Tiểu luận CNXH khoa học
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
2
NỘI DUNG
PHẦN I: Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa ở nước ta.
3
Chương I: Lý luận chung về quá độ lên chủ nghĩa xã
hội
3
Chương II: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa
6
PHẦN II: Phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đảng cộng sản Việt Nam
xác định.
15
vấn đề chung, khái quát về con đường quá độ ở nước ta, phương hướng và nhiệm vụ
cơ bản trong TKQĐ lên CNXH do Đảng Cộng sản Việt Nam xác định. Việc nghiên
cứu này sẽ cung cấp cho em nhiều thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
trong nước đồng thời cho em cái nhìn khái quát về quá trình quá độ đi lên CNXH ở
Việt Nam. Cùng với việc tích lũy kiến thức trong những năm tiếp theo tại trường em
mong muốn sau này sẽ góp được phần nhỏ bé của mình để hoàn thành nhiệm vụ quá
độ lên CNXH.
Trong quá trình tìm hiều về đề tài: “Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta. Phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đảng cộng sản Việt Nam xác định” do
vốn kiến thức của em và thời gian có hạn nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót. Em
rất mong thầy, cô và các bạn tham gia góp ý để bài viết của em hoàn thiện hơn. Em
xin chân thành cảm ơn.
TRẦN VĂN ANH TUẤN
2
Tiểu luận CNXH khoa học
NỘI DUNG
PHẦN I
Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta
Chương I: Lý luận chung về quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1. Khái niệm cơ bản về quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1. TKQĐ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và lâu
dài trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm tạo ra những tiền đề vật chất tinh
thần cho xã hội mới.Bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành
được chính quyền nhà nước, bắt tay cải tảo và xây dựng xã hội mới, đến khi những
Tiểu luận CNXH khoa học
2. Tính tất yếu quá độ lên CNXH
2.1 Sự tồn tại TKQĐ là tất yếu khách quan, vì:
- Sau khi giai cấp công nhân, nhân dân lao động giành được chính quyền, điểm
xuất phát về kinh tế, xã hội của xã hội tiền tư bản và tư bản còn thấp, chưa đủ những
tiền đề vật chất, văn hóa và tinh thần để thực hiện những chuẩn mực, nguyên tắc của
CNXH
- Nhiều tàn dư của các xã hội tiền tư bản và tư bản còn tồn tại lâu dài trong
lòng xã hội mới, cần có thời gian cải tạo, xây dựng.
- Các giai cấp, lực lượng phản động chỉ bị đánh đổ về chính trị, chúng còn có
những cơ sở vật chất nhất định, nên đã ra sức đòi lại quyền lợi đã mất, vì vậy cần có
thời kỳ đấu tranh, cải tạo chúng.
- Công việc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khó khăn, phức tạp,
chưa có tiền lệ trong lịch sử nên cần phải có thời gian để trải nghiệm, xây dựng, củng
cố vững chắc.
- Sự tồn tại TKQĐ là tất yếu khách quan, nhưng tùy theo điều kiện lịch sử,
kinh tế, xã hội ở mỗi nước khác nhau mà thực hiện quá độ gián tiếp hay trực tiếp, với
quá trình dài, ngắn khác nhau.
- Cần khắc phục mọi biểu hiện nôn nóng đốt cháy giai đoạn, chủ quan duy ý
chí, máy móc, siêu hình trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội… của TKQĐ lên CNXH.
2.2 Tính tất yếu khách quan của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam:
- Ở nước ta, TKQĐ lên CNXH bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm
1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cách mạng dân
tộc - dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng
tiến hành cách mạng XHCN, cùng quá độ lên CNXH.
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, TKQĐ lên CNXH ở nước ta là một thời kỳ lịch
sử mà: "nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và
kỹ thuật của CNXH,... tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,
mà là tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN,
nhất là những thành tựu về khoa học công nghệ, những kinh nghiệm quản lý.
- Đây là con đường đi lên tạo sự biến đổi về chất trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, nhưng rất khó khăn, phức tạp. Phải trải qua một thời kỳ lâu dài, với
những chặng đường, hình thức tổ chức kinh tế, xã hội cụ thể mới đi đến thắng lợi.
2. Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2.1. Hoàn cảnh lịch sử
Sau những biến động chính trị ở Liên Xô và Đông Âu cuối những năm 80
đầu những năm 90 thế kỷ XX, một chiến dịch công kích, phê phán, xuyên tạc, bôi
nhọ CNXH và chủ nghĩa Mác - Lê-nin được dấy lên trên khắp thế giới bởi các thế
lực thù địch với CNXH. Họ nhanh chóng chớp lấy cơ hội “ngàn năm có một” này
để tổng tấn công hòng “chôn vùi vĩnh viễn” chủ nghĩa Mác - Lê-nin và CNXH.
Trong bối cảnh, khi mà CNXH hiện thực đang lâm vào khủng hoảng, phong
trào cách mạng thế giới đứng trước những thử thách đầy cam go, những người hoang
mang, dao động về lý tưởng đã “khuyến cáo” Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ con đường XHCN mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa
chọn, bởi theo họ, đến thành trì của CNXH hùng mạnh như Liên bang Xô Viết mà
còn không đứng vững, thì một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam
chúng ta làm sao có thể đi lên CNXH được(?). Một số người thậm chí cho rằng sự
lựa chọn con đường đi lên CNXH đã “sai ngay từ đầu”, rằng giá như vào nửa đầu thế
kỷ XX, đi con đường khác thì biết đâu nước ta vẫn giành được độc lập, kinh tế, văn
TRẦN VĂN ANH TUẤN
6
Tiểu luận CNXH khoa học
hóa vẫn phát triển, lại tránh được mấy cuộc kháng chiến gian khổ, hao tổn biết bao
xương máu.v.v.. Một câu hỏi đặt ra: Có thật là như vậy?
chính trị...”.
2.2.2. Thứ hai, học thuyết Mác - Lê-nin chứng minh rằng, loài người với tính
cách một chỉnh thể nhất thiết phải trải qua 5 HTKTXH. Nhưng, do đặc điểm lịch sử
- cụ thể về không gian và thời gian, do những điều kiện đặc thù khách quan và chủ
quan, bên ngoài và bên trong chi phối, không phải quốc gia nào cũng tuần tự trải qua
tất cả các HTKTXH từ thấp đến cao theo một trình tự sơ đồ chung. Mà có những
nước có thể bỏ qua một hoặc vài HTKTXH nào đó trong tiến trình phát triển của
mình. Sự bỏ qua này đã và đang diễn ra trong lịch sử. Từ thực tiễn lịch sử xã hội loài
người có thể rút ra ba nhận xét:
TRẦN VĂN ANH TUẤN
7
Tiểu luận CNXH khoa học
Một là, khi vạch ra một sơ đồ tiến hóa xã hội từ HTKTXH thấp lên HTKTXH
cao hơn là chúng ta đã trật tự hóa theo thời gian các trình độ phát triển của các nền
văn minh nhân loại nằm rải rác trong không gian.
Hai là, khi một HTKTXH đi đến chỗ kết thúc, thì xã hội có thể tiến lên một
trong nhiều HTKTXH cao hơn, chứ không nhất thiết chỉ tiến lên một HTKTXH cao
hơn.
Ba là, nhận xét có tính chất khái quát: loài người nói chung thì nhất định phải
trải qua cả năm HTKTXH, nhưng từng nước cụ thể thì không nhất thiết phải tuần tự
trải qua cả năm HTKTXH, mà có thể bỏ qua một hoặc vài HTKTXH, đi tắt để tiến
lên HTKTXH cao hơn, tùy thuộc điều kiện lịch sử - cụ thể đặc thù của từng nước.
Điều đó hoàn toàn phù hợp quy luật khách quan. V.Lê-nin viết "... tính quy luật chung
của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không loại trừ, mà trái lại, còn bao hàm
một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự
của sự phát triển đó".
8
Tiểu luận CNXH khoa học
hình thức thích hợp nhất là CNTB nhà nước và kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước XHCN theo định hướng XHCN. Đó cũng là tư tưởng cốt lõi của Chính
sách kinh tế mới (NEP) trong TKQĐ lên CNXH do V.Lê-nin vạch ra.
b. Hai là, hai xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế nước ta và sự
lựa chọn một trong hai xu hướng đó. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, nền kinh tế
nước ta nảy sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng
hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên thành sản xuất lớn dựa trên cơ
sở kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Để đáp ứng yêu cầu khách quan đó, nền kinh tế nước
ta chứa đựng trong mình hai khả năng phát triển, hai xu hướng vận động. Và nền kinh
tế nước ta có thể lựa chọn một trong hai hướng sau đây:
b1. Hướng thứ nhất, để nền kinh tế phát triển tự phát chuyển thành nền kinh
tế TBCN, trên cơ sở phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, do tác động của
quy luật giá trị. Nhưng, đi theo hướng này, CNTB ra đời, sẽ dẫn đến những hậu quả
sau: Chính quyền do chính nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã phải tốn bao xương máu mới giành được, sẽ bị mất; và chính nhân dân lao
động lại rơi xuống địa vị người làm thuê và bị bóc lột. Đi theo con đường TBCN thì
không thể thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Chúng ta không đi theo con đường TBCN vì thời đại ngày nay không phải là
thời đại của CNTB, mặc dù CNTB đang có sự điều chỉnh để thích nghi với cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ, nhưng CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu
thuẫn, bất công xã hội thuộc về bản chất của chế độ TBCN. Theo quy luật phát triển
của lịch sử thì CNTB không thể không bị phủ định. Đó là xu thế khách quan. CNTB
là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay thế
bằng một chế độ xã hội mới, phát triển ở trình độ cao hơn, với giai đoạn đầu là CNXH.
do Đảng ta lãnh đạo đã tạo những tiền đề cả vật chất và tinh thần để có thể "rút ngắn"
tiến trình phát triển lịch sử - tự nhiên của xã hội. Vì thế, trong sự lựa chọn con đường
đi lên cho mình, dân tộc ta đã chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN. Đó là con đường phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, cả về đặc điểm lịch sử cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế.
2.2.4. Thứ tư, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân của
nước ta chứng minh rằng, quá độ lên CNXH là con đường duy nhất để nước ta thoát
khỏi ách đô hộ của thực dân đế quốc, để thực hiện thành công cách mạng giải phóng
dân tộc. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước chống
Pháp diễn ra sôi nổi, không ngừng khắp Bắc, Trung, Nam. Các phong trào ấy thấm
đượm tinh thần yêu nước, bất khuất, song đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại.
Đó là sự bế tắc và thất bại về đường lối chiến lược. Và như vậy, tất cả các phương án
chính trị của các giai cấp, từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến
những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, lập trường tư sản,
đều đã áp dụng và trải qua khảo nghiệm của lịch sử, rốt cuộc đều thất bại. Trong bối
cảnh sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân đế quốc ở Việt Nam
bị bế tắc về đường lối chiến lược, thì chính Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng trúng nhu
cầu lịch sử dân tộc, đưa đất nước đi vào đúng quỹ đạo thời đại mới. Nguyễn Ái Quốc
khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản”, “chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng
được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Người lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH - đường lối đã đưa sự nghiệp Cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển
đi lên, không thế lực nào ngăn cản nổi.
3. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không trái
với tiến trình lịch sử tự nhiên
3.1. Nói "nước ta quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN" chỉ có nghĩa là
trong lịch sử nước ta không có một giai đoạn, trong đó giai cấp tư sản nắm chính
quyền và quan hệ sản xuất TBCN giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế quốc dân.
"Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị thế thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc
Tiểu luận CNXH khoa học
b. Về những tiền đề chủ quan:
- Việt Nam là nước có số dân tương đối đông, nhân lực dồi dào, tài nguyên đa
dạng. Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, đã xây dựng
những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế của CNXH. Cách mạng Việt Nam do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - một đảng giàu tinh thần cách mạng, sáng tạo, khoa
học và trí tuệ, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng - đó là nhân tố chủ
quan có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bảo đảm cho thắng lợi của công cuộc xây dựng
CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
- Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng chiến
đấu, hy sinh không chỉ nhằm mục đích giành lại độc lập dân tộc, mà còn vì cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc. Những yêu cầu đó chỉ có CNXH mới đáp ứng được. Vì vậy,
quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua mọi khó khăn
và xây dựng thành công CNXH.
- Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ
Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay đã thu được những kết quả bước đầu khả quan, giữ
vững ổn định chính trị; tạo môi trường hợp tác đầu tư; phát triển kinh tế; đời sống
nhân dân được cải thiện... điều đó đã củng cố và khẳng định con đường lựa chọn lên
CNXH của chúng ta là đúng đắn. Nhận thức về TKQĐ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN
-Đây chính là con đường phát triển "rút ngắn" lên CNXH ở nước ta. Về chính
trị, bỏ qua chế độ tư bản là bỏ qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản, của kiến
trúc thượng tầng TBCN. Về kinh tế, bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua sự thống trị của
quan hệ sản xuất TBCN, nhưng phải biết tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân
loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Đó chính là sự rút ngắn thời
gian thực hiện quá trình xã hội hoá sản xuất TBCN bằng con đường phát triển theo
Tiểu luận CNXH khoa học
lực lượng sản xuất hiện nay, bảo đảm sự gắn bó hữu cơ ngay trong từng bước phát
triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; khắc phục quan điểm duy ý chí,
muốn nhanh chóng xác lập ngay quan hệ sản xuất XHCN, chế độ công hữu chiếm ưu
thế, trong khi trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp. Quan điểm phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần dựa trên nhận thức đầy đủ hơn về những ưu thế và hạn
chế của sản xuất hàng hoá; sản xuất không phải là sản phẩm riêng của CNTB; khắc
phục tư tưởng phủ nhận sản xuất hàng hoá và kinh tế nhiều thành phần; duy trì quá
lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, phân phối bình quân.
Chúng ta chủ trương tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh
thành hoá để chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của chúng, phục
vụ mục tiêu của CNXH.
Mặt khác, cần tăng cường vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, từng
bước hình thành cơ sở kinh tế của CNXH, đó là kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Chỉ có trên cơ sở kinh tế
này chúng ta mới thực hiện được mục tiêu xoá áp bức bóc lột, xoá sự phân hoá xã hội
thành các giai cấp đối kháng. Đây là một trong những vấn đề cơ bản để bảo đảm định
hướng XHCN trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế. Trong nền kinh tế có
nhiều hình thức phân phối khác nhau: phân phối theo vốn, phân phối theo phúc lợi,
nhưng hình thức phân phối chủ yếu là phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế.
1.4. Bốn là, ''tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá
làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ
đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá
tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại,
xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người,
với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng,
văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá
trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH''.
lực thù địch, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.
Đặt nhiệm vụ xây dựng đất nước lên hàng đầu không có nghĩa là coi nhẹ nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc, bởi vì, làm tốt nhiệm vụ xây dựng CNXH là xây dựng cơ sở vật
chất và tinh thần bảo đảm làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cần kết hợp chặt chẽ
nhiệm vụ phát triển kinh tế với nhiệm vụ an ninh, quốc phòng.
1.7. Bảy là, ''xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta''.
Phương hướng này quán triệt sâu sắc luận điểm Đảng là nhân tố quyết định
thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; đồng thời, chỉ rõ cần thường xuyên nhận
rõ nguy cơ của Đảng cầm quyền mà V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo.
Đó là nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị, sự thoái hoá về tư tưởng chính trị, đạo
đức, quan liêu, xa rời quần chúng. Do đó, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và
chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.
2. Mục tiêu tổng quát
Theo các phương hướng cơ bản nói trên, mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi
kết thúc TKQĐ là “... xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với
kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở
thành một nước XHCN phồn vinh”.
TKQĐ lên CNXH ở nước ta là một quá trình lâu dài, phải qua nhiều chặng
đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới
trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.
Để thực hiện tốt các mục tiêu nói trên, trong Cương lĩnh đã nêu những định
hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phương
hướng cơ bản xây dựng hệ thống chính trị, trong đó nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng.
TRẦN VĂN ANH TUẤN
16
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Đường lối phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài,
có tác dụng to lớn trong việc động viên mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài,
lấy nội lực làm chính để xây dựng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Chỉ có thể
cải tạo quan hệ sở hữu hiện nay một cách dần dần, bởi không thể làm cho lực lượng
sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh
tế
công
hữu
thuần
nhất
một
cách
nhanh
chóng.
Vì quan hệ sở hữu là đa dạng cho nên phải có nhiều hình thức phân phối và nhiều
hình thức tổ chức quản lý hợp lý, cũng như việc xác lập địa vị làm chủ của người lao
động trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải diễn ra từng bước, dưới nhiều hình thức
và đi từ thấp đến cao.
TRẦN VĂN ANH TUẤN
17
Tiểu luận CNXH khoa học
3. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, nền kinh tế nước ta không thể là một nền kinh tế khép kín,
mà phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đó là xu thế tất yếu của thời đại,
Như vậy, cả từ phương diện lý luận, cả từ phương diện thực tiễn vận động của
lịch sử nhân loại suốt thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI và đặc biệt từ thực tiễn
lịch sử đấu tranh giải phóng, xây dựng đất nước ở Việt Nam, việc nước ta quá độ lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu khách quan, là hoàn toàn phù hợp với xu
thế của thời đại, với đặc điểm lịch sử - cụ thể của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đúng
khát vọng của nhân dân ta.
TRẦN VĂN ANH TUẤN
19
Tiểu luận CNXH khoa học
Tài liệu tham khảo:
Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
Và một số tài liệu, sách báo khác.
TRẦN VĂN ANH TUẤN
20