CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI - Pdf 27

TIỂU LUẬN
CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
PHẦN MỞ ĐẦU
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có liên
quan hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau:
cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kĩ thuật, cơ cấu theo
vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ…Nghiên cứu biến đổi cơ cấu
kinh tế sẽ cho cái nhìn tổng quan về biến đổi cơ cấu xã hội. Bởi biến đổi cơ cấu
xã hội là kết quả trực tiếp của biến đổi cơ cấu kinh tế.
Một vấn đề trọng điểm trong cơ cấu kinh tế là cơ cấu vùng kinh tế. Nó
chẳng những quan hệ trực tiếp đến mục tiêu phát triển, cân đối trên địa bàn cả
nước mà còn kết hợp phát triển kinh tế với chính sách xã hội. Chuyển dịch cơ
cấu vùng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình chuyển đổi nền
kinh tế ở nước ta.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu tất cả các vùng trên cả
nước sẽ khó tránh khỏi sự dàn trải. Vì vậy, lựa chọn một vùng kinh tế để nghiên
cứu, đồng thời có cái nhìn đối sánh với các vùng khác trong cả nước sẽ thích
hợp hơn cả. Trong tiểu luận này tôi xin có những tìm hiểu bước đầu về sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Cửu Long (mà trọng tâm là
chuyển dịch trong nông nghiệp).
1
PHẦN NỘI DUNG
1. Nhận thức chung về hệ thống các vùng qua các giai đoạn lịch sử
Các vùng kinh tế từng được hình thành theo tinh thần đã có từ Đại hội
Đảng lần thứ 4, thứ 5. Nhưng chỉ từ năm 1986 trở đi, các vùng kinh tế chiến
lược mới bắt đầu phát huy được thế mạnh của mình.
Cơ cấu kinh tế vùng là tỷ trọng kinh tế trong từng địa bàn. Những năm
1986- 2000 nước ta được chia làm 8 vùng kinh tế:
+/ Vùng Đông Bắc gồm 11 tỉnh:Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai ,Yên

+ Đông Nam Bộ (gồm 7 tỉnh ): Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà
Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An.
+ Đồng bằng sông Cửu Long (gồm 12 tỉnh ): Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền
Giang, Bình Thuận, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà
Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang.
Nhận xét : Việc phân chia các thành các vùng kinh tế ở hai giai đoạn 1986
– 2000 và 2001 – nay về cơ bản không có sự khác biệt lớn. Có chăng chỉ là sự
tách, gộp vùng kinh tế Trung du và mièn núi phía bắc.Vì vậy, nghiên cứu sự
chuyển biến kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ đổi
mới vẫn đúng trong cả hai cách phân chia.
2. Điều kiện phát triển của đồng bằng sông Cửu Long
2.1. Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.713 km2, là vùng
đất cuối cùng của hạ lưu sông MêKông, với vị trí như một bán đảo, 3 mặt (đông,
tây, nam) giáp biển, phần còn lại giáp biên giới Campuchia, và vùng miền Đông,
vùng kinh tế lớn nhất hiện nay.
- Khí hậu: nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo , lượng mưa lớn và theo
mùa. Khí hậu này rất phù hợp cho sinh vật tăng trưởng và phát triển, tạo điều
kiện cho việc thâm canh tăng vụ.
3
- Sinh vật: Đồng bằng sông Cửu Long có tài nguyên sinh vật phong phú,
đặc trưng ở nước ta. Điển hình là rừng ngập mặn ven biển ( có giá trị về mặt
kinh tế ), hệ sinh thái ngập nước. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những
vùng đồng bằng hiếm hoi trên thế giới. Thuỷ hải sản phong phú
- Khoáng sản: Không đáng kể. Chủ yếu là đá vôi, cát , than bùn
Do những điều kiện thuỷ văn, tự nhiên của vùng đã hình thành 3 vùng
nhỏ:vùng ngập lũ sâu có biên giới giáp Campuchia; bán đảo Cà Mau tiếp giáp
biển và vùng liền kề với thành phố Hồ Chí Minh. Trên nền chung đó , mỗi tiểu
vùng, mỗi tỉnh có đôi chút sắc thái riêng và ít nhiều chi phối sự phát triển bởi
các cấu trúc hành chính.

- Vùng đồng bằng: Vị trí hàng đầu trong sản xuất lương thực, thực, phẩm,
cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, phát triển công nghiệp nông
thôn, mở mang dịch vụ.
Tập trung sức phát triển lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Cửu
Long và đồng bằng sông Hồng. Ưu tiên cho địa bàn có ưu thế và hiệu suất đầu
tư và tỷ suất hàng hoá.
Vùng trung du và miền núi: Chuyển sang kinh tế hàng hoá, phát huy thế
mạnh lâm nghiệp. Hình thành chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, cây ăn
quả, chăn nuôi, khai khoáng,… Đẩy mạnh khai thác khoáng sản và thuỷ
năng.Miền núi Nhà Nước hỗ trợ đầu tư mở mang giao thông vận tải .
Vùng biển, hải đảo: Khai thác, chế biến thuỷ sản, khai thác chế biến dầu
khí và các sa khoáng. Các tỉnh ven biển phát huy thuận lợi mở cửa ra bên ngoài
(củng cố an ninh quốc phòng
b/ Chương trình phát triển các vùng lãnh thổ (phương hướng, nhiệm vụ,
mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000).
Mục tiêu tạo điều kiện cho tất cả các vùng phát triển trên cơ sở khai thác
thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng. Từ đó hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý,
liên kết giữa các vùng.
Riêng với vùng đồng bằng sông Cửu Long phải:
5
Phát huy lợi thế của vùng sản xuất lương thực, rau quả lớn của cả nước.
Tăng nhanh diện tích gieo trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tăng cường kết cấu hạ tầng : mạng lưới giao thông đương bộ và giao
thông đường thuỷ. Nâng cấp, xây dựng một số cảng sông. Nâng cấp sân bay
trong vùng.
Đặc biệt đại hội Đảng VII chỉ đạo 3 chương trình kinh tế : lương thực-
thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất nhập khẩu được xác định là nhiệm vụ vừa
cấp bách vừa lâu dài.Vì vậy đồng bằng sông Cửu Long được chú trong tập trung
sức lực phát triển lương thực - thực phẩm.
- Đại hôi Đảng toàn quốc lần IX đưa ra định hương phát triển kinh tê lãnh

GTSXNN Tỷ đồng
11183,9 35333,6 37404,2 43992,7 43559,2 33,3 4,1 1,0
GTSX Thỷ sản Tỷ đồng
3024,5 6974,1 7516,7 10800,1 13432,4 23,2 9,5 24,4
GTSXCN Tỷ đồng
4052,6 11872,7 13592,1 23167,7 26794,9 30,9 14,3 15,
Thu ngân sách Tỷ đồng
971,2 4574,5 5416,0 8368,8 8567,4 47,3 11,5 2,4
Chi ngân sách Tỷ đồng
826,7 3534,5 4346,8 9008,7 10664,2 43,8 20,0 18,4
Diện tích gieo trồng Nghìn ha
2617,6 3834,9 4048,9 4510,1 4633,4 10,0 2,7 2,7
Tổng mức bán lẻ Tỷ đồng
10081,2 25154,0 29563,7 43806,2 47922,8 25,7 10,3 9,4
Xuất khẩu Triệu USD
326,43 730,49 1084,44 1336,7 1468,95 22,3 5,4 9,9
Sản lượng lương
thực
Tấn
8546,2 13985,7 14593,7 16986,7 16172,1 13,1 3,9 -4,8
(Nguồn: cục thống kê Cần Thơ: Số liệu kinh tê – xã hội 12 tỉnh vung ĐBSCL 1990-2001. Võ Hùng Dũng- Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở ĐBSCL- Tạp chí kinh tế số 6- 2003)
7
3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a/ Trong nông nghiệp
-Nông lâm thuỷ sản là ngành chủ yếu của vùng , đóng góp trên 50% GDP.
Trong thời gian qua nông lâm thuỷ sản phát triển không ngừng, ảnh hưởng tích
cực tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong vùng , đặc biệt là cơ cấu kinh tế
nông nghiệp .Khối lượng sản phẩm nông nghiệp , thuỷ sẳntng đã thúc đẩy sự gia
tăng của các ngành khác như: công nghiệp chế biến, giao thông vận tải.

của địa phương , đảm bảo an ninh lương thực , đông thơpì còn góp phần quan
trong gia tăng sản lượng lúa hàng hoá xuất khẩu . Đ ó là nguyên nhân chủ yếu
đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực , thực phẩm triền miên trở thành
một nước sản xuất lương thực phát triển nhanh , ổn định .
- Thuỷ hải sản
+ Đồng bằng sông Cứu Long có 763 km bờ biển với vùng thềm lục địa
rộng lớn chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước. Tiềm năng hải sản cho phép khai
thác hàng năm khoảng 600-630 nghìn tấn. Ở đấy có 25 cửa luồng , lạch thuận
tiện cho tàu thuyền đánh cá; có gần 300.000ha có khả năng nuối trồng thuỷ sản
nước mặn, nước lợ và 1500km sông ngòi, kênh rạch có thể nuôi trông thuỷ sản
nước ngọt.
+ Từ năm 1991 đến nay, nghề cá của v ùng phát triển mạnh cả về sản
lượng (giá trị sản lượng chiếm 42-45% của cả nước), về giá trị kim nghạch xuất
khẩu (37-42% xuất khẩu của cả nước), lẫn về cơ sở vật chất, kỹ thuật .
+Sản lượng đánh bắt thuỷ sản năm 1997: 800.000tấn (49% sản lượng cả
nước ). Năm 2002, đạt 1,3 triệu tấn chiếm 50% sản lượng cả nước .
+ Do nhu cầu trong nước và qu ốc t ế , tôm là loại hàng hoá rất được ưu
chuộng. Tôm được nuôi ở các vuông ven biển . Dưới rừng đước tôm cho năng
suất cao. Tuy nhiên lại nhiều khu rừng đước , rừng tràm bị chặt phá trên một
diện tích rộng lớn để phát triển nuôi tôm mà không theo quy luật sinh thái cơ
bản . Do đó hậu quả đối với môi trương là rất nghiêm trọng .
- Lâm nghiệp
9
Có nhiều cố gắng khôi phục lại rừng Tràm trên các vùng đất phèn mặn ,
duy trì và mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển . Tuy nhiên do nạn cháy
rừng nên diện tích rừng mấy năm gần đây bị giảm sút nhiều . (Năm 1997 là 38,7
nghìn ha . Năm là 21 nghìn ha)
Nhận xét : Những chuyển biến trong cơ cấu ngành nông nghiệp với chiều
hướng tích cực góp phần tạo chuyển biến trong các ngành khác của vùng . Từ đó
tạo ra bộ mặt mới cho đồng bằng sông Cửu Long . Những chuyển biến trên cho

Tây Bắc 100% 11,4 29,1 1,6 0,4
Bắc Trung Bộ 100% 14,1 43,1 4,5 1,0
Duyên Hải Trung Bộ 100% 16,5 35,3 6,4 1,0
Tây Nguyên 100% 22,6 54,9 2,5 0,6
Đông Nam Bộ 100% 49,2 29,5 6,7 1,7
Đồng Bằng Cửu Long 100% 74,8 8,5 5,6 2,5
( Nguồn : niên giám thống kê 2001, Nguyễn Đình Lê- biến đổi cơ cấu xã
hội Việt Nam thế kỷ XX- Trang 342 )
Năng suất, sản lượng lúa không ngừng gia tăng. Biểu thị bằng bảng số
liệu: Sản lượng lương thực ĐBSCL so sánh với đông bằng sông Hồng và cả
nước:
Năm
Sản lượng
lương thực
cả nước
Sản lượng
lương thực
ĐBSCL(1000
Sản lượng
lương thực
ĐB sông
Sản lượng lương thực ĐBSCL so
với
Đồng bằng sông
Hồng (lần )
Cả nước
(%)
1995
1996
1997

đầu tư , mua sắm thiết bị và các công cụ để sản xuất nông lâm thuỷ sản . Theo
thông kê của Tổng cục thống kê năm 1999; số máy kéo của ĐBSCL chiếm
30,8% số lượng cả nước . Máy bơm, máy xay xát, máy tuốt lúa , sấy lúa …số
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status