S PHT TRIN Lí LUN CA NGHA X HI KHOA HC GN
LIN VI S BIN I KINH T, CHNH TR, VN HểA CA
THI I V S VN DNG CA NG TA
================================
Sự ra đời bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản tháng 2-1848 đánh dấu
sự hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đ-
ợc coi là cơng lĩnh chính trị đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Kể từ đây, cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân quốc tế
chuyển từ tự phát lên tự giác. Trong Tuyên ngôn phạm trù trung tâm và cũng
là phạm trù xuất phát của chủ nghĩa xã hội khoa học là giai cấp công nhân và
sứ mệnh lịch sử của nó đã đợc luận chứng một cách sâu sắc.
Trong Tuyên ngôn hàng loạt các nguyên lý, các phạm trù của chủ
nghĩa xã hội khoa học đã đợc nêu lên. Đó là nguyên lý về cách mạng vô sản;
về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong cách mạng vô sản; về chuyên
chính vô sản, dân chủ vô sản; quan hệ giữa giai cấp và dân tộc; t tởng về bạo
lực cách mạng, nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản; thái độ của giai cấp
vô sản, Đảng cộng sản đối với các vấn đề xã hội nh văn hoá, gia đình, tôn
giáo, con ngời, các trào lu t tởng khác .v.v
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là cột mốc lịch sử ghi nhận sự hình
thành chủ nghĩa xã hội khoa học về cơ bản. Tuy nhiên nó đòi hỏi phải
không ngừng đợc bổ sung và phát triển thêm. Thực tế lịch sử đã chứng tỏ,
các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa xã hội khoa học đã đợc C.Mác, Ph.
Ăngghen, V.I.Lênin, các Đảng cộng sản tiếp tục bổ sung và phát triển qua
các giai đoạn, thời kỳ cách mạng sau này. Từ thực tế lịch sử phát triển của
chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ ra một số tính quy luật của sự phát triển
chủ nghĩa xã hội khoa học. Một trong những quy luật đó là sự phát triển lý
luận của chủ nghĩa xã hội khoa học gắn với biến đổi kinh tế, chính trị, văn
hóa của thời đại.
`Chủ nghĩa xẫ hội khoa học theo ngha hẹp là hệ thống lý luận ca
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế luận giải dới góc độ chính trị,xã hội
sự diệt vong của ch ngh a tu i bản và sự ra đời chiến thắng cua chủ ngha xã hội
tại vùng Xilêdi vào năm 1844, đặc biệt là phong trào Hiến chơng là một phong
trào mang tính chất dân chủ, chứ cha phải là phong trào mang tính chất xã hội
chủ nghĩa, với yêu cầu đa ra nhữngkiến nghị sửa đổi pháp luật của giai cấp t
sản cầm quyền một cách có lợi cho cuộc sống những ngời lao động. Theo
Ăngghen: phong trào Hiến chơng ở Anh đã trở thành một phong trào công
2
nhân thuần tuý về bản chất phong trào hiến chơng ở Anh là một hiện tợng có
tính chất xã hội tất cả công nhân công nghiệp đều nhất trí rằng họ là những
công nhân- đó là danh hiệu họ rất tự hào, danh hiệu phổ biến trong những
cuộc hội họpcủa phái Hiến chơng, rằng họ họp thành giai cấp độc lập có
những lợi ịch và nguyên tắc riêng, có thế giới quan riêng, là giai cấp đối lập
với giai cấp có của, đồng thời cũng là giai cấp làm cơ sở cho sức mạnh và khả
năng phát triển sau này của dân tộc
1
Những sự kiện lịch sử ấy cho thấy mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất
mang tính xẫ hội và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu t nhâắtt bản
về t liệu sản xuất đã đợc thể hiện trên bề nổi xã hội thành mâu thuẫn không
thể điều hoà giữa giai cấp sản bóc lột thông trị và giai cấp những ngời lao
động làm thuê bị bóc lột.
Tình hình thựctế đó báo hiệu rằng xã hội không thể sống yên ổn dới sự
thôngtrị của giai cấp t sản, rằng giai cấp t sản không thể tơng dung với sự tồn
tại của một xã hội đang đòi hỏi cần có sự công bằngvà bình đẳng giữa ngời
với ngời.
Giai cấp t sản là một lực lợng đã góp phần công sức có ý nghĩa quyết
định vào sự hình thành nền công nghiệp lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại nh
một vũ khí thủ tiêu chế độ quân chủ chuyên chế, nhng nó đã không thấy rằng
nền công nghiệp lớn còn là điều kiện vật chất bảo đảm cho giai cấp công nhân
thoát khỏi tình trạng phân tán để đoàn kết nhau lại và hơn nữa, còn là điều
kiện vật chất quyết định sự sụp đổ không thể tránh khỏi trong tơng lai của bản
thân giai cấp t sản cầm quyền. Đó là những cơ sở kinh tế, xã hội khách quan
hội lý luận Đức không bao giờ quên rằng nó là sự tiếp nối Xanhximông,
Phuriê và Ôoen ba nhà t tởng mặc dầu tất cả tính chất ảo tởng trong các học
thuyết của họ thuộc về những trí tuệ vĩ đại nhất và đã tiên đoán đợc một cách
thiên tài vô số những chân lý mà ngày nay chúng ta đang chững minh sự đúng
đắn của chúng một cách khoa học.
2. C.Mác và Ăngnghen sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây
là kết quả quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn của Mác và
Ăngnghen từ buổi đầu những năm 40 của thế kỷ XIX.
C. Mác đã vận dụngvà phát triển thành công những quan điểm duy vật
và phơng pháp biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội; nhờ vậy đã
phát hiện ra những qui luật vận động của lịch sử, trớc hết là qui luật về sự
chuyển biến và kế tiếp của các hình thái kinh tế - xã hội. Mác và Ăngghen đã
sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tiến thêm một bớc nữa đã vận dụng
những quan điểm duy vật về lịch sử và những yếu tố hợp lý của nền kinh tế
học cổ điển Anh vào việc nghiên cứu phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa một
cách toàn diện và mang tính triệt để. Hai ông đã sáng lập ra học thuyết giá trị
thặng d. Sau này, Ăngnghen đã nhận định: hai phát kiến vĩ đại ấy - quan
niệm duy vật về lịch sử và việc dùng giá trị thặng d để bóc trần bí mật sản
4
xuất t bản chủ nghĩa là công lao của Mác. Nhờ hai phát kiến ấy, chủ nghĩa xã
hội thành một khoa học mà ngày nay, vấn đề trớc hết là phải nghiên cứu thêm
trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó
Tuyên ngôn của đảng cộng sản là cột mốc ghi nhận sự hình thành về cơ
bản, chứ cha phải là đỉnh cao của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nội dung của
tuyên ngôn bắt đầu từ luận điêmt nói rằng từ khi xã hội phân chia thành giai
cấp lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trớc tới nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai
cấp. Những cuộc đấu tranh đã đi đến một giai đoạn- (giai đoạn t bản chhủ
nghĩa)- mà giai cấp vô sản không thể tự giải phóng nếu không đồng thời và
vĩnh viễn giải phóng toàn xã hội thoát khỏi tình trạngphân chia thành giai cấp,
áp bức, bóc lột giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là mục đích lý tởng của giai
vững chắc thêm hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử, mở đờng cho sự hình
thành hệ thống lý luận kinh tế tren lập trờng giai cấp công nhân.
Sau này Lênin khảng định thêm rằng từ khi bộ T bản ra đời, quan niệm
duy vật lịch sử không còn là một giả thuyết nữa, mà là một nguyên lý đã đợc
chứng minh một cách khoá học; và chừng nào chúng ta cha tìm ra đợc một
cách nào khác để giải thích một cách khoa học sự vận hành và sự phát triển
của một hình thái xã hội nào đó - của chính một hình thái xã hội, chứ không
phải của một nớc hay một dân tộc, hoặc thậm chí của một giai cấp nữa vv, thì
chừng đó quan niệm duy vật lịch sử vẫn cứ là đồng nghĩa với khoa học xã
hội. V.I. Lênin còn cho rằng, bộ T bản là tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình
bày chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều này có ý nghĩa khái quát là bộ T bản
đã làm sáng tỏ qui luật hình thành, tồn tại, phát triển và diệt vong tất yéu của
chủ nghĩa t bản, đồng thời chỉ ra rằng sự thay thế chủ nghĩa t bản bằng chủ
nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân là lực lợng xã hội quyết định sự lật đổ chế độ t bản chủ nghĩa và xây
dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, những ngời mác xít chân chính không ai cho rằng C. Mác và
Ăngnghen chỉ có u điểm và không hề có khuyết điểm nào trong suy nghĩ cũng
nh trong lời nói và hành động, chỉ có những kẻ điên đầu mới đòi hỏi hai ông
phải biết tất cả, phải nói và làm đúng tất cả và vào bất cứ thời gian nào.
Không ai hiểu đúng bản thân mình hơn là chính C. Mác và Ph.
Ăngnghen. Hai ông không cho rằng học thuyết của mình là mọt hệ thống giáo
điều nhất thành bất biến hay một tập thanh th dể lại cho đời sau tụng
niệm. Trái lại, đã nhiều lần hai ông chỉ rõ đó chỉ là gợi ý cho mọi sự suy nghĩ
và hành động mà thôi.
Trong lời nói đầu viết cho tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ năm
1848 đến 1850 của C. Mác, Ănghen đã thẳng thắn tự phê bình rằng chính hai
ông đã có sai lầm khi đánh giá về khả năng nổ ra của những cuộc cách mạng
vô sản ở châu Âu, vì lẽ lịch sử đã chỉ ra rằng trạng thái phát triển kinh tế trên
6
Về mặt xã hội, mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
tăng mạnh, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai
cấp t sản ngày càng trở nên gay gắt, mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với
giai cấp t sản, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc,
7
mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với nhau. Đây cũng là nguyên nhân của
cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.
Về chính trị, giai cấp t sản dần dần hết vai trò tiến bộ trong xã hội, trở
nên phản động ăn bám và thối nát, mất hết vai trò trung tâm của thời đại, tạo
ra khâu yếu trong sợi dây truyền cảu chủ nghĩa đế quốc, làm cho tình thế cách
mạng xã hội chủ nghĩa chín muồi và chủ nghĩa đế quốc vào những năm đầu
của thế kỷ XX nh Lênin nhận xét là đêm trớc của cách mạng vô sản. Và thời
đại lúc này là thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. Vấn đề
chuyên chính vô sản đợc đặt ra một cách trực tiếp. Lênin phát triển khẩu hiệu
chiến lợc của Mác vô sản các nớc đoàn kết lại thành khẩu hiệu vô sản các
nớc và các nớc thuộc địa liên hợp lại. Lúc này trung tâm cách mạng chuyển
từ Đức sang Nga
V. I Lênin đã tiếp tục làm giàu thêm lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa
học trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và trong hoàn cảnh mà chủ nghĩa Mác đã
giành u thế trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lênin còn là ngời
đầu tiên vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực
tiễn đấu tranh xây dựng chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, cải tạo xã hội cũ và bắt đầu đi vào xây dựng một xã hội
mới - xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực.
Nếu C. Mác và Ăngghen đã có công làm cho chủ nghĩa xẫ hội từ không
tởng thành khoa học, thì Lênin lại có công bảo đảm làm cho lý luận của chủ
nghĩa xã hội khoa học trở thành sức mạnh vật chất trong đời sống xã hội. Thực
tế lịch sử đã chứng minh đất nớc Xô Viết do V. I. Lênin và Đảng Bônsêvích
cùng toàn thể nhận dân XôViết xây dựng nên đã tồn tại và phát triển trong
suốt 70 năm qua với t cách là một quốc gia xã hội chủ nghĩa, một lực lợng góp
ợng thù địch với một chừng mực thoả đáng trong nhữg trờng hợp cần thiết để
bảo vệ quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
V. I. Lênin là ngời đầu tiên nói đến phạm trù hệ thống chuyên chính vô
sản đợc xem nh một hệ thống cơ cấu tổ chức, đồng thời là một hệ thống cơ
cấu quan hệ giữa Đảng Cộng sản Bônsêvích lãnh đạo, Nhà nớc Xôviết quản lý
và tổ chức công đoàn - nguồn sức mạnh của cả Đảng và Nhà nớc.
V. I. Lênin đã luận giải rõ ràng luận điểm của Mác nói về thời kỳ quá
độ chính trị từ xã hội t bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chính
ngời đã nhiều lần dự thảo cơng lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga; nêu ra
nhiều luận điểm độc đáo nh : Cần có những bớc quá độ nhỏ trong thời kỳ quá
độ nói chung lên chủ nghĩa xã hội ; giữ vững chính quyền Xôviết và tiến hành
điện khí hoá toàn quốc là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết để đi lên chủ nghĩa xã
hội; liên minh công nông là nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản; trí
thức là lợng lợng quan trọng để xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản; cần
học tập các chuyên gia t sản, kể cả chuyên gia quân sự tán thành chính quyền
Xô viết, v.v . Lênin đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh đất nớc
9
có rất nhiều dân tộc khác nhau. Ba nguyên tắc cơ bản trong cơng lĩnh dân
tộc nổi tiếng của Lênin là: quyền bình đẳng dân tộc,quyền dân tộc tự quyết
và tình đoàn kết của giai cấp vô sản thuộc tất cả các dân tộc, khi quốc tế cộng
sản thay khẩu hiệu vô sả các nớc đoàn kết lại thành vô sản tất cả các nớc
và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại.
Sau thời kỳ nội chiến và chống kẻ thù xâm lợc, Nhà nớc Xôviết chuẩn
bị sang thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới. Nội dung của chính sách
kinh tế mới chẳng những nhằm ổn định và phát triển kinh tế mà còn nhằm
củng cố khối liên minh công nông. Tổng kết những kinh nghiệm hoạt động
chính trị, chủ yếu là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, chỉnh đốn bộ
máy nhà nớc, phát huy quyền làm chủ của các đoàn thể quần chúng cách
mạng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, những ph-
ơng hớng và hành động có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nhgiệp chung
đoạn hiện nay.
Sau khi Lênin từ trần đến nay, đời sống kinh tế, chính trị thế giới chứng
kiến nhiều chuyển biến quan trọng. Chiến tranh thế giới lần thứ hai do các thế
lực đế quốc phản động cực đoan gây ra kéo dài từ năm 1939 đến năm 1945,
dẫn đến những hậu quả khủng khiếp cho toàn thể nhân loại. Trong phe đồng
minh chống phátxít, Liên Xô đẫ góp phần cống hiến có ý nghĩa quyết định
nhất để chiến thắng và đa chủ nghĩ phátxít trên thế giới đến thảm bại, giải
thoát hàng triệu ngời thoát khỏi tai hoạ chiến tranh tàn khốc.
Từ cuối những năm 1940 qua những năm 1950, từng bớc hình thành hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới, tạo ra tình hình so sánh lực lợng quốc tế có
lợi cho hoà bình , độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hệ thống xã hội chủ
nghĩa trở thành đối trọng mà phe đế quốc không thể coi thờng. Phong trào giải
phóng dân tộc trở thành một dòng thác cách mạng, tiến công vào hậu phơng
của chủ nghĩa đế quốc. Là giai đoạn vùng dậy không gì ngăn cản đợc của
nhân dân các nớc phụ thuộc, thuộc địa đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc,
thực dân, giành độc lập dân tộc và một số nớc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Kể từ năm 1945 đến năm 1960 có hơn một trăm nớc giành đợc độc lạp dân tộc
ở những mức độ khác nhau, hơn 2 tỷ ngời đợc giải phóng; chủ nghĩa thực dân
kiểu cũ cơ bản đợc xoá bỏ. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động ngày
càng thức tỉnh và trở thành lực lợng nòng cốt cho phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc, có chỗ dựa vững chắc vào hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chủ
nghĩa Mác đợc truyền bá sâu vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và
một số nớc mà do Đảng Cộng sản lãnh đạo, sau khi giành đợc độc lập đã tién
thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế thuộc các nớc t bản phát triển mạnh mẽ, trở thành một dòng thác cách mạng
11
tấn công vào sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc lâm vào
khủng hoảng, kinh tế suy thoái, hệ thống thuộc địa sụp đổ, bị ảnh hởng hậu
quả chiến tranh nặng nề; địa vị chính trị của giai cấp t sản bị lung lay; phong
kiện các đảng Cộng sản công nhân trên thế giới; tuyên bố chung của các các
12
cuộc gặp gỡ các Đảng Cộng sản, các Nhà nớc đối với nhau. Một số vấn đề lý
luận cơ bản đã đợc phát triển là
Một là, lý luận về thời đại ngày nay và quá trình cách mạng thế giới.
Những vấn đề về thời đại ngày nay đợc Lênin trình bày khá toàn diện và sâu
sắc trong tác phẩm dới ngọn cờ của ngời khác. Tại hội nghị 1957 của các
Đảng cộng sản và công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva khảng định nh sau: thời
đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới,
mở đầu bằng cách mạng Tháng Mời Nga vĩ đại năm 1917. Về nội dung thời
đại là thời đại đấu tranh gia hai hệ thống đối lập (chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa đế quốc); là thời đại của cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân
tộc, thời đại của sự sụp đổ chủ nghĩa đế quốc và có nhiều dân tộc chuyển sang
chủ nghĩa xã hội. Về tính chất của thời đại, là thời đại quá độ lâu dài quanh
co, phức tạp. Về bản chất thời đại, là thời đại cách mạng, thời đại thông qua
đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt để giải quyết vấn đề ai thắng ai giữa chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa t bản. Mâu thuẫn cơ bản của thời đại là mâu thuẫn
giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa t bản; mâu thuẫn các dân tộc với chủe
nghĩ đế quốc; mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp t sản, mâu thuẫn
các nớc t bản, chủe nghĩa đế quốc với nhau. Mục tiêu của thời đại là hoà bình,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đó là mục tiêu của tất cả các lực lợng
cáchmạng trên thế giới. Những vấn đề lý luận đó là cơ sở để các đảng cộng
snả đề ra đờng lối chiến lợc đối với cách mạng.
Hai là, những vấn đề có tính qui luật của quá trình xây dựng chủ nghia
xã hội. Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân các nớc xã hội chủ nghĩa
năm 1957 đã nhất trí đa ra chín qui luật chung của công cuộc cải tạo và xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên tinh thần những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội
khoa học. Sự thống nhât lực lợng của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế còn đợc chứng minh bằng hội nghị đại biẻu của 81 Đảng Cộng sản và công
nhân tại Mátxcơva vào tháng giêng năm 1960. Những nguyên lý của chủ
Cùng với những vấn đề trên, vấn đề quan hệ dân tộc, giai cấp và nhân
loại dới chủ nghĩa xã hội cũng đã đợc phát triển. Từ cơ sở chính trị của chủ
nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thực hiện sự bình đẳng, bình quyền
của các nớc xã hội chủ nghĩa nói chung và các dân tộc nói riêng. Vấn đề
chiến tranh và hòa bình cũng đợc Hội nghị các Đảng cộng sản và công nhân
quốc tế quan tâm nhấn mạnh trên một số khía cạnh. Phơng hớng giải quyết
khoa học về vấn đề chiến tranh và hoà bình là: tìm cách loại bỏ chiến tranh
ra khỏi đời sống xã hội nhất là chiến tranh xâm lợc của chủ nghĩa đế quốc;
hoà bình không bao giờ tự đến, muốn có nó phải thờng xuyên đấu tranh
cách mạng, trớc hết phải thực hiện mục tiêu cách mạng thế gii trong thời
đại ngày nay là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; những ngời
cộng sản phải hoàn toàn phản đối chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh xâm l-
14
ợc, bảo vệ Tổ quốc và làm cho quần chúng nhân dân lao động hiểu đợc điều
đó về chiến tranh.
Giai đoạn cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào nhng
nội dung và tính chất của thời đại không thay đổi. Các mâu thuẫn của thời đại
vẫn tồn tại và phát triển cả nội dung và hình thức. Đấu tranh giai cấp diễn ra
phức tạp. Trật tự thế giới hai cực đã bị sụp đổ, trật tự thế giới mới đang trong
quá trình hình thành theo hớng đa trung tâm, đa cực. Cuộc cách mạng khoa
học công nghệ phát triển nh vũ bão, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống
xã hội trên toàn thế giới. Vấn đề toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt, không
một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết nếu không có sự hợp tác, liên kết
giữa các quốc gia với nhau. Những năm cuối thể kỷ XX đầu thế kỷ XXI, tình
hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp. Xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo,
chiến tranh cục bộ, khủng bố diễn ra ở nhiều nơi. Sau sự sụp đổ ở Liên Xô và
Đông Âu, đến đầu thế kỷ XXI phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có
dấu hiệu phục hồi. Đặc biệt, ở các nớc xã hội chủ nghĩa nh Việt Nam, Trung
Quốc đã và đang thực hiện thắng lợi sự nghiệp cải cách, đổi mới. Phong trào
hoại đạo đức lối sống gia đình, văn hoá và sự diệt vong của chủ nghĩa t bản là
tất yếu khách quan.
Tình hình trên tất yếu phải đổi mới mà trớc hết là đổi mới t duy lý luận.
Nhận thức đúng mới có đờng lối đúng và hành động đúng. Những vấn đề lý
luận về chủ nghĩa xã hội đợc phát triển từ Đại hội VI đến nay bao gồm nhiều
vấn đề nh: bảo vệ và phát triển lý luận về thời đại ngày nay; sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của nó trong sự nghiệp đổi mới
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc; khảng định chủ nghĩa Mác - Lênin là
nền tảng kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng; vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản và phơng hớng xây dựng Đảng trong tình hình mới; vấn đề
dân chủ trong hệ thống chính trị xã hội; về thời kỳ quá độ và con đờng đi lên
chủ nghĩa xã hội; những vấn đề chiến lợc, sách lợc trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc; những bài học kinh nghiệm quí báu đợc rút ra từ quá trình xây dựng
và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bảo vệ và phát triển lý luận thời đại ngày nay là vấn đề cơ bản, đầu tiên
quyết định để nhận thức đúng thế giới và đất nớc ta; là cơ sở để định ra đờng lối
đối nội và đối ngoại đúng đắn. Quan điểm nhất quán của Đảng trong các văn
kiện Đại hội Đảng đều khảng định nội dung cơ bản của thời đại ngày nay là
thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế
giới, đợc bắt đầu từ cách mạng tháng Mời Nga năm 1917. Thời đại đấu tranh
cho hoà bình, độc lập dân tộc , dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Thời đại diễn ra hai
16
cuộc cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng xã hội chủ nghĩa có quan
hệ biện chứng tác lẫn nhau, nhng không thể thay thế cho nhau.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của nó. Đây là phạm
trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học, là tiêu chí để phân biệt đâu là
đảng mácxít chân chính, đâu là giả hiệu; nay là vấn đề trung tâm của học giả
t sản và các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Đảng ta khảng định, giai cấp công nhân vẫn có sứ mệnh lịch sử
thủ tiêu chế độ t bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Vì địa
phải trả giá đắt. Vì vậy việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, t tởng và tổ
chức là nhiệm vụ then chốt của mọi thời kỳ cách mạng.
Cơng lĩnh năm 1991 đã chi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là độ tiên
phong của giai cấp công nhân Việt, đại biểu trung thành của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩ Mác - Lênin và
t tởng Hô Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung
dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cơng lĩnh, chiến
lợc, các định hớng về chính sách và chủ trơng công tác; bằng công tác tuyên
truyền, thuyết phục, vận động tổ chức kiểm tra và bằng hành động gơng mẫu
của cán bộ đảng viên. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ
phận của hệ thống chính trị. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự
giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Qua các nhiệm kỳ đại hội, nhận thức về Đảng có bớc phát triển mới. Về bản
chất của Đảng, Đại hội XI đã bổ sung và xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là
đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của cả dân tộcViệt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao đông và của cả dân tộc.Việc khảng định trên phù hợp
với t tởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân.
Về nền tảng t tởng của Đảng: trên cơ sở khảng định cơng lĩnh của năm
1991 Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm nềm tảng,
kim chỉ nam cho hành động, Đại hội IX của Đảng đã phát triển nhận thức t tởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại;
t tởng Hồ Chí Minh soi đờng cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi,
là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Đây là bớc phát triển quan
trọng trong nhận thức và t duy lí luận của Đảng ta.
Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; trên cơ sở kế thừa
những nội dung trong Cơng lĩnh năm 1991, điều lệ Đảng cộng sản đợc thông
V c im thi k quỏ lờn ch ngha xó hi Vit Nam, cng
lnh nm 1991 ó xỏc nh: nc ta quỏ lờn ch ngha xó hi vốn l nc
thuc a, na phong kin, lc lng sn xut rt thp; t nc tri qua chin
19
tranh ác liệt kéo dài nhiều năm, hạu quả do chiến tranh để lại rất nặng nề, các
thế lực thường xuyên tìm cách phá hoại đó là những khó khăn khách quan
trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho thấy thời kỳ quá
độ ở nưc ta là một thời kỳ kịch sử lâu dài, phải giải quyết hang loạt nhiÖm vụ
mi mẻ, phức tạp chưa có tiền lệ. Bên cạnh đó, Việt nam quá độ lên chủ nghĩa
xã hội cũng có nhiều thuận lợi: đất nưc hòa bình thống nhất, dân tộc có truyền
thống anh hùng, bất khuất, nhân dân có lòng yêu nưc và cần cù lao động;
chúng ta có một số cơ sở vật chất ban đầu, thời cơ phát triển do cách mạng
khoa học công nghệ và xu thế quốc tế hóa đời sông kinh tế thế gii tạo ra.
Hơn 25 năm qua, Đảng ta nhận thức ngày càng rõ và đầy đủ hơn con
đường đi lên của nưc ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tức bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa
những thành tựu mà nhânloại đạt được dưi chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là về
khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo
sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn
phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài vi nhiều chặng
đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ; trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mi.
Sự phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng ta còn được
thể hiện trong nhận thức mi về đặc trưng của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân
ta xây dựng. Được thể hiện từng bưc trong các văn kiện Đại hội VIII, Đại
hội IX; đặc biệt rõ nhất trong văn kiện Đại hội X và Đại hội XI: xã hội chủ
nghĩa là một xã hội dân giàu, nưc mạnh, dân chủ, công bằng , văn minh; do
nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất
đoạn cách mạng hiện nay. Bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo cách
mạng Việt Nam không chỉ có ý nghĩa đối vi cách mạng nưc ta mà còn
có ý nghĩa đối vi phong trào cách mạng thế gii trong quá trình đổi mi
và phát triển.
Nghiên cứu những vấn đề phát triển lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa
học do những biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị xã hội… cho ta hiểu sâu
sắc hơn về qui luật hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Không nên quan niệm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là có sẵn mà đó là
một quá trình tìm tòi, sang tạo không mệt mỏi của những người vô sản trên cơ
sở hoạt động thực tiễn cách mạng của mình để làm rõ hơn con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội; không nôn nóng, chủ quan, duy ý chí mà phải tuân theo qui
luật khách quan của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác –
lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng không ngừng tổng kết,
phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học.
Nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá
trình lâu dài. Thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện mi, phải
nắm vững các bài học kinh nghiệm đó là: giữ vững độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; kết hợp ngay từ đầu đổi mi kinh tế vi đổi mi chính trị, xây dựng
kinh tế thị trường định hưng xã hội chủ nghĩa; mở rộng khối đại đoàn kết
toàn dân trên cơ sở liên minh giai cấp. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối vi sự nghiệp cách mạng.
22