2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN
BIẾN ĐỔI Cơ CÂU KINH TÊ - XÃ HỘI CỦA MỘT
XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỔNG: XÃ PHỤNG THƯỢNG
(HÀ TÂY) TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1995
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 5.031.5
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH s ử
Người hướng dản khoa học
1- GS PHAN ĐẠI DOÃN
2- PGS.TS NGUYỄN VĂN KHÁNH
/<T- y -L o -ù t-
HÀ NỘI, NĂM 2002
BUI HONG VAN
LỜI CAM ĐOAN !
Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các sô liệu, kết quả được trình bày trong luận ủn lù trung thực vù
chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 15/02/2002
Nghiên cứu sinh
BUI HÒNG VẠN
Sau 6 năm "miệt mài đèn sácỉì y trai nhiêu gian khỏ\ khó khăn, cuối cùng tôi
đã đến cái đích cần đến của cuộc dòi. Có được thành quả như ngày hôm nay, bén
cạnh sự nỗ lực cô gắng của bản thán, tác giả bản luận án này đã nhận dược sự úng
hộ, giúp đờ to lớn vé tinh thần và vật chất tù những tập thể, cá nhản trong cuộc hành
trình kiếm tìm tri thức của mình.
' Ăn quả nhớ kẻ trổng cá ỳ\ trước hết tỏi xin bày tỏ lòng biết ơn sáu sắc đối với
GS.NGND Phan Đại Doãn, PGS.TS Nguyễn Vãn Khánh - hai người thầy kính yéu -
đã dìu dắt tói trong suốt chặng đường qua. Tỏi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với
các thầy cô trong khoa Lịch sứ, írưòng Đại học Khoa học Xã hội và Nhản vãn, Đại
MỞ ĐẦU 5
Chương 1
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỂ XÃ PHỤNG THƯỢNG
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
1.1. Điều kiện tự nhiên và sự phát triển làng xã
17
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 17
1.1.2. Sự hình thành, phát triển làng xã 20
1.2. Tinh hình kinh tế - xã hội 21
1.2.1. Về kinh tế
21
1.2.2. Về văn hoá, xã hội 30
Chương 2
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI PHỤNG THƯỢNG
TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐEN 1959
2.1. Cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ 1945 - 1954
43
2.1.1. Những biến đổi kinh tế 43
2.1.2. Những biến đổi xã hội 52
2.2. Cơ cấu kinh tế - xã hội những năm 1954-1959
55
2.2.1. Thực hiện nhiệm vụ dân chủ
55
2.2.2. Biến đổi trong cơ cấu kinh tế - xã hội 65
Chươìig 3
cơ CẤU KINH TỂ - XẢ HỘI CỦA PHỤNG THƯỢNG
TRONG GIAI ĐOẠN TẬP THẺ HOẢ (1959 - 1988)
VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HồNG (1945 - 1995)
5.1. Vài nét về kinh tế - xã hội truyền thống vùng châu thổ sông Hồng 132
5.2. Những biến đổi kinh tế - xã hội từ 1945 đến 1995 140
5.3. Mấy khuyến nghị phát triển kinh tế - xã hội
150
KẾT LUẬN 153
CÒNG TRÌNH LIẺN QUAN ĐEN LUẬN Á N
160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 177
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI.
Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nông thôn là địa bàn có tầm
quan trọng đặc biệt. Nếu không có nông thôn thì cũng không có thành thị.
Nông thôn cung cấp những sản phẩm quan trọng bậc nhất cho đời sống là
lương thực, thực phẩm; cung cấp nguồn lao động và những sản phám thủ cổng
xuất khấu thu ngoại tệ, góp phần phát triển đô thị, công nghiệp. N ông nghiệp
còn góp phần giảm bớt sự mất cân bằng m ôi trường sinh thái V ì thế, từ lâu
trên thế giới và ở V iệt Nam , nông thôn đã trở thành đối tượng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học như: sử học, xã hội học, kinh tế học. văn hoá học, v.v
Cho đến nay “ở tất cả các nước, vấn đề nông thôn vẫn còn là một trong những
vấn đề hết sức quan trọng và chắc chắn còn rất lâu, nó mới bị đặt ra ngoài sự
chú ý của con người, của khoa học” [111; tr.93].
Nước ta là một quốc gia đang phát triển, khoảng 80% dân số và trên
70% lao động đang sống ở nông thôn với hoạt động kinh tế chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp. M uốn đẩy mạnh công nghiệp hoá. hiện đại hoá đưa nước
nhà trở thành m ột quốc gia phát triển thì không thế xem nhẹ khu vực này.
đây có 7.039 làng [35; tr. 101-102]; còn hiện nay (năm 2000) có 1.662 xã
[133; tr.631 ]. Từ đó nghiên cứu nông thôn châu thố sông Hồng nói riêng,
nông thôn cả nước nói chung thực chất là nghiên cứu các làng xã. Qua nghiên
cứu các làng xã cho phép chúng ta hiểu được lịch sử Việt Nam, nền văn hoá
8
truvền thống V iệt Nam [110: tr.557]. TTieo suv nghĩ đó. chúng tói đã chọn:
“Biến đối cơ cấu kinh tế - xã hội cùa một xã châu thố sông Hồng: xã Phụng
Thượng (Hà Tây) từ năm 1945 đến 1995" làm đề tài luận án.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM v ụ CỦA LUẬN ÁN.
Luận án tập trung nghiên cứu Pkụnq Thượng (Hà Tây) - một xã nằm ớ
vùng thượng châu thố sôn g H ồng, trên quốc lộ 32A , nối thủ đô Hà Nội với thị
xã Sơn Tây. Trước cách m ạng tháng Tám 1945, Phụng Thượng bình thường
như bao làng xã khác trong châu thố sông Hồng. Từ sau cách mạng đến nay,
làng xã này có những chuyển biến quan trọng về kinh tế - xã hội. Đặc biệt
trong thời kỳ hợp tác hoá, tập thế hoá Phụng Thượng là hợp tác xã nông
nghiệp tiên tiến của huyện Phức Thọ. D o có thành tích, Phụng Thượng được
Hội đồng Nhà nước phong tặng danh hiệu hợp tác xã nông nghiệp anh hùng
năm 1985. Bước sang thời kỳ Đ ổi Mới, Phụng Thượng tiếp tục đạt được những
thành tựu đáng ghi nhận về kinh tế, văn hoá. xã hội.
Theo V .I. Lênin: “Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái
riêng” mà biếu hiện, ngược lại “cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến
cái chung” [45; tr.24 1 ]. Do đó, nghiên cứu Phụng Thượng sẽ cho ta thấy phần
nào những đóng góp của người nông dân vùng châu thố sông H ồng vào sự
nghiệp cách mạng chung; thấy được những chuyển biến của m ột làng nông
nghiệp tiếu nông ven sôn g H ồng, với cơ cấu kinh tê - xã hội truyền thông sang
một cơ cấu kinh tế - xã hội mới, của ch ế độ sở hCai tập thể. N ghiên cứu Phụng
Thượng còn cho ta thấy những biến đối về cơ cấu kinh tê - xã hội ở m ột làng
xã cụ thể của châu thố sô ns H ồng trong thời Đ ổi M ới.
Có nhiều vấn đề cần quan tâm khi tiếp cận đôi tượng, nhimg luận án
chủ yêu tập trung nghiên cứu những biến đối về cơ cấu kinh tế - xã hội. Sở dĩ
lãnh thố. cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kv thuật. Trong đó quan trọng
nhất lù cơ cấu ngành kinh tế. Còn biến đổi cơ câu kinh tế là quá trình làm thay
đối cấu trúc và các mối quan hệ của hệ thông kinh tê theo một chú đích và
định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ thõng kinh tế đến các trạng thái phát
triển tối ưu. đạt được hiệu quá tổng hợp mong m uôn thông qua các tác động
điều khiển có ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng đắn các quv luật khách quan [117; tr.5-6].
Vận dụng lý luận trẽn, khi phân tích cơ cấu kinh tế, luận án chủ yếu tập
trung làm rõ những biến đối về cơ cấu ngành kinh tế. Tuy nhiên, trong từng
thời kỳ, một số khía cạnh khác cũng được xem xét nhằm làm sáng tỏ hơn quá
trình biến đổi của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội có mối quan
hệ biện chứng với nhau; vì thế khi phân tích các vấn đề, luận án cố gắng chi ra
mối quan hệ giữa hai yếu tố này ở mức độ cho phép.
Cơ cấu xã hội là một thuật ngữ X ã hội học, thường được hiếu theo hai
nghĩa rộng và hẹp. T heo nghĩa rộng, cơ cấu xã hội bao gồm tất cả những cộng
đồng người hình thành m ột cách tự nhiên trong lịch sử (các dân tộc, tộc người,
các giai cấp, các tầng lớp xã hội, v.v ) và cả những cộng đồng người được tạo
lập một cách có ý thức (các chính đảng, đoàn thê và các tố chức xã hội khác).
Toàn bộ sự tác động lẫn nhau giữa các cộn g đồng trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội tạo thành các quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp, cơ cấu xã hội chỉ
gồm những cộng đồng người được hình thành m ột cách tự nhiên trong lịch sử
và những tác độne qua lại lẫn nhau giữa các cộ n e đồng đó [145; tr. 10].
Trong cơ cấu chung thì cơ cấu giai cấp có vị trí quan trọng hàng đầu. Chính
cơ cấu giai cấp gắn liền trực tiếp với quan hệ sản xuất, quy định bản chất
những mối quan hệ xã hội, chính trị, đạo đức, pháp lí, v.v của m ỗi thành
viên xã hội [44; tr.612]. Trong luận án, chúng tôi sử dụng cơ cấu xã hội theo
nghĩa rộng. Song do-m ục tiêu và giới hạn ngh iên cứu đặt ra nên luận án chủ
vếu tập trung phân tích biến đổi về cơ cấu giai cấp: đồng thời có xem xét ớ
mức độ nhất định các khía cạnh khác của cơ cấu xã hội. Riêng trong thời kỳ
Đổi Mới. xét trên phương diện chính trị. cơ cấu giai cấp không (hay chưa)
Lùng Nguyễn - tìm hiểu lùng Việt II (Diệp Đình Hoa chủ biên, 1990), Vãn hoú
và cư dân đồng bằng sông Hồng (Vũ Tự Lập chủ biên, 1991), Vê một s ố lùng
buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX (Nguyễn Quang Ngọc, 1993), Ninh
Hỉệp truyền thông vù phút triển (Tô Duy Hợp chủ biên, 1995), M ột lùng Việt
cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Hải Kế, 1996), Hệ thống tìôtìg nghiệp
Liũi vực sông Hồng (Đào Thế Tuấn - Pascal Bergeret, 1998), Là/Ig Việt Nam,
một sô vấn đề kinh tế - vân hoá - xã hội (Phan Đại Doãn, 2001), v.v
Đặc biệt vào thập niên 1990, đề tài làng xã và nông thôn châu thổ sông
Hổng còn thu hút sự tham gia của một số học giả và nghiên cứu sinh người
Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bỉ, Australia, Cộng hoà Liên bang Đức Trong đó
có một vài công trình đcĩ được công bố: Lùng Yên sà tử truyền thống đến hiện
đại vù so súnh với những biến đổi nông thôn Hùn Quốc (Jeong Nam Song,
1996), Vietnamese Vilỉages itì transition (Làng xã Việt nam trong biến đổi,
Bemhardahm-Houben, Đại học Passau, 1999), Sociologie cTune commune
Vietnamienne (A27 hội học một làng Việt Nam, F. Houtart, L.Geneviève,
Louvin la Neuve, Belgique, 1981). Có hai chương trinh rất đáng lưu ý của tập
thể các nhà khoa học Nhật Bản phối hợp với các nhà khoa học Việt Nam
(Trung tâm Việt Nam học, thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) tiến hành nghiên
13
cứu sâu về làng Bách Cốc (Hà Nam) và Viện Viễn Đông bác cố Pháp phôi
hợp với Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân vãn quốc gia nghiên cứu không
gian nông nghiệp vùng châu thố sông Hồng. Hai chương trình này được triển
khai trong những năm 1990, nhưng đến nav kết quả nghiên cứu còn đang
trong giai đoạn hoàn tất.
3.2. Trước cách mạng tháng Tám 1945, tuy không nối trội như một sô
làng xã khác trong vùng châu thổ sông Hồng; nhưng Phụng Thượng đã được
một số bộ sử phong kiến nhắc đến là: Đại Việt sử kỷ toàn thư, Việt sử thông
giám cương mục, Đụi Việt Thông sử và Đụi Nam nhất thông chí. Ba cuốn đầu
chép về trận chiên giữa quân đội Trịnh và Mạc trên đất xã Phấn Thượng (tên
cũ của Phụng Thượng) năm 1591. Còn trong Đại Nam nhất thống chí có đôi
xã Phụng Thượng trong khoảng nửa thế kỷ qua.
4. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIẺN cứ u .
4.1. CÁC NGUỒN TÀI LIỆU.
4.1.1. Luận án khai thác, sử dụng nhiều nguồn tài liệu. Tựu trung lại
gồm ba nguồn sau đây: 1- Cúc thư tịch, bia kỷ, sổ sách, báo cáo, vùn hàỉi,
hưng biểu thống kẽ của xã, huyện, tỉnh và Trung ương; 2- Các tài liệu điều
tra thực địa (điền dă, điều tra xã hội học); 3- Các công trình nghiên CỈÚI đủ
công b ố của các tác già đi trước có liên quan đến Phụng Thượng và châu thổ
sông Hồng. Trong ba nguồn tài liệu trên thì nguồn 1 và 2 đóns vai trò quan
trọng trong luận án.
4.1.2. Do chiến tranh, thời tiết khí hậu và do ý thức lưu trữ, bảo quản
kém mà nhiều tài liệu ở địa phương đã mất mát hoặc còn thì rách nát, nhoè mờ
rất khó đọc, thậm chí khồng đọc được. Trong một số tài liệu còn có tình trạng
sự kiện, số liệu không khớp nhau. Đó là những khó khán khi thực hiện đề tài.
Trong tình hình như vậy, chúng tôi đã cố gắng khai thác, thư thập tài liệu từ
nhiều nguồn; rồi tiến hành đối chiếu, phân tích kỹ đế có được những số liệu,
sự kiện đáng tin cậy sử dụng cho luận án.
4.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u .
4.2.1. Cơ SỞ phương pháp luận của luận án là chú nghĩa Mác - Lênin:
trong đó học thuyết hình thúi kinh tế- xã hội, học thuyết giai cấp vù đấu tranh
giai cấp đóng vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, luận án còn vận dụng một số luận
điểm trong lý luận của các nhà xã hội học khác như: Mar W erber. Parsons
để lí giải m ột số vấn đề biến đối xã hội, phân tầng xã hội ở Phụng Thượng và
nòng thôn châu thố sông Hồng hiện nay.
4.2.2. Xuất phát từ đối tượng và vấn đề nghiên cứu đặt ra, luận án đã áp
dụng quan điếm tiếp cận đa ngành, liên ngành. Cụ thế là kết hợp giữa các
phương pháp: sử học - kinh tê học - xã hội học - văn hoá học, phân tích hệ
thống - cấu trúc (hệ thống - cấu trúc kinh tế, hệ thống - cấu trúc xã hội), điền
dã dân tộc học, điều tra xã hội học, xử lý tài liệu, v.v để nghiên cứu.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN.
phát triển cho vùng và Phụng Thượng.
17
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VE XẢ PHỤNG THƯỢNG
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Chương Ị
1.1. ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN VÀ sự PHÁT TRIEN l à n g x ã.
1.1.1. ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN.
Phụng Thượng là một trong 23 xã, thị trấn thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh
Hà Tây. Xã nằm về phía Đông Nam huyện lỵ, trên quốc lộ 32A (trước là
11A), cách Hà Nội 30 km về phía Tây và cách thị xã Sơn Tây 10 km về phía
Đông. Phía Bắc Phụng Thượng giáp xã Long Xuyên; phía Đông giáp xã Ngọc
Tảo; phía Tây giáp xã Đại Đồng (các xã của Phúc Thọ) và phía Nam giáp hai
xã: Hương Ngải, Phú Kim (của huyện Thạch Thất, Hà Tây).
Từ lập làng đến trước cách mạng tháng Tám 1945, Phụng Thượng thuộc
về nhiều đơn vị hành chính. Dưới thời Hồng Đức (1460-1469), làng có tên
Phấn Thượng, thuộc Phúc Lộc, Phủ Quốc Oai. Sau đó vào năm cảnh Hưng
thứ 3 (1742) vẫn thuộc Phúc Lộc, nhưng là Phu Quảng Oai. Dưới thời Tây
Sơn, Phấn Thượng đổi thành Tảo Thượng và thuộc Phú Lộc. Đến thời Gia
Long (1802), Phú Lộc đổi lại thành Phúc Lộc, Tảo Thượng thuộc Phúc Lộc.
Vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Phúc Lộc đổi thành Phúc Thọ, Táo
Thượng thuộc huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai. Đến năm Minh Mệnh thứ 5
(1824), xã Táo Thượng đổi thành Phung Thượng và tên này được giữ nguyên
từ đó đến nay. Thời Thành Thái (1889-1907), tổng Tảo Thượng đổi thành tổng
Phụng Thượng, Phụng Thượna thuộc tổng Phụng Thượnơ, huyện Phúc Thọ,
tính Son Tây
M - ụ / 3 1 0
18
Trong quá trình lịch sử. Phụng Thượng mang nhiều tên gọi khác nhau:
Phấn Thượng, Tảo Thượng, Cảo Thượng. Phụng Thượng, Bún Thượng, Kẻ
Bún, Làng Bún. Trong đó Phấn Thượng. T ảo Thượng, cá o Thượng và Phụng
gốc chung như vậy!
Trong sự tích dựng chùa họ Đỗ cho ta biết về cảnh quan, môi trường
sinh thái xưa của Phụng Thượng. Cụ tổ họ này có người con trai bị chết đuối
nên lập chùa (1425) làm nơi thờ cúng. Chùa dựng nơi đất cao sau làng, nơi ấy
là rừng có nhiều giang, nứa nên được coi là chùa Giang, chùa Nứa. Như vậy
trước thế kỷ XIII, Phụng Thượng còn là vùng hoang hoá thuộc miền đất cố xứ
Đoài - một trong “tứ trấn” của nước ta. Trong bản đồ cảnh quan châu thố sông
Hồng tỷ lệ 1/100.000, Phụng Thượng thưộc vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng
và trung du Bắc Bộ. Đất “thuộc vùng đồng bàng tích tụ phù sa cũ - m ới, cao,
xen đồi sót chạy từ Phúc Thọ đến Thạch Thất” [168; tr.95]. Thê đất nhấp nhô
chạy từ chỗ cao xuống chỗ thấp là cánh đồng lòng chảo, Phụng Thượng là nơi
thấp nhất. Trong xã có những con dộc quanh co uốn khúc, dấu vết chuyển
biến của lòng sông xưa mà nay còn lưu lại trong những cái tên như dộc Láng,
dộc Tế, dộc Đân, v.v
Phụng Thượng mang đặc điểm khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trong lịch sử, sông Hồng, sông Đà và sòng Tích đã bồi đắp phù sa cho đất đai
Phụng Thượng và các làng xã khác trong vùng, tạo nên sự màu mỡ tốt tươi.
Song cũng chính các sông này (nhất là sông Hồng) về mùa mưa bão nước
thường lên to, gây nên cảnh lụt lội, vỡ đê. Chỉ tính 2 lần vỡ đê sông Hồng vào
nãm 1913 và năm 1945 đã gây bao thảm hoạ cho nhân dân các làng xã trong
vùng [2; tr.311].
20
1.1.2. Sự HÌNH THÀNH, PHÁT TRIẺN' LẢNG XẢ.
Những cư dân đầu tiên đến Phụng Thượng khai phá. lập làng là một số
gia đình họ Hà, Nhữ, Doãn. Cù, Đàm thuộc miền bán sơn địa (Thạch Thất).
Trong quá trình lịch sử, người từ nhiều nơi đến đây chung lưng đấu cật khai
phá đất hoang, dựng xâv phát triển thành Phụng Thượng ngày nay.
Lịch sử phát triển nông thôn nước ta xuất hiện hai kiêu hình thành làng.
Trong buổi ban đầu lập làng, một số làng xã hình thành theo kiểu “làng - họ"
như Nguyễn Xá, Đào Xá, Đặng Xá (Thái Bình) Nhưng phố biến hơn cả là
1.2. TÌNH HÌNH KINH TÊ' - XÃ HỘI TRƯỚC CÁCH MẠNG 8/1945.
1.2.1. VỀ KINH TỂ.
1.2.1.1. Nông nghiệp truyền thống bao gồm trồng trọt và chãn nuôi;
trong đó trồng trọt giữ vai trò chủ đạo. Đôi với sản xuất nông nghiệp, đất đai
là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất. Chế độ sở hữu ruộng đất phản ánh cơ
cấu kinh tế - xã hội và sán sinh ra cơ câu kinh tế - xã hội; ngược lại cơ cấu
kinh tế - xã hội là cơ sở đế tái lập, tái sinh chế độ ruộng đất.
Từ lập làng đến nửa đầu thế ký XIII, hoạt động kinh tè chú yêu của cư
dân Phụng Thượng là gieo trồng lúa nước, kết hợp với nuôi gia cầm, gia súc
đồng thời khai thác tự nhiên (hái lượm, đánh bắt cua, tòm, cá ốc ). Trong nén
nông nghiệp lúa nước thì nước đóng vai trò hết sức quan trọng (“Nhát nước,
nhì phán, tam cần, tứ giống”), là khâu cốt yếu bảo đám cho mùa vụ có năng
suất cao. Vì thế mà các triều đại phong kiến Việt Nam từ rất sớm đã quan tàm
đến đắp đê, trị thuỷ và làm thný lợi phục vụ sản xuất nòns nghiệp. Từ giữa thế
kỷ XIII, nhà nước phong kiến đẩy mạnh việc đắp đê, hệ thống “đè quai vạc”
trong châu thố sông Hồng dần dần hình thành. Hệ thông nóng nghiệp2 Phụng
Thượng và các làng xã trong vùng có biến đối quan trọng. Ruộng đất canh tác
tăng lên do việc đẩv mạnh khai khẩn đất hoang và chế ngự được nước lũ. Dán
số phát triển, làng xóm được cúng cố và mớ rộng.
Theo chính sử. vào nãm 1591 trên đất Phấn Thượng xẩy ra trận kịch
chiến giữa quán đội Nhà Trịnh và Nhà Mạc. Quán Trịnh giành thắng lợi
nhưng binh sĩ hai bên chết trận rất nhiều. Sau chiến tháng, vua Lê-chúa Trịnh
cho xây đền c ổ Tảo Thượng làm nơi cúng tế binh sỹ trận vong. Hàng năm vua
Lê, chúa Trịnh thường ngự giá về đây kỷ công chiến thắng. Sự kiện trên cho
thấy, vào thế kỷ XVI, Phụng Thượng là một trung tâm kinh tế - xã hội trong
vùng và nằm trên trục giao thông từ Đông Đỏ lên vùng Xứ Đoài xưa.
Vào các thế kỷ XVI-XVIII, kinh tế hàng hoá nước ta khá phát triển.
Phụng Thượng là một điểm khôns xa đồ thị, lại khá thuận lợi về giao thông
nên nhận được tác động từ các trung tâm (Đông Đô, Sơn Tây và các làng nghề
trong vùng), tạo nên những biến đổi quan trọng. Sớ hữu đất đai ngàv càng đa
1. Canh tác
900
324,0 60,7
2. Công châu thổ
20
7,2
1,3
3. Nghĩa địa 52 18,7
3,5
4. Thổ cư
200
72,0 13,5
5. Ao chuôm
11
4,0 0,8
6. Xâm canh
300
108,0 20,2
Tổng sô
1483
532,8
100
Nguồn: [16], [43]
Từ thế kỷ XVI trớ đi, ruộng công nước ta ngày càng bị thu hẹp, còn
ruộng đất tư thì có xu hướng tăng lên. Tuy vậy vào đầu thế kỷ XX xẩy ra hiện
tượng “công điền hoá” trở lại đối với tư điển. “Nếu so sánh với thời kỳ đầu thế
kỷ XIX thì sau một thế kỷ, tỷ lệ công điển khôns những không giảm, trái lại
đã tăng lên từ 17% thành 19% ở Bắc kỳ ” [103; tr.85-86].
Đến đầu thế kỷ XX, công điền của làng Phụng Thượng còn lại rất ít,
vào khoảng 91 mẫu (32,4 ha; 7,5%). Song nếu tính cả ruộng công của họ,
nhà sư
cúng phật
Công điển
1. 1.0
nhà sư
thờ ngày 6/2
Công điển
2.10
thợ kèn
không nói rõ
Cồng điển
2.0 thợ ngoã
sửa chữa các sở công
Hậu điền 3.7
không nói rõ
cúng lễ
Công điền
9.0
tích nhân
thay cấp khẩu lương
Công điền
27.0.0
đinh các họ
xung công quỹ
Công châu thổ
3.0.0
1 chia, 2 bán trương
lấy tiền xung quỹ
Công chàu thổ
45.0.0 giao xóm Tế Giáp
chưa phát triển và hầu như không có sự hỗ trợ của khoa học - kỹ thuật nên
năng suất, sản lượng lúa và cây trồng đạt rất thấp. Năng suất lúa bình quân đạt
14-15 tạ/ha.
Vào đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa Bắc kỳ cho xây dựng hệ
thống thuỷ nông Phù Sa, Đập Đáy, lập Sở canh nông, Nôrrn quỹ ngân hàng
[33; tr.86-90] trợ giúp nông dân phát triển sản xuất thì tình hình nông nghiệp
có được cải thiện hơn. Từ đây xuất hiện hệ sinh thái hai vụ lúa trong một năm.
Tuy vậy, do đồng đất chưa được cải tạo nên nhân dân địa phương chí gieo cấy
được thêm khoáng 30% diện tích canh tác vụ lúa chiêm. Cơ cấu cây trồng còn
đơn điệu và hầu như không có sự đổi m ới. Trong vụ mùa các loại lúa Gié hin.