn xố bỏ những tàn tích phong kiến trong
nền kinh tế miền Bắc nước ta. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta đã thu

kinh t hc, ca tỏc gi Nguyn ỡnh Lờ, Trng Th Tin, v mt s nhng bi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 2
vit trờn tp chớ kinh t ch yu l nhng nm t 60 65, tp chớ nghiờn cu lch s.
Bi chuyờn ny ca tụi gm cú 3 phn:
Phn 1: Tỡnh hỡnh kinh t min Bc trc v sau khi tip qun.
Phn 2: Bin i c cu kinh t xó hi min Bc 1954-1960
Do phm vi chuyờn nh, do vic tip cn vi ti liu trong thi gian ngn
v trỡnh hiu bit cũn hn ch nờn trong bi vit ny khụng trỏnh khi nhng
khuyt im thiu xút. Em kớnh mong thy v cỏc bn b xung, giỳp .
Nhõn õy em xin gi li cm n chõn thnh n thy giỏo ngi ó giỳp
em rt nhiu trong quỏ trỡnh hon thnh bi vit ny.
Em xin chõn thnh cm n!

dch quc doanh t khi thnh lp cho ti khi kt thỳc chin tranh ch yu ch cung
cp cho khu vc nh nc, cha cú kh nng cung cp cho ton dõn. th trng bờn
ngoi gn nh khụng cú (tr vic mua bỏn mt s yu phm cn thit cho khỏng
chin t vựng Phỏp chuyn ra). Th trng nh bộ, v ch yu ch l th trng thụn
quờ truyn thng. ó th, vựng khỏng chin dõn khụng ụng, nhu cu rt thp. Tu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 4
theo các chiến dịch, dân số vùng kháng chiến xê xích trong vòng 5,7,10 triệu
người. Phần lớn dân cư đã quen sống gian khổ, cầu khơng lớn, sức mua rất kém.
Như vậy, do chính sách cai trị của thực dân Pháp, cùng với tác động của chiến
tranh làm cho kinh tế miền Bắc kiệt quệ. Cơ cấu kinh tế miền Bắc là sản xuất nơng
nghiệp, lạc hậu; sản xuất nơng nghiệp nhỏ, manh mún; cơng nghiệp hầu như khơng
đáng kể. Cơ sở hạ tầng cực kỳ nghèo nàn.
Với chiến thắng Đơng-xn 1953-1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện
Biên Phủ, đã buộc thực dân Pháp phải ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, rút qn về
nước, lập lại hồ bình trên cơ sở thừa nhận những chủ quyền chủ yếu của ba dân
tộc Đơng Dương, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược và can thiệp Mỹ. Do so sánh lực lượng và tình hình chính trị thế giới
phức tạp lúc đó, theo hiệp định Giơ-ne-vơ đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai
miền Nam- Bắc vơi hai chế độ chính trị khác nhau: miền bắc hồn tồn được giải
phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ
và các lực lượng tay sai thống trị. Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân
dân trên cả nước còn chưa hồn thành. Nhân dân miền Bắc vừa phải lo hàn gắn vết
thương chiến tranh, khơi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, vừa phải
tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới
thực hiện thống nhất nước nhà.
Do đó, ngay khi hồ bình lập lại, nhân dân miền bắc bắt tay ngay vào tiếp
quản, thực hiện cuộc đấu tranh để giải phóng hồn tồn miền Bắc. Lợi dụng 300

Tịch đã nói về cảnh tượng của miền Bắc lúc đó như sau: “ chiến tranh xâm lược
của bọn thực dân đã làm cho nền kinh tế nước ta kiệt quệ. 1/7 ruộng đất bị bỏ
hoang, 1/3 ruộng đất khơng có nước tưới để cày cấy, các cơng trình thuỷ lợi đều bị
phá huỷ, 1/4 số trâu bò bò bị bắn giết. Hàng chục vạn nóc nhà, hàng trăm thị trấn
lớn nhỏ bị đốt trụi. Số nhà máy đã ít ỏi lại đều bị giặc tàn phá, máy móc bị tháo rỡ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 6
mang i, sn xut b b tc. ng sỏ, cu cng, xe c phn ln b phỏ hoi.
thnh ph, hng chc vn cụng nhõn tht nghip. Nn úi e do khp ni.
1

Trong nụng nghip, ngnh kinh t ch yu ca min Bc, b thit hi nng
n: 1.430.000 ha rung t b b hoang, hng vn trõu bũ b git hi, nụng c b t
hu, 8 cụng trỡnh th nụng ln v nhiu cụng trỡnh thu nụng va v nh b phỏ
hu. Phn ln rung t ch lm mt v, nng sut rt thp. K thut canh tỏc thụ
s, thiờn tai nng n. Sc kộo ch yu l trõu bũ, nhng thiu nghiờm trng do hng
vn trõu bũ b git trong chin tranh. Nhng ng bo cụng giỏo b d d cng ộp
di c vo Nam ó li hng chc nghỡn ha rung t b b hoang. Trờn 1 triu
ngi b úi, lng mc b t phỏ tr tri, x xỏcvv. Nụng nghip min Bc lỳc
ny ch cũn li l mt nn kinh t sn xut nh, manh mỳn, lc hu. V trờn thc t
nụng nghip min Bc ó gp phi rt nhiu khú khn trong sn xut.
Trong cụng nghip, phn ln nh mỏy xớ nghip khụng hot ng hoc hot
ng cm chng. Nguyờn liu, nhiờn liờu mỏy múc thiu nghiờm trng. Gn 50%
kho tng, cụng s b phỏ hoi. Ti H Ni, Hi Phũng, khi ta vo tip qun ch cú
nh mỏy in v nh mỏy nc hot ng. Sn lng m than Hng gai ch cũn
986000 tn, gim 40% so vi nm 1939. vi nm sau khi tip qun giỏ tr sn lng
cụng nghip cũn rt thp, chim cha y 10% tng s giỏ tr sn lng cụng nụng
nghip.

khó khăn tạm thời, trước mắt. Sự thực là bên cạnh những khó khăn, thì miền Bắc
cũng có rất nhiều những thuận lợi để làm nhiệm vụ đó. Trước hết là, khi kết thúc
q trình tiếp quản chúng ta có nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ của
chun chính vơ sản, làm đòn bẩy cho mọi cuộc cải tạo kinh tế và xã hội. Chúng ta
có nền kinh tế quốc doanh xây dựng từ trong kháng chiến và được củng cố sau khi
hồ bình. Trong khu vực sản xuất cơng nghiệp nhà nước, lực lượng cán bộ kỹ thuật
tuy khơng nhiều, nhưng ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hồ đã đào tạo những cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc thế hệ đầu
tiên. cho nên ngay những năm đàu sau giải phóng miền Bắc đã có khoảng 300 cán
bộ tốt nghiệp đại học và cao đẳng và gần 1000 cán bộ kỹ thuật trong biên chế cán
bộ cơng nhân viên. Nhất là chúng ta có Đảng lao động Việt Nam, Đảng của giai
cấp cơng nhân, trải qua 30 năm giữ bá quyền lãnh đạo cách mạng và kháng chiến
thắng lợi, có uy tín hết sức lớn lao, có kinh nghiệm già dặn. Còn nhân dân lao động
thì rất phấn khởi và tin tưởng vào tương lai của mình sau khi thắng được bọn đế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 8
quốc mạnh hơn. Giai cấp tư sản dân tộc thì đã từng hoặc ít nhiều ủng hộ cách mạng
và kháng chiến. Về mặt kinh tế họ phụ thuộc vào nhà nước dân chủ nhân dân. Sau
khi cách mạng thành cơng đã qt sạch những trở ngại của tư bản ngoại quốc và
chế độ phong kiến bảo thủ, các nhà tư sản dân tộc sẵn sàng bỏ vốn mua máy móc,
mở mang kinh doanh đó là lẽ tất nhiên của khuynh hướng phát triển chủ nghĩa tư
bản dân tộc khi có điều kiện. Mặc dù cải cách ruộng đất mới chỉ đang thực hiện
nhưng trải qua các cuộc cải cách ruộng đất từng phần đó, người nơng dân lao động
đã một phần có ruộng đất trong tay, họ đã có đựơc sống dễ chịu và khá giả hơn.
Đặc biệt thuận lợi hơn nữa là khi chúng ta bắt tay vào làm cách mạng XHCN
và xây dựng CNXH ở miền Bắc thì các nước XHCN đã trở thành một hệ thống thế
giới vững mạnh đứng đầu là Liên Xơ. thế cân bằng giữa CNXH và CNTB đã dần
được xác lập. Liên Xơ và các nước Đơng Âu đang bắt tay vào cơng cuộc xây dựng

chính quốc gia; khơi phục giao thơng vận tải”
2
2.1. Trong nơng nghiệp
Xuất phát từ đặc điểm của cơng nghiệp hố XHCN ở nước ta là tiến thẳng
lên CNXH khơng qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là
chúng ta đi lên CNXH xuất phát từ nơng nghiệp, lấy nơng nghiệp làm cơ sở để thực
hiện cơng nghiệp hố XHCN. Nắm vững quan điểm đó, ngay sau khi hồ bình lập
lại, trong lĩnh vực kinh tế điều quan trọng trước tiên đựơc Đảng quan tâm là đẩy
mạnh sản xuất nơng nghiệp. Nghị quyết của bộ chính trị Trung ương Đảng tháng
9/1954 đã chỉ rõ:“ sau đình chiến, chúng ta đứng trước một nhiệm vụ to lớn trong
cơng tác kinh tế là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm
bớt những khó khăn về đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế một cách có kế
hoạch và làm từng bước, mở rộng việc giao lưu kinh tế giữa thành thị và thơn
q…trong thời kỳ phục hồi, trước hết cần nắm vững việc phục hồi và phát triển
sản xuất nơng nghiệp. Đó là vấn đề then chốt, cơ sở của việc cải thiện đời sống của
nhân dân, phồn thịnh kinh tế, mở rộng việc giao lưu hàng hố”.

2

Khố họp thứ 5 quốc hội nước VNDCCH, Quốc hội xuất bản năm 1956, tr156.THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 10
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân vừa kết thúc ở miền Bắc thì giai đoạn cách mạng XHCN được tiếp nối ngay.
Trước hết là hồn thành cuộc cải cách ruộng đất: cuộc cải cách được bắt
đầu từ trong những năm cuối của cuộc kháng chiến và đã kết thúc thắng lợi vào

Muốn cho nơng nghiệp là cơ sở để cơng nghiệp hố thì phải làm cho nơng
nghiệp và cơng nghiệp phát triển từng bước cân đối với nhau, và muốn tạo ra sự
cân đối đó thì phải hợp tác hố nơng nghiệp. Hơn nữa sau khi hồn thành cuộc cải
cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu về ruộng đất phong kiến, thực hiện khẩu
hiệu người cày có ruộng, đời sống của nơng dân ở miền Bắc đã được cải thiện một
phần, nhưng nói chung còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, và với nền kinh tế cá thể,
trước mắt nơng dân có hai con đường: con đường làm ăn riêng lẻ, tự phát tư bản
chủ nghĩa và con đường hợp tác hố tiến lên CNXH . Nếu sau khi xố bỏ chế độ
chiếm hữu ruộng đất phong kiến, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nơng dân
cá thể, giai cấp cơng nhân khơng kịp thời giáo dục và tổ chức nơng dân đi vào con
đường làm ăn tập thể thì khuynh hướng tư bản chủ nghĩa tự phát trong nơng dân sẽ
phát triển. Lê nin nói: “ nền tiểu sản xuất thì lại từng ngày, từng giờ đẻ ra chủ nghĩa
tư bản và giai cấp tư sản, một cách tự phát và trên những quy mơ rộng lớn”
3

Ở miền Bắc, trên thực tế sau cải cách ruộng đất, khuynh hướng tư bản chủ
nghĩa tự phát đã bộc lộ trong thời kỳ sửa sai từ cuối năm 1956 đầu năm 1957. Sự
phân hố mới về giai cấp bắt đầu nảy sinh ở nơng thơn. Một số bần nơng và trung
nơng lớp dưới đã bị sa sút, phải bán bớt ruộng đất trâu bò, khơng giữ ngun được
những thành quả của cải cách ruộng đất. Hơn nữa, chế độ bóc lột của phú nơng vẫn
còn, kinh tế tiểu nơng-chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất của nơng dân lại hàng
ngày, hàng giờ sinh ra chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản thành thị lại thường dựa
vào sự mua bán với nơng dân cá thể để bn bán đầu cơ, phá rối thị trường, gây
ảnh hưởng khơng tốt cho khối liên minh cơng nơng. Do đó phải triệt bỏ nguồn gốc

3

V. Lên nin:” Bệnh ẫu trĩ trong phong trào cộng sản”, tiếng Việt NXB sự thật, Hà nội-1957, tr11).
ch, kinh t tiu nụng phõn tỏn, bp bờnh, thng chu nh hng nng ca th
trng v b ph thuc nhiu vo thiờn nhiờn, vỡ vy phi hp tỏc hoỏ nụng
nghip.

4
Ngh quyt ca hụi ngh trung ng ln th 16 thỏng 4/1959) v vn hp tỏc hoỏ nụng nghip, ban chp
hnh trung ng ng lao ng Vit Nam xut bn, 1959 tr11.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 13
Hợp tác hố là một phương thức sản xuất mới. Xây dựng phương thức sản
xuất mới này là một cuộc cách mạng rất quan trọng, rất lớn. Thay đổi cả một lề lối
làm ăn đã trở thành tập qn mấy nghìn năm khơng phải là một chuyện dễ. Khơng
thấy hết, khơng nắm lấy điều quan trọng này để giải quyết, mà chỉ nói chung chung
quan hệ giữa cá thể và tập thể thì thật là chưa đủ. Hợp tác hố là thay đổi phương
thức sản xuất cũ, xây dựng một phương thức sản xuất mới. Cái mới nhất là từ sản
xuất cá thể sang sản xuất tập thể, từ qủan lý lao động một gia đình đến quản lý
nhiều người. Nếu muốn nơng dân đi vào con đường hợp tác hố nơng nghiệp với
nhiệt tình cách mạng và thật thà tự nguyện, trước hết phải làm tốt cơng tác tư
tưởng. Do đó mà sau cải cách ruộng đất, Đảng đã giáo dục và kêu gọi nơng dân đi
lên CNXH bằng con đường hợp tác hố nơng nghiệp, giúp cho nơng dân hiểu rõ hai
con đường: một con đường nghèo đói và một con đường no ấm, làm cho họ trở
thành người đào mồ chơn cái gốc rễ của chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời và trở thành
người sáng tạo ra cuộc sống mới ở nơng thơn. thực tiễn của việc tiến lên CNXH
của các dân tộc chậm tiến ở Liên Xơ với sự giúp đỡ của giai cấp cơng nhân Nga
trước kia cũng như việc chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên
cách mạng XHCN của Trung Quốc, Triều Tiên và các nước dân chủ nhân dân khác
vơi sự giúp đỡ của Đảng cộng sản và giai cấp cơng nhân Liên Xơ đã chứng minh
rằng việc quan hệ sản xuất XHCN thắng lợi trước khi sức sản xuất phát triển đến

126.600 nơng hộ, chiếm 4,74% tổng số hộ ở nơng thơn, với 4,7 5 diện tích canh
tác.
Trước tình hình mới đó, nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ 16
(tháng 4/1959) vạch ra rằng: “ nhiệm vụ của Đảng ở nơng thơn miền Bắc nước ta
hiện nay là trên đà chuyển biến mới của tình hình nơng thơn, ra sức củng cố những
tổ đổi cơng và hợp tác xã đã có, chuẩn bị về mọi mặt đường lối, chính sách, tư
tưởng, tổ chức, cán bộ, và kế hoạch để phát triển tổ đổi cơng và hợp tác xã sản xuất
nơng nghiệp một cách tích cực và vững chắc, chuẩn bị tiến tới cao trào cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở nơng thơn, phấn đấu để hồn thành thắng lợi cơng cuộc cải tạo
XHCN đối với nơng nghiệp ở miền Bắc nước ta và bảo đảm hồn thành vượt mức
kế hoạch nhà nước.”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 15
Quyết tâm trên của Trung ương được biến thành hành động cụ thể của cán bộ
và tồn thể nhân dân. Phong trào hợp tác hố nơng nghiệp trở thành cao trào cách
mạng rộng rãi ở nơng thơn. Đến tháng 12/1959 số hợp tác xã sản xuất nơng nghiệp
đã lên tới 28.800 cái (trong đó có1.350 cái bậc cao), gồm 1.241.400 hộ xã viên,
chiếm 45,41% tổng số nơng hộ. so sánh số nơng hộ đã tham gia hợp tác xã thì
phong trào năm 1959 đã phát triển gấp hơn 9 lần năm 1958. Nếu kể cả những hộ
tham gia tổ đổi cơng thì năm 1959, phong trào cách mạng XHCN ở nơng thơn đã
lơi cuốn tới 83% số nơng hộ. Ruộng đất đưa vào hợp tác xã đã lên tới 734.430 ha,
chiếm 41% tổng số ruộng đất canh tác tồn miền Bắc. Nhiều xã và một số huyện đã
căn bản hoặc sắp căn bản hồn thành hợp tác xã bậc thấp. Quy mơ hợp tác xã cũng
lớn dần. Số hợp tác xã gồm từ 70, 80 hộ trở lên đã có nhiều ở các tỉnh và theo
thống kê chưa đầy đủ, tính đến đầu tháng 12/1959 trong 14 tỉnh đã có 308 hợp tác
xã sản xuất nơng nghiệp có từ 100 đến 300 hộ. Năm 1955, bình qn một hợp tác
xã chỉ có 13 hộ với 7,4 ha ruộng đất; năm 1957 có 16 hộ với 12,1 ha ruộng đất, đến
năm 1959 bình qn số hộ và ruộng đất của mỗi hợp tác xã là 43 hộ và 25,5 ha.

động hợp lý hơn, do đó mà có thể sản xuất lương thực dồi dào hơn, lại trồng được
cây cơng nghiệp, chăn ni…và như thế là cung cấp được nhiều ngun liệu nơng
nghiệp, lại tăng thu nhập của nơng dân, làm cho nơng dân có khả năng đóng góp
vào cơng cuộc cơng nghiệp hố XHCN. Do đó q trình thay đổi quan hệ sản xuất
ở nơng thơn cũng là q trình sản xuất nơng nghiệp có bước phát triển mới và có
nhiều biến đổi.
Trong sản xuất lương thực: trong lịch sử miền Bắc nước ta, vấn đề lương
thực là một vấn đề từ lâu khó giải quyết. Dưới thời thực dân và phong kiến, nạn đói
tái diễn hàng năm một cách chu kỳ. Năm 1939, năm trước chiến tranh và cũng là
năm tương đối được mùa so với những năm trước, năng xuất lúa bình qn một vụ
trong năm chỉ đạt 13,04 tạ, tổng sản lượng thóc tồn miền Bắc cũng chỉ được
2.728.300 tấn, bình qn đầu người về thóc là 211,2 kg, nếu tính cả hoa mầu quy ra

5

Nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thưa 8 về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần
thứ nhất(1961-1965) NXB Sự thật Hà nội, 1963, tr9. THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 17
thúc cng ch c khong 227,7 kg
6
. Vi sn lng lng thc ớt i ú, khụng th
nuụi sng c s dõn 17 triu ngi, ch ng núi n vic xõy dng CNXH.
Lng thc l mt nhu cu thit yu nht ca con ngi, l tin vt cht
cho s phỏt trin xó hi v phỏt trin sn xut. Vn lng thc khụng ch l vn
cp bỏch trc mt, m l vn rt quan trng lõu di v sau. Lng thc l

V. Lờ nin: tuyn tp, xut bn ln th hai, NXB s tht, H Ni, 1960, q.II, phn II, tr 534
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 18
thực bảo đảm được sản lượng lương thực ngày càng cao mới có khả năng dành diện
tích phát triển cây cơng nghiệp , chăn ni, cây ăn quả…hơn nữa chỉ có phát triển
sản xuất lương thực, làm cho năng suất cây lương thực ngày càng tăng mới có thể
đảm bảo cung cấp lương thực cho cơng nghiệp ngày càng phát triển với số nhân
khẩu ngày càng nhiều, trong điều kiện nhân khẩu nơng nghiệp ngày càng giảm đi
một cách tương đối và trong thời gian nhất định, còn giảm đi một cách tuyệt đối
nữa.
Để thực hiện chủ trương khơi phục và phát triển nơng nghiệp, trong kế hoạch
3 năm khơi phục kinh tế (từ năm 1955-1957) nhà nước đã đầu tư vào nơng nghiệp
85.337.000 đồng chiếm 13,3 % tổng số đầu tư vào các ngành kinh tế văn hố để
xây dựng đập nước cùng các cơng trình thuỷ lợi khác và để xây dựng một số nơng
trường quốc doanh. Riêng trong thuỷ lợi từ năm 1955-1957 ta đã đầu tư 10,9 %
tổng số vốn dùng trong nơng nghiệp. Với sự đầu tư đó đã mang lại kết quả là:
khơng những chúng ta khơi phục lại được 12 cơng trình lớn bị địch phá mà còn
xây dựng được một số cơng trình tưới tiêu mới, đưa diện tích tưới tiêu lên
628.000ha, vượt xa mức năm 1939 (326.000 ha).
Trong năm đầu của thời kỳ khơi phục, số vốn chi vào nơng nghiệp nhiều gần
gấp 3 lần số vốn vào cơng nghiệp. Ngồi ra nơng dân còn được vay số tiền
32.544.000 đồng bằng khoảng 1/3 số vốn nhà nước chi vào nơng nghiệp để mua
sắm nơng cụ, trâu bò và phân bón.
Những biện pháp đó đã tác động rất tích cực trong việc sản xuất nơng
nghiệp. Trong thời kỳ Pháp thuộc, miền Bắc nước ta hàng năm thiếu đến trên 20
vạn tấn gạo, đến năm 1956 khơng những chúng ta đã sản xuất lương thực đủ dùng
trong cả nước mà còn xuất khẩu được trên 15 vạn tấn gạo.
Lấy năm 1939 so với 3 năm khơi phục kinh tế ta thấy diện tích gieo cấy, sản

thực tăng nhanh hơn nhu cầu, thoả mãn nhu cầu chung về lương thực của nhân dân,
tăng thêm dự trữ của nhân dân và nhà nước, tăng thêm xuất khẩu”. Do đó vụ mùa
năm 1958 đã đạt mức thu hoạch chưa từng có là 3.353.000 tấn thóc và mặc dù vụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 20
chiêm mất mùa nặng nhưng số thu hoạch cả năm 1958 về lúa vẫn đạt trên
4.576.900 tấn, tăng hơn 2.169.900 tấn so với năm 1939.
Thắng lợi đó đã cổ vũ lòng hăng hái, phấn khởi của nơng dân trong phong
trào hợp tác hố, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất hơn nữa. Năm 1959 thu
hoạch 5.193.000 tấn lúa, so với năm 1958 tăng 13,4 5, và tăng hơn năm 1957 tới
31,8 %. Con số đó gấp hơn 2 lần sản lượng lúa ở miền Bắc năm 1939. Chỉ riêng vụ
chiêm năm 1959 đã thu hoạch 1.767.800 tấn lúa, bình qn một ha là 20,71 tạ, so
với vụ chiêm năm 1939, năng suất tăng 8,43 tạ và cao hơn cả năng suất lúa mùa kể
từ năm 1957 trở về trước. Năng suất vụ mùa đạt 24,11 tạ, so với vụ mùa năm 1939
tăng 10,54 tạ. năng suất bình qn cả năm 22,84 tạ. Do đó mặc dầu dân số miền
Bắc từ năm 1957 đến năm 1959 tăng 1 triệu người, nhưng bình qn mỗi nhân
khẩu vẫn được 334 kg thóc, hoặc 367,2 kg lương thực.
Như vậy là, chỉ 5 năm sau khi hồ bình được lập lại, miền Bắc nước ta từ
một nước nơng nghiệp lạc hậu, năng suất về lúa rất thấp, đã trở thành một nước
đứng đầu Đơng Nam Á về năng suất và bình qn nhân khẩu về lúa tính theo đầu
người. Điều đó chúng ta có thể thấy rõ qua bảng biểu so sánh dưới đây:
Tên nước Năng suất lúa một ha
(tạ)
Bình qn theo đầu người
(kg)
Việt Nam dân chủ cộng hồ 22,84 334
Miến điện 14,40 311
Thái lan 13,30 330

bin theo hng ton din v tng i cõn i.
Vn cõn i gia trng trt v chn nuụi.
õy l vn quan trng nht m bo cho nụng nghip phỏt trin ton din.
Gia trng trt v chn nuụi cú mi quan h hu c. Lng thc l iu kin
y mnh chn nuụi: cú gii quyt c vn lng thc thỡ mi cú th cung cp
thc n cho gia sỳc v dnh mt phn t dựng trng hoa mu, rau c lm
thc n nuụi gia sỳc. Chn nuụi l ngun ch yu cung cp sc kộo v phõn bún
cho trng trt.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN 22
Di thi thc dõn v phong kin, min Bc thiu lng thc nghiờm trng,
do ú chn nuụi khụng phỏt trin c, mc dự cú nhiu iu kin thiờn nhiờn
phỏt trin chn nuụi nht l chn nuụi trõu bũ min trung du v min nỳi, v ln,
g, vt khp ni. Nm 1939, ton min Bc ch cú 788.000 con trõu, 563.000 bũ,
2.255000 ln.
Sau khi ho bỡnh lp li, chỳng ta gp khú khn rt ln v sc kộo ng
bng, vỡ ch ó git hi trờn 10 vn trõu bũ. Trong khi ú trong sn xut nụng
nghip, sc kộo vn hon ton da vo trõu bũ, nờn vic chn nuụi gia sc l mt
b phn rt quan trng trong nụng nghip. Vn t ra cho chỳng ta lỳc by gi l
phi a trõu bũ t min nỳi v trung du v ng bng, ng thi y mnh phỏt
trin chn nuụi. n cui nm 1955, chỳng ta ó a c trờn 5 vn trõu bũ v
ng bng, bo m kt qu v sn xut lng thc. Bng nhng vic lm ú trong
3 nm ny chỳng ta ó ginh c nhng thng li ỏng k. Xem biu bng so sỏnh
di õy ta cú th thy rừ iu ú:
(n v 1000 con)
Nm 1939 1955 1956 1957 1957/193
9
Trõu 788 1.084 1.163 1.238 1,6 ln

Dưới thời Pháp thuộc, vì phải xoay vào việc độc canh về lúa để có lương
thực ăn, nên diện tích trồng cây cơng nghiệp rất thấp. Sau khi hồ bình lập lại,
chúng ta ra sức phấn đấu giải quyết vấn đề lương thực là trọng tâm, đồng thời tích
cực đẩy mạnh trồng cây cơng nghiệp để làm cơ sở cho việc phát triển một nền nơng
nghiệp tồn diện. Việc trồng cây cơng nghiệp và cây ăn quả đã phát triển tương đối
nhanh và bắt đầu tập trung thành một số vùng nhằm bước đầu thực hiện chun
mơn hố sản xuất, nâng cao sản xuất. Một số cây quan trọng như: mía, thuốc lá,
chè, lạc, đay, gai, cói, dâu tằm,…đã bắt đầu phát triển tình hình đó đã góp phần vào
việc xố dần tính chất độc canh của nền nơng nghiệp nước ta. Ngồi ra chúng ta có
nhiều loại sản phẩm cây cơng nghiệp có giá trị kinh tế cao trên thị trường quốc tế.

8Nghị quyết của hội nghị trung ương lần thứ năm (tháng 7/1961) về vấn đề phát triển nơng nghiệp trong kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), Xuất bản lần hai, BCHTƯ Đảng lao động Việt Nam xuất bản, 1963,
tr17-18).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN 24
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ cây cơng nghiệp là cơng nghiệp, là xuất
khẩu”. So sánh diện tích gieo trồng với sản lượng cây cơng nghiệp năm 1959 với
3 năm khơi phục kinh tế chúng ta thấy kết quả như sau:

Năm 1939 1955 1956 1957
Diện tích gieo trồng cây CN (ha) 67.000 69.100 93.600 105.400
Sản lượng cây CN (tấn) 141.338 131.786 250.553 444.148
(Nguồn: Kinh tế miền Bắc 1954-1960 tr151)
Như vậy là so với năm 1939, diện tích gieo trồng cây cơng nghiệp năm 1957


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status