SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
GẮN LIỀN VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ
MỞ ĐẦU
Trước khi chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời đã có những trào lưu,
những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng. Vào giữa thế kỷ XIX, chủ
nghĩa tư bản có những bước phát triển đồng thời bộc lộ những mâu thuẫn
ngày càng rõ rệt và cũng xuất hiện những tiền đề cho cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Trên cơ sở hiện thực ấy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã có đủ
những căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn để sáng lập ra chủ nghĩa xã hội
khoa học. Từ đó chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng gắn bó chặt chẽ với
thực tiễn sản xuất và phong trào công nhân, vừa phản ánh, vừa soi sáng con
đường giai cấp công nhân tiến lên hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học một nấc thang cao hơn
trong lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhân loại qua các giai đoạn của nó
gắn liền với sự phát triển của hiện thực xã hội và thực tiễn cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp công nhân quốc tế. Toàn bộ lý luận chủ nghĩa xã hội
khoa học cũng như mỗi nguyên lý của nó, trải qua chiều dài lịch sử, ngày
càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn. bằng tư duy khoa học
sáng tạo trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện
chứng; qua thực tiễn đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế; trước những đổi mới của cuộc sống và thời đại, lý luận chủ nghĩa xã
hội khoa học ngày càng thể hiện tính đúng đắn và sức sống của mình, thực
sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai
cấp công nhân quốc tế, các Đảng công sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa và
1
cộng sản chủ nghĩa, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng giai cấp,
giải phóng xã hội và giải phóng loài người.
Trong mỗi nước khác nhau và mỗi giai đoạn khác nhau của thời kỳ quá
độ từ chế độ tư bản chủ nghĩa (hoặc trước tư bản chủ nghĩa) lên chế độ xã hội
chủ nghĩa đích thực và hoàn chỉnh, nói chung, nội dung các phạm trù và
nguyên lý về cơ bản là không thay đổi, nhưng do điều kiện lịch sử có những
Để đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải cải tạo thế giới bằng hoạt
động thực tiễn, trong quá trình đó, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân
mình, phát triển năng lực, trí tuệ. Con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế
giới, khám phá những bí mật của thế giới, càng làm phong phú và sâu sắc hơn tri
thức của mình. Theo đó, thông qua thực tiễn đã xuất hiện nhu cầu, nhiệm vụ,
phương hướng của nhận thức; xuất hiện nhu cầu tổng kết kinh nghiệm, khái quát
lý luận của con người và thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các ngành khoa học.
Thực tiễn có khả năng tạo ra công cụ, phương tiện phục vụ cho quá
trình nhận thức mà hoạt động tinh thần không thể có khả năng trực tiếp
về vấn đề đó. Những công cụ, phương tiện hiện đại giúp con người nhận
3
thức ngày càng nhanh, xa và hiệu quả, dù trong những điều kiện khó
khăn phức tạp hơn.
Thông qua động thực tiễn con người tác động vào thế giới, buộc thế giới
phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người có điều kiện, khả
năng nhận thức ngày càng sâu sắc hơn. V. I. Lênin đã chỉ ra rằng: Thế giới bí
ẩn sẽ hoàn toàn bí ẩn với con người nếu không có sự tác động của con người
vào đó. Sự tác động của con người vào thế giới khách quan diễn ra một quá
trình từ việc thu thập những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến
hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phát
triển thành lý luận và từ lý luận lại trở về chỉ đạo thực tiễn. Không có thực
tiễn thì không có nhận thức, không có lý luận. Mọi tri thức dù trực tiếp hay
gián tiếp, đối với người này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác, dù ở
giai đoạn cảm tính hay lý tính, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ thực tiễn.
Lý luận trở thành khoa học, trở thành chân lý không những nó phải xuất
phát từ thực tiễn mà còn phải được thực tiễn kiểm nghiệm đúng. C. Mác viết:
“Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đi tới chân lý khách quan
hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề nhận thức mà là vấn đề thực tiễn.
Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”
2
mạng mà chủ thể hoạt động thực tiễn có cơ sở hình thành, phát triển nhân
cách và nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn.
Như vậy, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn. Tuy
nhiên, cùng với nhận thức được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lý luận thì
chủ thể hoạt động không nên cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực
tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn.
Theo đó, ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác đã mang trong mình bản
chất cách mạng, khoa học gắn bó chặt chẽ với phong trào công nhân, là hệ tư
tưởng của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác ra đời đã được giai cấp vô sản
tiếp nhận như một công cụ định hướng cho hành động, như vũ khí lý luận
trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại.
Công cụ định hướng này, vũ khí lý luận này đã tạo nên bước chuyển biến về
chất của phong trào công nhân từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác. C.Mác
và Ph.Ănghen nhận định: giống như chủ nghĩa duy vật biện chứng thấy giai
5
cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy chủ nghĩa
duy vật biện chứng là vũ khí tinh thần của mình nên ngay từ đầu, cái khuynh
hướng mới, coi lịch sử phát triển của lao động là chìa khóa để hiểu toàn bộ
lịch sử của xã hội, đã chủ yếu hướng về giai cấp vô sản và đã được giai cấp
vô sản giành cho một sự hưởng ứng mà nó không tìm thấy và không mong
chờ có được ở một nơi nào khác.
Lý luận Mác là hệ thống nguyên lý cơ bản về sự chuyển biến tất yếu của
xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản thông qua thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Việc vận dụng
các nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn đòi hỏi phải bám sát thực tiễn
phong trào giai cấp công nhân để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm
khuyết của lý luận hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn,
thông qua tổng kết phong trào công nhân để phát triển lý luận, làm cho lý luận
Mác xít luôn có sức sống mới đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Lênin chỉ rõ:
“Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và
thập kỷ đó không thể đảm đương; không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư
tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự sinh thành
ra lý luận mới, tiến bộ soi sáng sự vận động đi lên của lịch sử.
Vượt lên trên tất cả các học giả đương thời, C.Mác và Ph.Ănghen đã nắm bắt
được yêu cầu lịch sử, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, tích cực hoạt động lý luận,
thực tiễn trong phong trào công nhân; kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, tiếp thu
có phê phán nền triết học cổ điển Đức (tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc), kinh tế
chính trị cổ điển Anh (tiêu biểu là Ađam Xmít và Đavít Ricácđô), các học thuyết
chủ nghĩa xã hội không tưởng-phê phán Pháp (tiêu biểu là Hăngriđơ Xanh
Ximông, Sáclơ Phuriê và Rôbơc Ôoen), hình thành nên chủ nghĩa xã hội khoa học
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” vào tháng 2-1848.
Những nguyên tắc cơ bản mà tuyên ngôn chỉ ra cho giai cấp vô sản là:
Thứ nhất, trong xã hội hiện đại, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách
mạng nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Sứ mệnh đó là do địa vị kinh tế-xã hội
của giai cấp vô sản quy định.
Thứ hai, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công
nhân đảm nhiệm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân.
7
Thứ ba, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình giai cấp vô sản phải tiến
hành đấu tranh cách mạng, dùng bạo lực lật đổ ách thống trị của giai cấp tư
sản, tổ chức giai cấp mình thành giai cấp thống trị, từng bước xóa bỏ chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Thứ tư, trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng giai cấp công nhân phải tổ
chức ra được chính Đảng độc lập của mình đối lập với tất cả các chính Đảng
của giai cấp hữu sản.
Thứ năm, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn
ra trước hết trên từng địa bàn dân tộc, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải
giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc.
Thứ sáu, nguyên tắc sách lược chung của Đảng cộng sản là phải ủng hộ
nhân”, “chuyên chính của những người bạn đồng minh của giai cấp nông
dân”, hay đó là “chuyên chính của giai cấp vô sản”. Trong tác phẩm “Đấu
tranh giai cấp ở Pháp”, C.Mác gắn tư tưởng chuyên chính vô sản với khái
niệm cách mạng không ngừng, cách mạng vô sản. Ông chỉ rõ: “chủ nghĩa xã
hội nay là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính của giai cấp
vô sản, coi đó là quá độ tất yếu đi đến xoá bỏ tất cả các quan hệ sản xuất…”
4
.
Rõ ràng, C. Mác đã chỉ ra rằng, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chủ nghĩa xã
hội, giai cấp vô sản phải tiến hành cuộc cách mạng không ngừng và kết quả,
đồng thời cũng là bước tiếp theo của nó là phải thiết lập được nền chuyên
chính vô sản, dùng nền chuyên chính này để xoá bỏ quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa- cái cơ sở kinh tế để sinh ra chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ
nghĩa. Như vậy là tư tưởng chuyên chính vô sản được phát triển mở rộng
thêm, Nhưng đến giai đoạn này, C.Mác- Ph. Ăngghen mới nêu ra sự cần thiết
và tất yếu phải giành được chính quyền trong quá trình đấu tranh của giai cấp
vô sản, còn thái độ của giai cấp vô sản đối với bộ máy của giai cấp tư sản như
thế nào thì giai hai ông chưa đề cập đến. Vấn đề này được các ông đề cập đến
trong tác phẩm “ngày 18 tháng sương mù của Lui-Bônapactơ” C.Mác viết
năm 1851. Đó là thái độ dứt khoát là phải đập tan bộ máy nhà nước áp bức
đó. C.Mác viết: “Tất cả các cuộc cách mạng đều hoàn bị bộ máy nhà nước đó
chứ không phải đập tan nó, các chính Đảng nối gót đấu tranh giành chính
9
quyền đều coi việc đoạt lấy toà lâu đài nhà nước đồ sộ ấy là chiến lợi phẩm
chủ yếu của thắng lợi của mình”
5
.
Có thể nói, tư tưởng về chuyên chính vô sản của C.Mác- Ph. Ăngghen đã
tiến thêm một bước làm rõ, giai cấp vô sản không chỉ giành lấy chính quyền
nhà nước mà nó phải phá huỷ, đập tan bộ máy nhà nước đó.
thắng lợi hoàn toàn của giai cấp vô sản. Trong thời kỳ này hai ông chưa nêu
cụ thể quan niệm của mình về độ dài của quá trình cách mạng sắp diễn ra.
Sau thất bại của cách mạng 1848 – 1849, C.Mác – Ph.Ănghen đặc biệt chú
ý đến triển vọng phát triển của của cách mạng, đến tiến trình lâu dài, phức tạp,
quanh co của quá trình cách mạng sắp diễn ra, trên cơ sở đó, C.Mác và
Ph.Ănghen nêu lên tư tưởng cách mạng không ngừng. Chính tư tưởng cách
mạng không ngừng đã thể hiện rõ tính lâu dài, phức tạp của quá trình cách mạng.
Theo C.Mác, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sắp diễn ra không phải là con
đường thẳng tắp, diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, trong chốc lát mà mà là
một quá trình lâu dài, phức tạp, quanh co và phân chia giai đoạn; thời kỳ đấu tranh
giành chính quyền trực tiếp, có thể đan xen với các thời kỳ tương đối yên tĩnh,
thời kỳ hòa bình, ổn định; trong đó các giai cấp, các lực lượng khác nhau sẽ lần
lượt thay nhau nắm chính quyền đến khi lập nên nền chuyên chính vô sản, mở đầu
bước quá độ từ xã hội có giai cấp lên một xã hội khong có giai cấp.
Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, C.Mác chỉ rõ cuộc cách mạng
Pháp lúc đó có hai giai đoạn (hai cuộc cách mạng): cách mạng tháng Hai là cuộc
cách mạng dân chủ tư sản nhưng nó lại mang màu sắc xã hội chủ nghĩa. Cuộc
cách mạng này được đông đảo công nhân tham gia và C.Mác đã khẳng định
cách mạng tháng Hai là cách mạng đẹp vì nó thắng lợi, nó thắng lợi là do mâu
thuẫn đã chín muồi. Cách mạng tháng Hai đã dọn đường, chuẩn bị cho các cuộc
cách mạng về sau. Kể từ sau cách mạng tháng Hai, xã hội tồn tại hai giai cấp cơ
bản là vô sản và tư sản đấu tranh với nhau. Cuộc cách mạng tháng Sáu là cuộc
cách mạng của giai cấp vô sản trực tiếp đấu tranh chống giai cấp tư sản. C.Mác
gọi đây là cuộc cách mạng giao chiến lớn đầu tiên, nhưng theo C.Mác “cuộc
cách mạng tháng Sáu lại đáng tội chết”, cuộc cách mạng đáng ghê tởm, đáng
ghét. Bởi vì, các điều kiện kinh tế - xã hội để cách mạng nổ ra và giành thắng lợi
11
chưa xuất hiện, chưa chín muồi; bởi vì: hành động đã thay thế cho lời nói, vì
“nền cộng hòa đã để lộ trần cái đầu của bản thân con quái vật ra bằng cách vứt
bỏ cái vương miện đã che chở và ngụy trang nó” .
mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai
đoạn quá độ tất yếu để đi đến xóa bỏ những khác biệt giai cấp nói chung, xóa
bỏ tất cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những khác biệt giai cấp, xóa
12
bỏ tất cả những quan hệ xã hội tương ứng với những quan hệ sản xuất đó, tạo
nên sự biến đổi có ý nghĩa bước ngoặt trong tất cả những tư tưởng sinh ra từ
quan hệ sản xuất đó”. Bên cạnh mặt chính trị - xã hội, C.Mác – Ph.Ănghen còn
đặc biệt chú ý đến mặt kinh tế - xã hội, đến những biện pháp kinh tế - xã hội để
tạo ra những biến đổi căn bản trong quan hệ xã hội gắn với thời kỳ quá độ.
* Tư tưởng về liên minh công nông.
Từ sự thất bại của cách mạng 1848 – 1849, C.Mác – Ph.Ănghen đã đi
sâu nghiên cứu cơ sở giai cấp – xã hội của các sự kiện lịch sử. Hai ông đi đến
kết luận: muốn cho cách mạng ở các nước đông nông dân thành công thì phải
cần có sự liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân. C.Mác viết: công nhân
Pháp không thể tiến lên một bước nào và cũng không thể động đến một sợi
tóc nào của chế độ tư sản trước khi nông dân Pháp đứng giữa giai cấp tư sản
và vô sản, tức là nông dân và giai cấp tiểu tư sản. Vai trò của nông dân trong
tiến trình cách mạng được C.Mác – Ph.Ănghen đánh giá cao: cán cân lên hay
xuống ra sao, đó là tùy theo vào lá phiếu của nông dân.
Đến năm 1852, trong lần đầu xuất bản tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù
của Lu I Bô-na-pác-tơ”, C.Mác nhấn mạnh: khi nông dân trở thành đồng minh
của giai cấp vô sản thì cách mạng vô sản mới thực hiện được bài đồng ca, mà
nếu không thực hiện được bài đồng ca này, thì trong tất cả các nước nông dân,
bài đơn ca của giai cấp vô sản sẽ trở thành một bài ai điếu. Về cách mạng ở Đức
C.Mác viết: tất cả những vấn đề ở Đức sẽ tùy thuộc vào khả năng ủng hộ cuộc
chiến tranh nông dân. Chỉ trong trường hợp ấy thì mọi việc mới trôi chảy.
Từ sự phân tích về lợi ích của giai cấp nông dân và lợi ích cảu giai cấp
vô sản, C.Mác cho rằng về cơ bản là thống nhất và không ai khác ngoài giai
cấp vô sản là người đại biểu cho lợi ích của giai cấp nông dân, từ đó C.Mác
khẳng định: đứng trước giai cấp tư sản đã liên minh lại thì lẽ dĩ nhiên là
chính đảng độc lập để đối lập với tất cả mọi chính đảng cũ do các giai cấp
hữu sản sáng lập ra thì mới có thể hành động với tư cách một giai cấp được.
Trong tình hình cụ thể của nước Đức năm 1848, C.Mác – Ph.Ănghen đã
nêu lên mối quan hệ giữa nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc vô sản trong cách
14
mạng. Trong thực tiễn, hai ông đã chỉ đạo cho Đảng phải liên minh với mọi
lực lượng tiến bộ của đất nước để phối hợp hành động chung trong cách
mạng. Một đảng vô sản cách mạng phải là một đảng quần chúng, hành động
theo những điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội chứ không thể là
một đảng bè phái. Với giai cấp tư sản Đức lúc đó, C.Mác – Ph.Ănghen chỉ rõ:
phải ủng hộ nó trong cuộc đấu tranh chống các phần tử phản động, bởi vì bất
cứ thành quả nào mà giai cấp tư sản giành được từ thế lực phản động, xét cho
cùng đều có lợi ích của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, sự ủng hộ đó trong
trường hợp phong trào của giai cấp tư sản có tính chất tiến bộ và phù hợp với
lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng trong mọi trường hợp, đảng công nhân
pahir là đảng độc lập về chính trị và không bao giờ được theo theo đuôi giai
cấp tư sản. Đảng phải luôn giáo dục cho giai cấp công nhân là lợi ích của họ
đối lập trực tiếp với lợi ích của gai cấp tư sản.
Sự phát triển tư tưởng về Đảng của giai cấp công nhân trong giai đoạn
1848 – 1870 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phong trào cách mạng của
giai cấp công nhân, nó thúc đẩy phong trào của giai cấp công nhân sang một
giai đoạn mới, giai đoạn kết hợp lý luận cách mạng với phong trào công nhân.
2.3 Thực tiễn công xã Pari, đòi hỏi khách quan sự tổng kết và phát
triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.
Công xã Pari năm 1871 là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới.
Cuộc cách mạng ấy nổ ra ngày 18-3 ở thủ đô Pari và đã giành thắng lợi, thiết
lập được chính quyền của giai cấp công nhân. Tuy Công xã chỉ tồn tại 72
ngày đêm nhưng đó là mốc son chói lọi trong trang sử hào hùng của giai cấp
công nhân Pháp và gai cấp công nhân thế giới. Thắng lợi của Công xã chứng
tỏ giai cấp công nhân Pháp đã giải quyết thành công vấn đề giai cấp và vấn đề
C.Mác – Ph.Ănghen cũng chỉ rõ Đảng phải được vũ trang bằng lý luận cách
mạng. Ph.Ănghen viết: trách nhiệm của những người lãnh đạo là phải học tập
không ngừng những vấn đề lý luận, phải tự giải thoát ngày càng nhiều hơn khỏi
ảnh hưởng của những tư tưởng cổ truyền của thế giới cũ và phải luôn luôn nhớ
rằng chủ nghĩa xã hội từ khi trở thành khoa học, đòi hỏi phải được đối xử như một
16
khoa học, nghĩa là phải nghiên cứu nó. C.Mác – Ph.Ănghen cũng nhấn mạnh vai
trò của lý luận cách mạng và sự gắn bó lý luận với phong trào công nhân, Đảng
phải kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh lý luận; không có lý luận xã hội chủ
nghĩa thì không thể có phong trào cách mạng, chỉ có thể kết hợp lý luận đó với
phong trào công nhân thì mới giành được thắng lợi
Đảng phải nêu cao tinh thần đấu tranh chống những nhóm thù địch với chủ
nghĩa xã hội khoa học, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái. Theo
C.Mác – Ph.Ănghen, sự phát triển của giai cấp vô sản đều gắn liền với cuộc đấu
tranh trong nội bộ, loại trừ những phần tử cơ hội, bè phái ra khỏi hàng ngũ của
Đảng, của giai cấp công nhân. Hai ông cũng nhấn mạnh rằng khi chủ nghĩa xã hội
ra đời, chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa bè phái đã trở thành yếu tố phản động, một
kẻ thù không đội trời chung của phong trào cộng sản. Vì vậy, đấu tranh chống bọn
cơ hội và bè phái là quy luật phát triển của Đảng.
C.Mác – Ph.Ănghen cũng đặc biệt nhấn mạnh đến sự đoàn kết quốc tế của
các Đảng công nhân, coi đó là nguyên lý để xây dựng các Đảng vô sản thành một
Đảng thực sự cách mạng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của nình. Theo hai ông,
nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế là sự thống nhất, đoàn kết các Đảng cộng sản,
Đảng công nhân, đó là điều kiện không thể thiếu trong quá trình đấu tanh chống
lại chủ nghĩa tư bản, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân từng nước.
Quá trình phát triển của của chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh
chống những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa sô vanh, coi đó là quy
luật phát triển của các Đảng cộng sản.
Có thể nói, đến đây C.Mác – Ph.Ănghen đã bổ sung phát triển những luận
điểm cực kỳ quan trọng về một Đảng cách mạng – đội tiền phong của giai cấp
thực chất, công xã là một Chính phủ của giai cấp công nhân, là kết quả của
cuộc đấu tranh giai cấp những người sản xuất chống lại giai cấp chiếm đoạt,
là hình thức chính trị rốt cuộc đã tìm ra được khiến cho có thể thực hiện việc
giải phóng lao động về mặt kinh tế”
9
. Và qua đó C.Mác cũng chỉ ra con đường
hình thành chuyên chính vô sản đó là con đường bạo lực vũ trang cách mạng
của quần chúng nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo. Chuyên chính vô sản
có chức năng là chấn áp sự chống đối của giai cấp tư sản và các thế lực phản
18
ng v t chc xõy dng mt xó hi mi. T thc tin ca cụng xó, C.Mỏc
Ph.nghen cho rng cn thit phi xõy dng mt quõn i thng trc mnh,
kiờn quyt tn cụng k thự, tiờu dit chỳng nhng so huyt cui cỳng. iu
ú cú ngha l phi s dng bo lc mt cỏch trit ờ, khụng khoan nhng
vi k thự. Nhiờm v ca nh nc chuyờn chớnh vụ sn gm c nhim v i
ni v i ngoi, thụng qua hot ng ca cụng xó Pari, C.Mỏc cho rng: mun
hiu v chuyờn chớnh vụ sn l gỡ, hóy nhỡn vo cụng xó Pari, chuyờn chớnh vụ
sn l nh th y.
* Phỏt trin t tng v liờn minh cụng nụng.
Qua tc tin cụng xó Pari, C.Mác- Ph. Ăngghen cho rằng vấn đề liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân
lao động khác không chỉ là một tất yếu để tạo lực lợng to lớn trong giành
chính quyền, mà còn là vấn đề đặc biệt quan trong trong giữ chính quyền, bảo
vệ những thành quả của cách mạng vô sản. T tởng này đã đợc thực tiễn công
xã Pa ri trả bằng một giá quá đắt. Trong khi giành chính quyền và xây dựng xã
hội mới, công nhân Pa ri đã mải mê, say sa với chiến thắng mà quên đi nhiệm
vụ xây dựng khối liên minh công nông vững chắc, khi Chie từ Vác Xây quay
lại đàn áp công xã thì công nhân Pa ri hầu nh chỉ có một mình chống chi
lại với lực lợng hùng mạnh của chính phủ t sản, khi họ vừa nhận ra sự đơn độc
của mình và vội vàng ra lời hiệu triệu nông dân và công nhân ở các thành phố
là vấn đề cốt lõi xuyên suốt toàn bộ học thuyết Mác, là “hòn đá thử vàng” với
lập trường của những người mácxít và còn nhấn mạnh rằng “chỉ người nào
mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính
vô sản thì mới là người Mác-xít”
10
Thông qua các tác phẩm như: “Nhà nước và cách mạng” (1917); “cách
mạng vô sản và tên phản bội Kauxky” (1918) và nhiều tác phẩm khác, tư
tưởng về chuyên chính vô sản đã được phát triển hoàn thiện. Trong đó
VI.Lênin chỉ ra khái niệm về chuyên chính vô sản, người cho rằng: chuyên
chính vô sản là “việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành
giai cấp thống trị để chấn áp bọn áp bức”. Như vậy, trong khái niệm này, nội
dung cốt lõi của chuyên chính vô sản được thể hiện, đó là giai cấp công nhân
phải tổ chức thành giai cấp cầm quyền. Chính quyền đó phải thuộc về một
giai cấp duy nhất, là giai cấp công nhân. Tính chất của chuyên chính vô sản:
là công cụ của cách mạng vô sản, là sự thống trị của giai cấp vô sản đối với
giai cấp tư sản. Khối công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản là chính
quyền mà nó không chia sẻ cho ai hết và trực tiếp dựa vào vũ trang của quần
20
chúng. Trong đó Đảng của giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo của chuyên
chính vô sản, sự lãnh dạo đó để đảm bảo cho nền chuyên chính vô sản vững
mạnh, hoàn thành được chức năng nhiệm vụ của mình. VI.Lênin chỉ rằng:
trong cuộc đấu tranh cho chuyên chính vô sản và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
cần cho Đảng có đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất
cả những người lao động và những người bị bóc lột. Nếu không có Đảng lãnh
đạo, thì giai cấp vô sản và nhân dân lao động không thể lật đổ giai cấp tư sản,
không thể giành được thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, không thể
xây dựng được chủ nghĩa xã hội
Mặt khác VI.Lênin cũng chỉ rõ nội dung của chuyên chính vô sản, nó bao
gồm hai mặt: chuyên chính và dân chủ. Đây là hai mặt đối lập gắn bó với nhau
cùng tồn tại chuyên chính để thực hiện, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân
nước Xô viết ra đời, VI.Lê-Nin cho rằng, về hình thức của chuyên chính vô
sản thì tiếp theo sau công xã Pari là chính quyền Xô viết Nga, một thành quả
từ cách mạng tháng Mười. Với thực tế ở một số nước, VI.Lê-Nin còn chỉ ra
một hình thức chuyên chính vô sản mới là chính quyền dân chủ nhân dân.
Chế độ này phản ánh tính chất độc đáo của cách mạng xa hội chủ nghĩa và
đặc điểm lịch sử dân tộc của những nước đó.
Để chuyên chính vô sản tồn tại và phát triển VI.Lê-Nin luận giải cơ sở
của nó: theo VI.Lê-Nin đó là sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân, với toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân. Cơ sở khách quan của khối liên minh ấy là sự thống nhất của các quyền
lực cơ bản về kinh tế, chính trị của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
nhân dân lao động. Và người chỉ rõ: “Nếu không có sự liên minh ấy thì không
thể có dân chủ vững bền, không thể cải tạo xã hội chủ nghĩa được”
14
.
Đề cập về nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, theo VI.Lê-Nin đó là phải
thủ tiêu mọi chế độ người bóc lột người, là xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội. Để thực hiện được nhiệm vụ đó cần phải có một chế độ quản lý mới thực
sự có tính nhân dân và được xây dựng theo nguyên tắc “tập trung dân chủ”.
Khi phê phán quan điểm của kẻ thù cho rằng chuyên chính vô sản là sự kích
động bạo lực của quần chúng chống chính quyền, VI.Lê-Nin đã chỉ rõ,
chuyên chính vô sản không chỉ là bạo lực với bọn bóc lột, mà còn có chức
năng chủ yếu là việc tổ chức xây dựng thành công xã hội mới. Đây mới là
thực chất của chuyên chính vô sản.
Với sự phát triển của VI.Lê-Nin về chuyên chính vô sản gắn liền với học
thuyết về đấu tranh giai cấp. Nếu như từ những năm 1852, C.Mác đã khẳng
22
định rằng đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, thì đến khi
giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, thiết lập
nền chuyên chính vô sản của mình, VI.Lê-Nin tiếp tục khảng định: cuộc đấu
kinh tế trong xã hội mới – xã hội chủ nghĩa.
Điểm mấu chốt trong chính sách kinh tế của Lênin nêu lên trong thời kỳ
này trước hết là vấn đề tư liệu sản xuất. Lênin cho rằng: cần phải xã hội hóa
những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Tiến hành xã hội hóa tư liệu sản
xuất bằng cách tước đoạt triệt để tư liệu sản xuất của các giai cấp bóc lột nhơ
nhà máy, xí nghiệp, ruộng đất…Người chủ trương tiến hành xã hội hóa tư liệu
sản xuất bằng những biện pháp và phương pháp khác nhau, nhằm xây dựng chủ
nghĩa xã hội một cách hòa bình.
Mặt khác, trong các biện pháp phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, Lênin chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế. Sử
dụng các chuyên gia tư sản trong phát triển một số ngành kinh tế của đất nước.
Tô nhượng, một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, cũng được Lênin
chú trọng sử dụng.
Trong chính sách kinh tế, chủ trương phát triển cả kinh tế nông nghiệp và
công nghiệp; sự phối hợp, hỗ trợ nhau sẽ tạo điều kiện cho cả hai cùng phát
triển. Chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền sản xuất nông nghiệp: xã
hội hóa tư liệu sản xuất chủ yếu, đưa nông dân vào làm ăn trong các nông trang
tập thể. Người chỉ rõ: giai cấp công nhân cần tham gia tích cực giúp đỡ nông
dân trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn.
Theo Lênin, muố có một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển cả về
công nghiệp và nông nghiệp, điều trước tiên phải làm là diện khí hóa; Lênin
nhấn mạnh: “chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô - viết cộng với điện khí
24
hóa toàn quốc”. Từ cuối những năm 1920, tư tưởng điện khí hóa của Lênin bắt
đầu được thực hiện và từng bước thu được thắng lợi quan trọng.
Trong kế hoạch xây dựng kinh tế, Lênin chú trọng đến việc cần phải áp
dụng triệt để những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Bên cạnh đó vấn đề tổ chức, quản lý lao động cũng đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo ra năng xuất lao động cao của chủ nghĩa xã hội. Lênin chỉ rõ: chủ
nghĩa xã hội chỉ có thể chiến thắng chủ nghĩa tư bản khi đưa ra một kiểu tổ