Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
Báo cáo kinh tế “Tìm hiểu hiệu
quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng
sông Cửu Long thời kỳ 2005 - 2009”
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 1 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
Mục Lục
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 2 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 3 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
PHẦN MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta. Trồng lúa là một
nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam từ rất xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu việc
trồng trọt thì cây lúa đã được đặt biệt quan tâm. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã
được hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc ta.
Những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật trong nước và thế giới trên lĩnh vực
nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta trên
thương trường quốc tế. Những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào thị
trường xuất khẩu lúa gạo thế giới với vị trí thứ 2 trong các nước xuất khẩu gạo.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất lương thực cả
nước với sản lượng chiếm khoảng 50% tổng sản lượng lương thực cả nước và
90% lượng gạo xuất khẩu hằng năm (Dương Văn Chính, 2009). Đồng bằng sông
Cửu Long góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Tuy nhiên, hiện nay vùng phải đối mặt với những thách thức ngày càng nghiêm
trọng như biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho nước biển dâng cao gây ngập úng
sâu hơn và lâu hơn, nước mặn xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Diện tích đất trồng
lúa giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đất lúa sang nuôi
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: thu thập thông tin qua các báo cáo, tìm
hiểu thông tin trên báo, tạp chí, truyền thông, mạng Internet.
3.2 Phương pháp phân tích số liệu:
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng
Bằng sông Cửu Long.
- Từ mô tả và phân tích trên, sử dụng các phương pháp suy luận, quy
nạp để đưa ra các biện pháp giúp nhà nông sản xuất lúa tốt hơn.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Phạm vi về không gian: Vùng sản xuất lúa Đồng Bằng Sông Cửu
Long.
4.2 Phạm vi về thời gian: Từ năm 2005 đến 2009.
4.3 Phạm vi về nội dung: Tìm hiểu tình hình sản xuất lúa ở Đồng Bằng
sông Cửu Long.
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 5 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Năng suất lúa:
Năng suất lúa là sản lượng lúa đạt được trên một đơn vị diện tích sau một
vụ sản xuất. Thường được đánh giá bằng đơn vị triệu tấn/ ha hoặc tạ/ha.Việc
đánh giá năng suất lúa thường dựa vào năng suất thống kê (là năng suất thu
hoạch tại gốc) do cơ quan thống kê xác định và mới chỉ thực hiện trong sản xuất
lúa (năng suất thống kê chưa tính đầy đủ hao hụt trong khâu thu hoạch và vận
chuyển), và năng suất thực thu là số sản phẩm thực tế thu được dựa trên cơ sở tài
liệu hạch toán của đơn vị sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân.
1.2 Hiệu quả:
- Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ
đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong
bằng sông Cửu Long năm 2009, sản lượng lúa toàn vùng tăng 10.000 tấn (đạt
trên 20,63 triệu tấn lúa hàng hóa), với năng suất bình quân 5,38 tấn/ha (tăng 0,37
tấn/ha so với vụ đông xuân năm trước).Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn,
thách thức, tuy nhiên sản xuất lúa cả nước vẫn đạt 39 triệu tấn, trong đó khu vực
đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ đóng góp hơn 22,6 triệu tấn, xuất
khẩu đạt hơn 6 triệu tấn, giá trị đạt gần 2,7 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Đây là số liệu mới nhất được đưa ra trong Hội nghị tổng kết sản xuất lúa năm
2009. Điển hình các tỉnh đã đạt được năng suất đáng kể như sau:
+ Theo báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh
Vĩnh Long, tổng diện tích xuống giống cả 3 vụ lúa Đông – Xuân, Hè – Thu và
Thu - Đông năm nay là 176.679 ha (đạt 100% kế hoạch). Tuy có giảm 1.700 ha
so với cùng kỳ năm 2008, nhưng qua 3 vụ sản xuất, sản lượng ước đạt gần
900.000 tấn, tăng gần 2000 tấn so với năm trước.
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 7 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
+ Cùng với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm 2009, toàn
tỉnh Kiên Giang có 340.000 ha đất canh tác lúa, diện tích gieo trồng 621.600 ha,
sản lượng đạt gần 3,4 triệu tấn, trong đó tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm 70%.
Những mốc quan trọng đánh dấu sự đột phá và phát triển của ngành sản xuất lúa
ở tỉnh là việc đưa các giống lúa ngắn ngày thay thế các giống lúa nổi, lúa mùa địa
phương từ sau trận lũ lịch sử năm 1978, mở ra hướng phát triển mới theo hướng
tăng vụ, thâm canh và khai hoang mở rộng diện tích đưa sản xuất lúa tăng tốc
những năm sau đó, để rồi sản lượng lúa lần lượt vượt qua các ngưỡng 1 triệu tấn
( năm 1991), 2 triệu tấn ( năm 1999), 3 triệu tấn ( năm 2007).
+ Năm 2009, sản lượng lúa tỉnh Trà Vinh đạt hơn 1 triệu tấn. Ba vụ
lúa năm 2009 ( mùa thu đông, đông xuân và hè thu), nông dân tỉnh Trà Vinh gieo
sạ 231.849 ha; năng suất bình quân đạt 4,68 tấn / ha, tổng sản lượng lúa đạt hơn 1
triệu tấn, vượt kế hoạch 0,42 % và tương đương năm 2008.
Bảng 1: Sản lượng lúa và xuất khẩu của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long
so với cả nước:
- Khâu bảo quản sau thu hoạch còn yếu kém, tỉ lệ thất thoát cao. Theo
công bố của Viện Nghiên cứu lúa Đồng Bằng sông Cửu Long, ước tính mỗi năm
nông dân trồng lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long mất từ 3.200 – 3.600 tỷ đồng vì
thất thoát sau thu hoạch, chiếm gần 12% (trong tổng sản lượng bình quân dao
động 17 – 18 triệu tấn).
- Cơ giới hóa trong nông nghiệp còn thấp trong sản xuất cũng như trong
thu hoạch. Tỷ lệ cơ giới hóa trong:
+ Khâu làm đất trồng lúa mới đạt 69%.
+ Chủ động tưới tiêu được 60%.
+ Thu hoạch lúa, khâu quan trọng nhất chỉ đạt 8,2%.
- Giá cả vật tư nông nghiệp liên tục tăng, giá lúa không ổn định làm mất
lòng tin của ngưởi nông dân.
- Quỹ đất nông nghiệp liên tục bị giảm do công nghiệp hóa, đô thị hóa.
- Sản xuất chủ yếu manh mún, nhỏ lẻ với diện tích canh tác nhỏ.
2.1.2 Chủng loại và chất lượng:
Hiện nay, nhờ tiến bộ về giống có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày hoặc
90-100 ngày, kết hợp với hệ thống thủy lợi không ngừng được cải tạo, Đồng
Bằng sông Cửu Long trong 20 năm qua đã gia tăng diện tích Đông Xuân gấp 8
lần, Hè Thu tăng gấp 4,3 lần, và vụ mùa giảm 3,4 lần. Cải tiến giống cây trồng là
một hoạt động mang tính xã hội hóa rất cao. Có nhiều thành phần trong xã hội
tham gia quá trình lai tạo chọn lọc giống lúa từ nhà khoa học, cán bộ quản lý ở
các ban ngành trung ương và địa phương, cán bộ khuyến nông, bà con nông dân,
nhờ đó các nhà khoa học đã rút ngắn được quá trình nghiên cứu của mình từ
phòng thí nghiệm ra đồng ruộng một cách rất hiệu quả.
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 9 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
Bảng 2 : Giống lúa chủ lực hiện nay ở Đồng Bằng sông Cửu Long :
Giống Nguồn gốc Thời gian
sinh trưởng
(ngày)
Jasmine 85, VDD20, nhóm lúa thơm, nhóm lúa nếp (OM85, Nếp Bè,…). Bộ
giống cao sản chất lượng thấp: OM 576, IR50404. Gần đây những giống triển
vọng đang có xu hướng phát triển: OM4495, OM4498, OM2514,….
2.2 Hiệu quả:
2.2.1 Sản lượng:
Mục tiêu phát triển chiến lược của Việt Nam vào năm 2010 là 40 triệu tấn
lương thực và 38 triệu tấn lúa gạo. Điều này đặt ra cho Đồng Bằng sông Cửu
Long một mục tiêu mới, với sự phấn đấu cao hơn, làm sao vừa tiếp tục nâng cao
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 10 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
năng suất, chất lượng an toàn, thực phẩm và hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên vừa tăng nhiều hơn thu nhập cho nông dân. Theo dự báo của Cục
Trồng trọt, đến năm 2020, sản lượng lúa của toàn vùng vẫn dao động ở mức 21-
22 triệu tấn. Trong khi đó, sản lượng lúa toàn vùng năm 2009 ước khoảng 20,63
triệu tấn.
Bảng 3: Diện tích trồng lúa theo qui hoạch của Bộ Nông Nghiệp & Phát
Triển nông thôn:
Năm DT Canh tác
(nghìn ha)
DT gieo trồng
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2007 1.893 3.683 50,6 18.637
2009 1.895 3.835 53,8 20.633
2010 1.880 3.760 52 19.550
2015 1.830 3.670 56 20.800
2020 1.800 3.600 58 21.000
nay.
Từ năm 2005 đến nay, các tỉnh, thành phố Đồng Bằng sông Cửu Long
thực hiện được gần 800 đề tài, dự án phục vụ phát triển nông nghiệp. Trong đó
có gần 60 dự án được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, chuyển giao và ứng
dụng vào sản xuất đã nâng cao hiệu quả kinh tế, thu nhập cho nông dân. Tuy
nhiên, trước nhu cầu thực tế, khoa học - công nghệ vẫn chưa đáp ứng được sự
phát triển trong vùng.
Thành công nổi bật của Đồng Bằng sông Cửu Long là tạo được giống lúa
cực sớm (các giống OMCS) với thời gian sinh trưởng ngắn, tránh được lũ, bảo
toàn đồng lúa không bị thất thoát. Việc tăng nhanh diện tích sản xuất lúa đông
xuân, hè thu bằng giống lúa cực sớm là yếu tố quan trọng để tăng năng suất, sản
lượng lúa toàn vùng. Trước đây, hai triệu ha đất canh tác một vụ, năng suất hai
tấn/ha, cả Đồng Bằng sông Cửu Long chỉ đạt khoảng bốn triệu tấn lúa, đến năm
2009 đạt hơn 20,63 triệu tấn lúa hàng hóa. Giống lúa cực sớm được đánh giá là
thành công nhất của Viện lúa Đồng Bằng sông Cửu Long.
Không những tăng nhanh về sản lượng, mà chất lượng lúa gạo ở vùng
này không ngừng tăng. Ðể có được hạt gạo chất lượng, phải nói đến công nghệ
hạt giống. Đồng Bằng sông Cửu Long đã có những bước tiến đáng kể trên lĩnh
vực này. Cách đây năm năm, hạt giống tốt (giống xác nhận) chỉ có 20%, đến nay
hơn 40% diện tích sử dụng giống xác nhận. Năng suất lúa bình quân hiện nay ở
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 12 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
Đồng Bằng sông Cửu Long khoảng 5,38 tấn/ha, đứng đầu khu vực ASEAN. Các
loại lúa đặc sản có chất lượng cao như IR64, OM 1490, VN 95-20, MTC 250,
ST, lúa nàng thơm Chợ Ðào, Jasmine phục vụ xuất khẩu ngày càng mở rộng,
chiếm tỷ trọng lớn về diện tích, sản lượng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
trong nước và xuất khẩu.
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
chính là từ sông Mê Kông và nước mưa. Sông Mê Kông chảy qua vùng Đồng
Bằng sông Cửu Long hàng năm đem lại lượng nước bình quân khoảng 460 tỷ m
3
và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa. Việc vùng Đồng Bằng sông Cửu
Long hàng năm bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3-4 tháng tạo nên một đặc điểm
nổi bật của vùng, một mặt làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt và gây
nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nên những
điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản và bổ sung độ phì
nhiêu cho đất trồng trọt. Mặt khác, Đồng Bằng sông Cửu Long có khí hậu cận
xích đạo thuận lợi cho nông nghiệp phát triển.
3.1.3 Kinh nghiệm sản xuất lúa lâu đời của người nông dân:
Cây lúa nước đã đồng hành cùng nông dân Đồng Bằng sông Cửu Long
từ hơn 300 năm nay. Thế kỷ thứ 17, Đồng Bằng sông Cửu Long bắt đầu được
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 14 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
khai thác với sự có mặt của tổ tiên chúng ta từ đất Bắc đi vào, mang theo bộ
giống lúa cổ truyền từ nhiều nguồn khác nhau. Thực dân Pháp và các nhà truyền
giáo mang đến đây một ít giống lúa ở nơi nào đó trên thế giới mà họ đã đi qua.
Cư dân địa phương có thể đã trao đổi với các nước láng giềng Thái lan,
Cambodia, Mã Lai, Indonexia. Ngần ấy đã tạo cho bộ giống lúa địa phương ở
đây phong phú vô cùng (khoảng 2000 giống lúa) với các loại hình canh tác lúa
sạ, lúa cấy hai lần, cấy một lần,… trên đất đầm lầy. Bên cạnh đó, hàng trăm quần
thể lúa hoang dại cũng có thể đã được thuần hóa, với sự đa dạng di truyền hiếm
có, tạo thành nguồn vật liệu quí giá mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta bây giờ.
3.2. Bất lợi:
3.2.1 Biến đổi khí hậu toàn cầu:
Đồng Bằng sông Cửu Long của Việt Nam là một vùng đất thấp chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu toàn cầu. Khí thải gây hiệu ứng nhà kính làm
nhiệt độ trái đất nóng lên, băng ở hai cực tan và nước biển dâng cao. Với tình
hình nước biển dâng cao hơn 1m so với hiện trạng, diện tích mặt đất ngập sâu
Thái Bình Dương là 0,15ha; nhưng ở Việt Nam chỉ có 0,11 ha/ người. Nếu tính
trên lao động nông thôn và trên diện tích đất lúa thì bình quân chỉ có 0,6 ha đất
lúa/ hộ và 0,38 ha/ lao động nông thôn.
3.2.3 Thời tiết bất lợi gây sâu hại và dịch bệnh:
Nhiệt độ trong mùa đông ở Đồng Bằng sông Cửu Long vẫn ấm mát.
Nhiều nơi trong vùng có nước ngọt quanh năm. Do đó với các giống lúa cao sản
có thời gian sinh trưởng ngắn trên dưới 90 ngày có thể trồng được quanh năm.
Trên đồng lúc nào cũng có lúa gạo đã tạo điều kiện cho một loại côn trùng quan
trọng gây hại là rầy nâu sinh trưởng phát triển quanh năm. Đặc biệt rầy nâu
trưởng thành mang mầm bệnh siêu vi trùng vàng lùn, lùn xoắn lá đang là mối đe
dọa thường trực cho sản xuất trong vùng.
3.2.4 Vấn đề cơ giới hóa còn yếu kém:
Theo thống kê khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long có tổng diện tích
gieo trồng hàng năm khoảng 3,9 triệu ha, trong đó vụ đông xuân trên 1,5 triệu ha,
vụ hè thu khoảng 1,6 triệu ha, vụ mùa 260.000 ha, vụ 3 khoảng 500.000 ha. Tuy
từng vùng có đặc thù thổ nhưỡng sinh thái khác nhau nhưng phải tập trung sản
xuất theo lịch né rầy nên thường gieo sạ đồng loạt kéo theo thu hoạch tập trung
nên thiếu nhân công cho thu hoạch lúa rất trầm trọng. Công thuê gặt thủ công
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 16 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
bình quân hiện nay từ 2,2 - 2,5 triệu đồng/ha, trong khi đó nếu thuê gặt bằng máy
chỉ mất 1,6 - 1,8 triệu đồng/ha. Hơn thế gặt bằng máy rút ngắn thời gian gấp 4-5
lần so với cắt lúa thủ công. Tuy nhiên, toàn khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long
hiện mới có trên 2.000 máy gặt đập liên hợp và 3.500 máy cắt lúa xếp dãy, mới
giải quyết được 12% tổng diện tích xuống giống của mỗi mùa vụ, nhìn thấy nông
dân thiệt hàng ngàn tỷ đồng. Kể cả khi đã có đầy đủ máy móc, vẫn không có đủ
nhân công có trình độ, biết sử dụng máy móc kỹ thuật cao. Vào vụ, nhiều hộ rất
khó khăn trong việc thuê nhân công cắt lúa. Tại nhiều tỉnh vùng Đồng Bằng sông
Cửu Long, nhiều xã chưa có máy gặt đập liên hợp hoặc điều kiện đồng ruộng
máy gặt không hoạt động được vào mùa mưa, nông dân phải chạy đôn chạy đáo
tháng tồn trữ. Công nghệ xay xát tổn thất ghê gớm do khâu làm khô không được
tốt (còn 15 - 17% khi xay xát, thậm chí 18 - 19%, trong khi yêu cầu chuẩn phải
dưới 15%). Xay đúng 14% ẩm thì thu hồi 68% gạo nguyên vả tấm, trong đó 52 -
54% gạo nguyên, nhưng với quy trình ngược thì chỉ đạt 60 - 66%, trong đó gạo
nguyên chỉ đạt 40 - 48%.
3.2.6 Vấn đề về giống lúa và thời vụ.
Nội dung cải tiến giống cây trồng về tính chống chịu với điều kiện bất lợi
do môi trường chưa có những nghiên cứu cơ bản trên cơ sở cơ chế chống chịu,
nhà chọn giống chưa hợp tác tốt với nhà sinh lý học, khoa học đất, thủy lợi. Nhà
di truyền giống chưa hợp tác tốt với nhà vi sinh vật học, thảo mộc bệnh học để
nghiên cứu tạo ra những giống lúa chống chịu dịch hại một cách bền vững. Nội
dung nghiên cứu cải tiến cây trồng quá nghiên về tính kháng sâu bệnh hại xét
theo cơ sở di truyền của cây chủ nhiều hơn của ký sinh, do đó tính kháng trở nên
kém bền vững. Việc cải tiến cây trồng có giá trị phẩm chất nông sản cao, đủ sức
cạn tranh trong quá trình hội nhập quốc tế, chưa có thành tựu mang tính đột phá.
Việt Nam chưa có bất cứ một giống lúa cao sản ngắn ngày nào do Việt Nam lai
tạo chọn lọc có chất lượng nổi tiếng quốc tế như giống Basmati của Ấn Độ. Công
nghệ hạt giống yếu kém đã hạn chế sự phát triển sản xuất trồng trọt của Việt Nam
trong 20 năm qua. Tại Đồng Bằng sông Cửu Long suốt một thời gian dài, giống
lúa xác nhận chỉ được trồng thấp hơn 2% diện tích gieo trồng. Từ năm 2001-
2005, nhờ chương trình 1 triệu ha lúa xuất khẩu, năm 2003, diện tích trồng lúa
xác nhận đạt 10%, năm 2005 tăng lên 32% bao gồm giống tương đương cấp xác
nhận.
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 18 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
CHƯƠNG 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA
NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
4.1 Đảm bảo hệ thống thủy lợi kiên cố phòng ngừa việc ngập lụt do biến
đổi khí hậu toàn cầu :
trồng lúa, giảm diện tích gieo trồng. Vì thế, cần giảm bớt khó khăn của nông dân
trong khâu tiêu thụ lúa hàng hóa. Giảm thất thoát trong khâu cắt, gom và suốt
lúa. Trồng lúa phải có lời để thu hút và giữ chân nông dân tại nông thôn. Nhà
nước cần có chính sách bình ổn giá lúa gạo, khuyến khích nông dân trồng lúa.
4.3 Hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp phòng trừ sâu bệnh:
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 20 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
Thực hiện “3 giảm, 3 tăng”: nên gieo sạ với mật độ thưa hợp lý, kết hợp
với việc chọn được giống lúa có chất lượng cao (giống xác nhận), giống có độ
nảy mầm tốt (trên 95%) thì không nên gieo sạ quá dầy như tập quán trước đây
mà chỉ nên sạ với mật độ giống từ 100 - 120 kg/ha để giúp cây lúa khỏe từ đầu
vụ sẽ hạn chế được dịch bệnh phát sinh sau này. Nên xử lý hạt giống bằng dung
dịch nước muối 15% (1,5 kg muối trong 10 lít nước) để loại bỏ lép lững,hạn chế
bệnh lúa von. Bón phân vừa đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali; không nên bón
thừa phân đạm, bón vừa đủ lượng phân lân và kali, đồng thời bổ sung thêm vôi
để cải tạo đất, hạn chế ngộ độc phèn, ngộ độc hữu cơ cho cây lúa nhất là trên
những ruộng có làm lúa vụ 3. Thường xuyên thăm đồng kiểm tra mật số rầy nâu,
theo dõi bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá để phòng trừ dịch hại kịp thời. Không nên
phun thuốc trừ sâu sớm. Khi cần phun thuốc phải áp dụng nguyên tắc "4 đúng".
4.4 Hướng dẫn và tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với vấn đề cơ giới
hóa:
Nhà nước cần có chính sách cho nông dân đầu tư trang bị máy gặt, tính
năng và những hạn chế của máy, nhất là máy gặt đập liên hợp có thể khắc phục
trong thời gian tới như hàm cắt của máy sản xuất trong nước nên có khuôn đúc sẽ
sử dụng lâu bền hơn so với tình trạng sửa chữa chắp vá như hiện nay, khuyến
khích phát triển các loại máy sản xuất tại Việt Nam có nhiều tính năng phù hợp
đồng ruộng Đồng Bằng sông Cửu Long.
4.5 Hình thành các khu dịch vụ phơi sấy, tồn trữ tập trung:
Mỗi tỉnh nên bàn bạc với các huyện để bàn bạc các cụm phơi sấy, tồn trữ
dài hạn cấp huyện hoặc liên huyện. Cần bàn bạc thật dân chủ với dân để chọn lựa
thất thường, diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp đáng kể đến là vấn đề
nông dân được mùa mà lại mất giá trong khi đó giá vật tư nông nghiệp lại tăng
cao khiến cho nông dân lo ngại trong việc sản xuất lúa.
2 KIẾN NGHỊ
2.1 Đối với nông hộ:
- Luôn học hỏi nâng cao kiến thức và áp dụng các biện pháp khoa học
kỹ thuật cho đồng ruộng.
- Thường xuyên theo dõi các bản tin dự báo sâu bệnh của địa phương để
có biện pháp phòng trừ kịp thời.
- Tham gia các buổi hội thảo, tập huấn nông nghiệp, nắm bắt được các
thông tin cần thiết.
2.2 Đối với Nhà Nước, địa phương:
- Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo tập huấn chuyên đề.
- Cung cấp giống mới cho nông dân sản xuất thử nghiệm.
- Tạo điều kiện cho nông hộ được vay vốn phục vụ nông nghiệp.
- Theo dõi và thường xuyên dự báo tình hình sâu bệnh.
- Nhà nước cần có chính sách bình ổn giá lúa gạo, khuyến khích nông
dân sản xuất lúa.
GVHD: Thạc sĩ NGUYỄN HỒ ANH KHOA 23 SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG THƠ
Chuyên đề kinh tế Tìm hiểu hiệu quả sản xuất lúa ở Đồng Bằng sông Cửu Long
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Văn Chính (2009). Bài báo cáo trong Hội thảo “Cây lúa Việt Nam”
ngày 1 tháng 12 năm 2009 nhân dịp Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất
được tổ chức tại Vị Thanh, Hậu Giang từ ngày 28 tháng 11 đến 2 tháng 12
năm 2009. (Trang 2, 3, 4, 5)
2.
nuoc-dat-39-trieu-tan.htm
3.
4.
thitruong/2009/10/20232.html