BÁO CÁO Tiểu luận chủ nghĩa xã hội khoa học-DÂN CHỦ - Pdf 27

class="bi x0 y0 w1 h1"
Tiểu luận chủ nghĩa xã hội khoa học:
Phần I: Các khái niệm cơ bản về đổi mới hệ thống chính
trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, sự khác biệt về chất
giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư bản chủ
nghĩa.
Cùng với việc kiểm điểm đánh giá tình hình, Văn kiện Đại hội X đề cập đậm nét
vấn đề dân chủ, khẳng định dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
đổi mới.
Trong thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm đổi mới, có thành tựu của
phát huy sức mạnh nền dân chủ XHCN. Cùng với việc kiểm điểm đánh giá tình
hình, vấn đề dân chủ được đề cập đậm nét trong Văn kiện Đại hội X, khẳng định
dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới. Xã hội XHCN mà
chúng ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh, do nhân dân lao động làm chủ
Đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng nền dân chủ XHCN trong quá trình xây
dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay có mối quan hệ hữu cơ khăng khít.
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một cơ cấu xã hội bao gồm ĐCS, nhà nước
XHCN, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội hoạt động theo một
cơ chế nhất định dưới sự lãnh đạo của ĐCS nhằm thực hiện quyền lực của nhân
dân lao động để xay dựng CNXH. Vậy đổi mới hệ thống chính trị bao gồm: xậy
dựng Đảng, kiện toàn bộ máy nhà nước, nâng cao, phát huy vai trò của các đoàn
thể nhân dân, tiêu biểu là mặt trận Tổ Quốc nhằm nâng cao quyền làm chủ của
nhân dân.
Đặc điểm cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa:
Đây là nền dân chủ cho đại đa số người - dân chủ của nhân dân lao động dựa trên
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nền dân chủ này giành được do kết quả
thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài vì tiến bộ xã hội của nhân dân lao động.
• Về chính trị : Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện qua sự lãnh đạo chính
trị của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng Sản đối với toàn xã hội,
thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, mà trong đó

xây dựng nền dân chủ XHCN trong quá trình xây dựng
CNXH ở Việt Nam hiện nay là mối quan hệ hữu cơ khăng
khít.
I. Đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đảng ta đã nhận thức nhất quán tầm quan trọng của phát huy dân chủ để xây dựng
xã hội mới, coi dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng ta nhận thức rõ rằng, ngày nay, dân chủ vẫn
luôn luôn là yêu cầu nóng bỏng của đời sống nhân loại tiến bộ, là lợi ích và
nguyện vọng sâu sắc của nhân dân lao động toàn thế giới, và cũng là lợi ích và
nguyện vọng cơ bản của nhân dân lao động cùng dân tộc Việt Nam ta.
I-1.Đánh giá khái quát kết quả đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với
hoạt động của hệ thống chính trị hơn 20 năm qua.
Phương thức lãnh đạo của Ðảng là phương pháp, cách thức, con đường, biện pháp
để thực hiện vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Phương
thức lãnh đạo là vấn đề có ảnh hưởng, tác động lớn đến chất lượng, hiệu quả lãnh
đạo của Ðảng. Chất lượng, hiệu quả lãnh đạo không chỉ phụ thuộc vào sự đúng
đắn của quan điểm, đường lối mà còn phụ thuộc vào sự đúng đắn, khoa học, phù
hợp của phương thức lãnh đạo. Qua hơn 20 năm đổi mới, Ðảng ta nhận thức ngày
càng rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Ðảng và ý nghĩa, tầm quan trọng của
đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.
Cương lĩnh năm 1991 và văn kiện các đại hội gần đây của Ðảng đã xác định Ðảng
lãnh đạo bằng Cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị, đề ra quan điểm, chủ trương,
đường lối định hướng cho hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội; bằng việc giới
thiệu đảng viên vào giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt của bộ máy nhà
nước, các tổ chức của hệ thống chính trị; bằng công tác tuyên truyền, vận động,
thuyết phục; thông qua tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà
nước, các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng kiểm tra việc chấp hành Cương
lĩnh, nghị quyết, chỉ thị của Ðảng, của các tổ chức đảng và đảng viên này. Phương
thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị từ Trung ương
đến địa phương trong những năm qua đã có nhiều đổi mới và đạt được nhiều kết

cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của
Ðảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Ðảng với nhân
dân; đồng thời nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính
năng động, sáng tạo, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tăng
cường kỷ luật, kỷ cương trong Ðảng và trong xã hội, việc tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải góp phần
thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ
nghĩa của đất nước.
Về quan điểm chỉ đạo, Hội nghị đề ra bốn quan điểm lớn mà khi nghiên cứu, quán
triệt và thực hiện Nghị quyết cần phải nắm vững.
Thứ nhất là, việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt
động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và
chỉnh đốn Ðảng, đồng bộ với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Ðảng, với
đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng bộ với xây dựng và hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, với đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Thứ hai là, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ
thống chính trị phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Ðảng; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hành dân chủ rộng rãi
trong Ðảng và trong xã hội, đẩy mạnh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm
cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Thứ ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ
thống chính trị là công việc hệ trọng, đòi hỏi phải chủ động, tích cực, có quyết
tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa
tổng kết, rút kinh nghiệm.
Thứ tư là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ
thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung,

mà Nghị quyết đề ra là tiếp tục đổi mới phong cách và lề lối làm việc của các cơ
quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu của Ðảng từ Trung ương đến địa phương. Ðó là
đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Ðảng theo hướng khoa học, khách quan,
thực sự dân chủ, kỷ cương, thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát quần chúng, nói đi đôi
với làm, làm có kết quả; làm việc có chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, trọng
điểm. Cải tiến các thủ tục hành chính trong Ðảng, xác định rõ thời gian xử lý, trả
lời đối với từng loại công việc, thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo và ứng
dụng các thành tựu mới của công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của Ðảng.
Ðổi mới cách ra nghị quyết, chỉ thị và việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị
của Ðảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Giảm bớt hội họp, các nghi thức lễ tân,
đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả các hội nghị. Cấp ủy dành nhiều thời
gian chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Nhà nước,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ chỉ đạo xây dựng hệ thống quy
chế, quy định về quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với các đảng
đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy trực thuộc và quy định về mối quan hệ công tác
giữa các đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy các cấp với nhau, với tập thể lãnh
đạo, đảng ủy cơ quan và người đứng đầu cơ quan để làm rõ thẩm quyền, trách
nhiệm của từng cơ quan, của từng người và quan hệ phối hợp giữa các chủ thể
này sao cho hợp lý, khoa học nhất, đáp ứng tốt nhất mục tiêu đề ra. Hiện nay, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư đã phân công các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đã giao
cho các ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng có liên quan chuẩn bị xây dựng các
quy chế, quy định này để Nghị quyết của Trung ương sớm đi vào cuộc sống.
Trên cơ sở nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết và học tập cách làm của Trung
ương, đề nghị các đồng chí lãnh đạo và các cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn
các tổ chức đảng ở các cấp, các ngành, các địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện Nghị quyết phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm cụ thể của ngành, địa phương, đơn vị mình.
Tổng kết lại: Thông qua việc phân tích những thành tựu trong việc đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị suốt 20 năm qua, cũng như

công cộng, để cho những mặt này yếu kém và xuống cấp thì chẳng những ảnh
hưởng xấu tới việc chăm lo bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, mà còn kìm
hãm nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử cho nên nhân dân là nguồn gốc của quyền
lực. Trong xã hộI XHCN, quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân, của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, trong công cuộc đổi mới Nhà nước
hiện nay, phải ra sức phát triển và hoàn thiện chế độ đại diện, làm cho nó thực sự
thể hiện bản chất nhân dân của Nhà nước ta. Một Nhà nước như vậy mới đảm bảo
quyền con người sống trong hoà bình, độc lập, tự do; được quyền làm chủ đất
nước, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình; được quyền có cuộc sống ấm no,
bình đẳng và hạnh phúc. Tôn trọng quyền của mỗi con người (quyền bình đẳng
của công dân trước pháp luật, bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, tự do tín
ngưỡng và không tín ngưỡng cũng như các quyền tự do, dân chủ khác) phải gắn
với nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người trước đất nước và xã hội.
Muốn đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân, phải kiên quyết
đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm pháp luật mà nổi bật là tham nhũng
và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân; làm hàng giả, trốn
– gian lận thuế… gây tổn thất lớn cho Nhà nước và nhân dân. Đó chính là tâm tư,
nguyện vọng và cũng là đòi hỏi của nhân dân đối với Nhà nước, thông qua Nhà
nước.
Việc của đất nước là việc của nhân dân. Vì vậy, cần phải tập hợp rộng rãi mọi lực
lượng quần chúng nhân dân, phát huy đầy đủ khả năng và trí tuệ của toàn dân để
cùng lo việc nước. Hơn nữa, mọi quyền hành chỉ thuộc về nhân dân khi có một cơ
chế thích hợp để nhân dân có thể trực tiếp giám sát các hoạt động của Quốc hội và
đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp,
cũng như giám sát mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước và viên chức Nhà
nước. Phải có cơ chế thích hợp để cử tri có thể bày tỏ sự tín nhiệm hay bất tín
nhiệm của mình đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân mà
mình bầu ra, tạo điều kiện để các đại biểu gắn bó hơn với cử tri, đề cao ý thức
trách nhiệm của người đại diện nhân dân, phải luôn xứng đáng với sự tín nhiệm

quyền lực Nhà nước và một bên vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quyền lực
Nhà nước. Ở đây, Nhà nước xác định cho mình, cho các cơ quan Nhà nước và
những người có chức vụ trách nhiệm pháp lý rõ ràng về các hành vi của họ. Công
dân được đảm bảo quyền và khả năng bắt buộc cơ quan Nhà nước và những người
có chức vụ phải chấp hành pháp luật, thực thi trách nhiệm của mình đối với họ.
Muốn giải quyết mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước thì Nhà nước phải đặt
mục tiêu của mình là phục vụ lợi ích chính đáng của dân. Hơn nữa, việc của đất
nước là việc của dân, cho nên muốn làm việc của dân, cho nên muốn làm việc của
đất nước thì phải tập hợp rộng rãi, phát huy khả đầy đủ năng và trí tuệ của toàn
dân để cùng lo việc nước. Đồng thời phải xây dựng một cơ chế để nhân dân kiểm
soát có hiệu quả đối với các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước. Liên quan
tới vấn đề này, phải từng bước hoàn thiện chế độ dân chủ đại diện, nhưng cần hết
sức coi trọng việc phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, tạo thành thói
quen tốt trong sinh hoạt xã hội.
Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước của dân, do dân bầu ra. Do đó, một khi
Nhà nước không còn vì dân, nghĩa là nó không đáp ứng được lợi ích và nguyện
vọng của nhân dân có quyền bày tỏ sự bất tín nhiệm đối với nói. Đó là cơ sở để
Bác Hồ nói rằng: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Trong các chế độ cũ, Nhà nước là bộ máy của giai cấp bóc lột dùng để thống trị
và áp bức nhân dân; cho nên viên chức, quan lại tự xưng là cha mẹ dân, đè đầu
cưỡi cổ dân. Trong chế độ dân chủ XHCN, người chủ Nhà nước là nhân dân;
người cán bộ Nhà nước là do dân lựa chọn, được nhân dân ủy quyền là “công
bộc”; làm cán bộ là “làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan Cách
mạng”. Trong các cơ quan Nhà nước, cán bộ vừa là lãnh đạo, vừa là người hướng
dẫn của nhân dân. Do đó, “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực
lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không có ai dẫn đường”. Chính vì
vậy, trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ, Đảng
viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ
của nhân dân. Là người đầy tớ, cán bộ phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm
chính, chí công vô tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Là người lãnh đạo thì

cầu xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Mặt khác, khi đặt ra các thiết chế của mình
trong khuôn khổ pháp luật, hoặc thiết lập cơ chế để kiểm tra tính hợp pháp, hợp
hiến của các đạo luật, các cơ quan quyền lực Nhà nước cũng phải làm sao cho hệ
thống pháp luật được xây dựng trên sự tự do và các quyền công dân được bảo
đảm. Pháp luật XHCN thể hiện ý chí chung của xã hội, được bảo đảm bằng sức
mạnh cộng đồng. Nhà nước tôn trọng pháp luật như một giá trị xã hội chung;
đồng thời quyền lực Nhà nước là cơ sở, là tiến đề quan trọng nhất để bảo đảm cho
pháp luật có được bản chất pháp lý của nó. Hệ thống pháp luật của Nhà nước luôn
là chỗ dựa cho việc tổ chức và hoạt động của quyền lực làm giá đỡ cho việc xác
định các mục tiêu của quyền lực Nhà nước là vì con người, vì xã hội của các công
dân. Vì vậy, mọi thiết chế quyền lực Nhà nước phảI thực sự bảo đảm tính công
bằng, bình đẳng và dân chủ của xã hội công dân. Bảo đảm trên nguyên tắc mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật.
Xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ với xã hội của các công dân là để
bảo đảm cho mỗi công dân được hưởng những quyền tự do vốn có của họ và
không thể bị tước bỏ. Nhưng sự tự do của mỗi công dân phải dẫn tới sự thống
nhất của cả trật tự xã hội. Sự thống nhất đó chống lại mọi sự chiếm đoạt quyền
lực Nhà nước bởi các cá nhân chuyên quyền đứng bên trên và bên ngoài dân, hoặc
là loại bỏ sự vô trách nhiệm và bất lực của những người cầm quyền. Chính vì vậy,
mỗi người dân là một giá trị tuyệt đối của quyền lực Nhà nước chứ “không thể là
công cụ của bất kỳ ai, dù là có mưu đồ tốt đẹp nhất”.
Thực chất quyền lực Nhà nước là quyền lực của mọi công dân liên hiệp lại tạo
thành Nhà nước, chính công dân giao cho người đại diện của mình thừa hành
quyền lực đó. Cơ quan Nhà nước tự nó không có quyền mà chỉ thừa hành quyền
lực do công dân uỷ nhiệm. Vì vậy, công dân mới thật sự là chủ thể của quyền lực
Nhà nước. Xây dựng quyền lực Nhà nước trong mối quan hệ với xã hội của các
công dân là giải quyết mâu thuẫn giữa quyền lực Nhà nước tập trung với quyền
lực và tự do của công dân. Xã hội phải có quyền lực Nhà nước tập trung, nhưng
không phải mọi nhu cầu của người lao động Nhà nước đều lo được. Bởi vì
“không gian quyền lực Nhà nước là có giới hạn, còn đối với cá nhân tự do thì

đảm bảo cho Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, thực sự là Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Hoạt động của Đảng thể hiện bản chất cách mạng
và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo
của Đảng tạo điều kiện phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống
chính trị, giúp Nhà nước hoàn thành thuận lợi mọi nhiệm vụ của mình.
Đổi mới, chỉnh đốn Đảng bao gồm đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của
Đảng, xác định đúng mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà
nước, lãnh đạo xây dựng nền pháp chế, nhưng Đảng và mọi Đảng viên hoạt động
trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, gương mẫu chấp hành chính sách và
pháp luật; Đảng không lấn sân Nhà nước, không làm thay Nhà nước.
Hiện nay vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam là không thể có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế
được. Vấn đề đó không chỉ mang tính nguyên tắc được khẳng định từ lý luận Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà con là kết luận chắc chắn được rút ra từ thực
tiễn của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay.
II-6. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải phù hợp với những giá trị
phổ biến tiến bộ của nhân loại.
Quan niệm về một Nhà nước “Đức trị” và “Làm chính trị phải tựa vào Nhân” của
Khổng Tử là điểm tựa để xây dựng một Nhà nước lý tưởng thân dân, gần dân, lấy
dân làm gốc. Quan niệm đó có những giá trị quý báu mà Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam phải tiếp thu. Mặt khác, những nhà tư tưởng cổ đại đã thấy được
mối liên hệ giữa Nhà nước và pháp luật, vai trò pháp luật trong tổ chức, hoạt động
của Nhà nước, trong đó pháp luật phải thể hiện ý chí của dân và phải khách quan,
công bằng và bình đẳng.
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền tư sản trong thời kỳ đầu cũng đã gắn liền với ý
tưởng về tự do, công bằng, bình đẳng, bác ái… ngọn cờ tư tưởng giải phóng đó đã
tạo nên những động lực xã hội hết sức mạnh mẽ cho sự giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp mà dù muốn hay không vẫn còn giữ nguyên giá trị. Việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân cũng vì những
mục đích đó.

hoạt động của mình. Để làm được điều đó, Nhà nước có vai trò điều tiết kinh tế ở
tầm vĩ mô, Nhà nước lo cho dân, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện mọi chức
năng xã hội của mình. Do vậy, chức năng xã hội của Nhà nước ngày càng được
mở rộng và đi vào chiều sâu.
Trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải kế thừa những giá trị nhân loại trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, chúng ta cũng không xem nhẹ
truyền thống, đặc điểm dân tộc, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Như vậy, Nhà
nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân vừa phản ánh cái
vốn có, đang có, lại vừa phản ánh cả xu hướng đang đến của lịch sử dân tộc và
của thời đại.
III. Đổi mới và kiện toàn các đoàn thể chính trị-xã hội.
Với trách nhiệm được giao, trong những năm qua, MTTQ và các đoàn thể nhân
dân ở đã phát huy vai trò tích cực, thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các quan
điểm cơ bản của Đảng về thực hiện dân chủ, các nội dung của Nghị định Chính
phủ về Quy chế, đặc biệt là việc thực hiện QCDC ở cấp xã do MTTQ trực tiếp
theo dõi giám sát.
Để nâng cao nhận thức, phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân, MTTQ ở cơ sở
đã phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân thông qua MTTQ tham gia góp ý
kiến bổ khuyết cho những thiếu sót, tồn tại trong hoạt động quản lý nhà nước,
quản lý xã hội, trong việc thực hiện các nội dung trong QCDC, nhất là việc thực
hiện công khai (thông tin, thống báo để dân biết), dân chủ (bàn bạc thảo luận, đối
thoại với dân) giải quyết và trả lời những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân đối
với chính quyền địa phương, cơ sở. Ngoài ra, còn tổ chức thực hiện tốt Cuộc vận
động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"; phong trào
xoá nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo. Đặc biệt là trong những năm qua,
MTTQ chỉ đạo thực hiện "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư" đã
có tác dụng tốt trong việc động viên nhân dân tham gia các hoạt động xã hội -
nhân đạo từ thiện; hoà giải ở cơ sở, đóng góp ý kiến kịp thời cho cấp uỷ, chính
quyền, đoàn thể, nhất là cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh đó, MTTQ các cấp còn chủ động phối hợp với các đoàn thể thường

Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể trong công tác chỉ đạo thực hiện
QCDC ở cơ sở, thời gian tới MTTQ và các tổ chức thành viên tổ chức tốt các hoạt
động phối hợp với chính quyền nhằm tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để
mọi người, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ các nguồn lực và tài năng
sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất kinh doanh, làm giầu hợp pháp, xoá đói giảm
nghèo, đẩy mạnh phát triển giáo dục Không ngừng bồi dưỡng nâng cao năng
lực, trình độ đội ngũ cán bộ chủ chốt MTTQ và đoàn thể nhân dân để hoàn thành
tốt chức năng "phản biện xã hội"; làm tốt chức giám sát trên cơ sở phát huy quyền
làm chủ của nhân dân theo Quy chế dân chủ. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền,
làm rõ việc phát huy dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Tạo
mối quan hệ "cầu nối" giữa cấp uỷ đảng, chính quyền với nhân dân, tạo lập niềm
tin của dân đối với Đảng và chính quyền; tích cực tham gia công tác xây dựng
Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Tham khảo:
• Bài trả lời phỏng vấn của Báo Nhân Dân về đánh giá những đổi mới phương
thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị những
năm vừa qua, về mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và các giải pháp
chủ yếu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với hoạt
động của hệ thống chính trị trong những năm tới của đồng chí Trương Tấn
Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.(tháng 10 năm 2007)
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT
NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN (Tác
giả Nguyễn Trọng Thóc –Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh)
www.hcmussh.edu.vn/USSH/ImportFile/Magazine/Journal051006041441.doc
• Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
http://www.cpv.org.vn/details.asp?id=BT19120678492
Phần III: Tổng kết
Trong những năm qua, hệ thống chính trị ở nước ta đã có những đổi mới đáng kể:
Đảng đã được củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của

Hai là, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống
chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền làm
chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và
cán bộ ở cơ sở và kịp thời thay thế người không đủ tín nhiệm. Phát huy dân chủ
phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo
việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp
dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và
đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.
Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với đổi mới nền kinh tế, từng bước đổi
mới kiện toàn hệ thống chính trị là đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp bách.
“ Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị nước ta trong giai đoạn mới nhằm xây
dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ
XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân
dân”(Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
TKQĐ lên CNXH, Nxb Sự Thật, HN
1991,tra.19)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status