Tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGUYỄN THỊ LINH CHI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA MẠNH TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

HÀ HỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


7. Đóng góp của luận văn 8
8. Kết cấu của luận văn 8
NỘI DUNG
Chương 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ 9
1.1. Hoàn cảnh ra đời 9
1.2. Một số tiền đề tư tưởng cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng
chính trị - xã hội của Mạnh Tử 15
Kết luận chương 1 29
Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ 30
2.1. Quan niệm của Mạnh Tử về con người 30
2.2. Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng đức trị của Mạnh Tử 50
2.3. Những giá trị, hạn chế chủ yếu và ý nghĩa cơ bản trong tư tưởng
chính trị - xã hội của Mạnh Tử 69
Kết luận chương 2 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Qua nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo và Nho giáo Việt Nam
hiện nay, về lịch sử và văn hoá Việt Nam cho thấy, từ khi Nho giáo du nhập vào
Việt Nam cho đến bây giờ, Nho giáo đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều
mặt của đời sống xã hội với con người Việt Nam. Cho nên, việc nghiên cứu trở
lại Nho giáo với mục đích “gạn đục khơi trong”, chỉ ra phát huy những giá trị nổi
bật, những tinh hoa của Nho giáo, đồng thời khẳng định tính thực tiễn và sức
sống của nó là nhiệm vụ hết sức cần thiết trong nghiên cứu.
Việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử cũng không

minh. Chẳng hạn như, từ tư tưởng đề cao vai trò của con người và đặt con người,
nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội cơ bản, ông đã đưa ra những
chuẩn mực đạo đức và những quy phạm, những yêu cầu có tính đạo đức, mang
nội dung đạo đức và hành động theo đạo đức để điều chỉnh mọi hành vi, mọi
hoạt động của con người. Và, đó là tư tưởng về một bậc minh quân có đạo đức,
hiểu và hành động theo nhân nghĩa; đó là tư tưởng “Dân vi quý”. Đặc biệt, đó là
tư tưởng về đường lối trị nước theo phương pháp Đức trị (còn được gọi là Nhân
trị hay Nhân chính), được biểu hiện dưới hình thức những quy định và những
đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân lý, đạo đức được mọi người thừa
nhận và chấp hành một cách tự giác.
Nghiên cứu và nhìn nhận khách quan, chúng ta có thể thấy được rằng tư
tưởng của Mạnh Tử không những vẫn giữ được những nội dung cơ bản những
cái tinh tuý nhất của bậc thầy (Khổng Tử) mà trong tư tưởng của ông, còn có
những bổ sung, phát triển, những lý giải mới. Chính sự bổ sung, phát triển thêm
cũng như sự lý giải của Mạnh Tử về những nội dung, tính chất cơ bản trong tư
tưởng Khổng Tử đã tạo nên sự độc đáo và nét riêng nổi bật trong hệ thống tư
tưởng của Mạnh Tử nói chung và trong tư tưởng chính trị - xã hội của ông nói
3

riêng. Ngoài ra, chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa rằng, có nghiên
cứu và đánh giá một cách khách quan, toàn diện những nội dung cơ bản trong
học thuyết chính trị - xã hội của Mạnh Tử, mới có thể nhận thức một cách đầy đủ
hơn, chính xác hơn những giá trị cũng như những hạn chế của nó nói riêng và
học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung.
Việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử nói riêng và
Nho giáo nói chung đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đến. Ở mỗi
công trình nghiên cứu ấy, chúng ta bắt gặp những cách tiếp cận khác nhau, nhiều
kết qủa nghiên cứu đáng ghi nhận. Kế thừa những kết qủa nghiên cứu ấy, từ góc
độ triết học, chúng tôi thấy cần phải tiếp tục khai thác, nghiên cứu những nội
dung, các giá trị chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử. Vì

chính trị - xã hội, Mạnh Tử đã đặt ra yêu cầu đối với nhà cầm quyền là phải biết
coi trọng nhân dân, coi dân là của báu, là của quý và do vậy, phải luôn quan tâm,
chăm lo đến đời sống vật chất của dân và phải thường xuyên giáo dục, giáo hóa
dân, phải dựng nên một nhà nước hoạt động theo đường lối nhân trị.
Nói chung, khi nghiên cứu về tư tưởng của Mạnh Tử, Lã Trấn Vũ tập
trung làm rõ những nội dung cụ thể qua từng học thuyết và trên cơ sở đó, làm rõ
những mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử
trong bối cảnh lịch sử của xã hội Trung Quốc thời Chiến Quốc.
2. Nguyễn Thanh Bình với Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và
ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Từ cách nhìn nhận Nho giáo với tư cách là một hệ
thống chỉnh thể, và từ việc nhìn nhận Nho giáo chủ yếu với tư cách là một học
thuyết chính trị - xã hội, tác giả đã trình bày tư tưởng chính trị - xã hội của Nho
giáo, trong đó tác giả đã chỉ ra và phân tích một cách khái quát nhất, cơ bản nhất
những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử.
Khi đề cập đến “thuyết tính thiện” của Mạnh Tử, tác giả đã cho thấy,
trong quan niệm của Mạnh Tử, bản tính của con người từ khi mới sinh ra là do
trời phú, cho nên vốn là thiện.Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định rằng,
5

cũng giống với các nhà Nho đương thời, Mạnh Tử đã từ quan điểm Dân vi quý
để đặt ra những yêu cầu đối với nhà cầm quyền phải tạo điều kiện cho dân có
cuộc sống đầy đủ, thì họ mới thực hiện được đạo hiếu, đạo trung, mới học và làm
theo Lễ, Nghĩa.
3. Trong tác phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim, khi đề cập đến Mạnh
Tử và tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử, tác giả đã lý giải rằng, Mạnh Tử
sở dĩ nói đến tính thiện trong con người là vì ông ta tin có cái thiên lý chí thiện,
mà tính người là một phần thiên lý ấy, tất là phải thiện. Còn khi đánh giá về triết
lý chính trị của Mạnh Tử, Trần Trọng Kim cho rằng, Mạnh Tử đã lấy nhân nghĩa
làm bản tính người thì việc chính trị cũng phải lấy nhân làm gốc. Nếu người ta ai

Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, liên quan đến nội dung đề
tài luận văn, còn có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết được đăng trong
các Kỷ yếu hội nghị khoa học, các tạp chí khoa học, như: “Góp phần tìm hiểu tư
tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử” của Doãn Chính (Tạp chí Triết học, số 07,
năm 2001); “Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử” của
Lương Minh Cừ (Tạp chí Triết học, số 06, năm 2005); “Nho giáo và sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Tài Thư (Tạp
chí Triết học, số 05, năm 2002), v.v.
Nhìn chung, các công trình đó đều đã đề cập đến một số nội dung chủ
yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử, đã chỉ ra một số giá trị và hạn
chế chủ yếu của nó. Tuy nhiên, ở những công trình ấy,các tác giả mới dừng lại ở
việc trình bày một cách khái quát một hoặc một số nội dung cụ thể chứ chưa đi
sâu và trình bày một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về tư tưởng chính trị
- xã hội của Mạnh Tử. Vì vậy, trong bản luận văn này, tiếp thu và kế thừa những
thành quả nghiên cứu từ những công trình nghiên cứu đã có về tư tưởng chính trị
7

- xã hội của Mạnh Tử, từ phương pháp tiếp cận triết học, chúng tôi cố gắng và
tập trung trình bày một cách có hệ thống và toàn diện những nội dung, những
vấn đề chủ yếu trong tư tưởng của Mạnh Tử (thông qua việc nghiên cứu sách
Mạnh Tử)
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích của Luận văn là, thông qua việc trình bày và phân tích một
cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của
Mạnh Tử, để từ đó, vạch ra những giá trị và hạn chế chủ yếu của tư tưởng này.
Xuất phát từ lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan
đến đề tài và mục đích đặt ra cho đề tài, nhiệm vụ của Luận văn là trình bày, làm
sáng tỏ những nội dung cơ bản sau:
- Bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề đối với sự ra đời tư tưởng chính
trị - xã hội của Mạnh Tử.

của Luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
Chương 1: Bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề ra đời tư tưởng chính trị -
xã hội của Mạnh Tử (2 tiết).
Chương 2: Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của
Mạnh Tử (3 tiết). 9

NỘI DUNG
Chương 1.
BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
1.1. Hoàn cảnh ra đời
1.1.1. Vài nét về Mạnh Tử và sách Mạnh Tử
Mạnh Tử tên thật là Mạnh Kha, tự là Dư, người nước Trâu, nay thuộc
tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Theo sách Mạnh Tử phả, thì ông sinh vào ngày mồng 2 tháng tư năm thứ
tư đời vua Chu Liệt Vương (372 trước CN) và mất vào ngày 15 tháng mười một,
năm thứ hai mươi sáu, đời vua Chu Noãn Vương (289 trước CN). Nhà Mạnh Tử
là đời sau của dòng họ Mạnh Tôn, quý tộc nước Lỗ. Theo Sử ký Tư Mã Thiên,
Mạnh Tử là người theo phái Nho gia của Tăng Tử nước Lỗ. Ông là học trò của
Tử Tư (Khổng Cấp - cháu nội của Khổng Tử).
Thuở ông lên 3 tuổi, thì cha mất, nhờ có mẹ hiền dạy dỗ sau theo học

Mạnh Tử là nhà tư tưởng lớn của thời Chiến Quốc, dù rằng khi Mạnh Tử ra đời
thì Khổng Tử đã mất cách đó 100 năm, nhưng ông là người kế thừa, có công lớn
trong việc phát huy, phát triển học thuyết của Khổng Tử. Và chính tư tưởng của
Khổng Tử kết hợp với tư tưởng của Mạnh Tử (trên cơ sở kế thừa, phát triển tư
tưởng của Khổng Tử) đã tạo thành cái gọi là “Khổng Mạnh chi đạo”.
Bộ sách Mạnh Tử rốt cuộc có phải do Mạnh Tử viết hay không, từ trước
đến nay, vẫn tồn tại 3 quan niệm. Một là, hoàn toàn khẳng định do Mạnh Tử tự
tay viết. Hai là, do các đệ tử của ông như Vạn Chương, Công Tôn Sửu ghi lại
sau khi Mạnh tử qua đời và ba là, như lời Tư Mã Thiên viết trong sách Mạnh Tử
liệt truyện: “Lui về cùng với Vạn Chương chi đồ tự Thi, Thư thuật ý Khổng Tử,
viết Mạnh Tử thất thiên”. Hiện nay, nhiều người cho rằng, lời Tư Mã Thiên có
thể tin được, bởi ông sống ở thời đại tương đối sớm, có được những nguồn tư
liệu tương đối chính xác, nghe được nhiều điều lưu truyền trong dân gian.
11

Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, mỗi thiên chia thành thượng và hạ (người
đời sau gọi là chương cú thượng và chương cú hạ). Cũng có thể nói sách Mạnh
Tử có 2 quyển (phần): Thượng (phần Thượng, quyển Thượng) là tập hợp chương
cú thượng trong 7 thiên; và Hạ (phần Hạ, quyển Hạ) là tập hợp chương cú hạ
trong 7 thiên. Vì vậy, toàn bộ sách Mạnh Tử gồm 14 chương cú, đó là:
1. Lương Huệ Vương chương cú thượng.
2. Lương Huệ Vương chương cú hạ.
3. Công Tôn Sửu chương cú thượng.
4. Công Tôn Sửu chương cú hạ.
5. Đằng Văn Công chương cú thượng.
6. Đằng Văn Công chương cú hạ.
7. Ly Lâu chương cú thượng.
8. Ly Lâu chương cú hạ.
9. Vạn Chương chương cú thượng.
10. Vạn Chương chương cú hạ.

Các nước đều có những trung tâm luyện sắt, Hàm Đan nước Triệu, Uyển nước
Sở, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề… đều là những nơi sản xuất đồ
sắt phát triển. Một số nước đặt ra chức “Thiết quan” chuyên môn quản lý, kinh
doanh ngành luyện sắt và thu thuế hàng sắt. Lúc bấy giờ, không những phần lớn
nông cụ như lưỡi cày, cuốc, liềm, xẻng, mai, rìu, dao…bằng sắt, mà phần lớn đồ
binh khí cũng được làm bằng sắt. Những nơi luyện sắt quy mô lớn thu hút hàng
trăm nô lệ làm việc. Và điều đó đã làm cho nhiều chủ lò luyện sắt trở lên giàu có
nhờ bóc lột sức lao động. Sự tiến bộ trong ngành luyện sắt cũng thúc đẩy sự phát
triển hơn nữa của thủ công nghiệp. Đồ chạm vàng và dát bạc, hàng lụa và đồ sơn
là những sản phẩm thủ công tinh xảo nhất của thời Chiến quốc. Nổi tiếng nhất có
hàng tơ lụa màu của nước Tề, đồ sơn có tranh vẽ màu của nước Sở. Do vậy mà,
13

sự trao đổi hàng hoá trong một nước cũng như giữa các nước ngày càng được
mở rộng và tăng cường hơn so với thời Xuân thu.
Để đáp ứng nhu cầu trao đổi và phát triển thương nghiệp, các thành thị
lớn đều tự chế tạo ra tiền tệ. Tiền tệ kim loại đến thời Chiến Quốc đã phát triển
mạnh. Tiền thường được đúc bằng đồng, cũng có loại đúc bằng vàng, có mang
tên thành thị hoặc tên nước; hình thức, trọng lượng và giá trị tiền tệ các nước rất
khác nhau. Thương nhân lớn ở các thành thị còn có nghề cho vay nặng lãi, tích
trữ đầu cơ, nuôi rất nhiều nô lệ để vận chuyển hàng hoá. Quý tộc cũng bắt chước
thương nhân kinh doanh buôn bán và cho vay nặng lãi. Những thương nhân lớn
có thế lực về kinh tế thường có nhiều tham vọng về chính trị, muốn dựa vào sức
mạnh kinh tế và tiền tài để khẳng định quyền lực chính trị của mình.
Cùng với sự phát triển ấy, thuỷ lợi và canh tác nông nghiệp ở các nước
đều dần phát triển. Nhờ việc sử dụng ngày càng phổ biến hơn nông cụ bằng sắt
so với thời Xuân Thu trước đây, mà công cuộc thuỷ lợi và canh tác nông nghiệp
ở các nước có những bước phát triển hơn so với trước đây. Nhân dân ở dọc sông
Hoàng Hà đắp hàng nghìn dặm đê dọc theo sông. Nước Tần đã đắp đập Đô
Giang nổi tiếng, tưới cho cả một vùng đồng bằng thành đô rộng lớn. Ở Quan

công khanh và đại phu ở các nước, do lập được nhiều chiến công lớn, cho nên được
ban cấp rất nhiều ruộng đất, tù binh. Trong quá trình đó, có một số ít đại phu có thế
lực kinh tế cũng như chính trị ngày càng mạnh lên bên cạnh số đông các đại phu
khác ngày bị sa sút đi, ngày càng suy yếu. Chiến tranh cướp đoạt và đời sống xa xỉ
khiến một số trong số họ mất hết của cải và thái ấp, trở thành kẻ sĩ bình thường
hoặc bị giáng xuống làm nô bộc. Tầng lớp đại phu đã suy yếu, không giữ được địa
vị quý tộc thế tập của họ nữa. Vua trực tiếp thống trị nhân dân, bắt nhân dân phải
chịu binh dịch và sưu dịch, thu tô ruộng và thuế nhân khẩu.
Ngoài ra, do sự phát triển của sức sản xuất, sự xuất hiện và phát triển của
kinh tế hàng hoá, do chiến tranh, loạn lạc xảy ra liên miên mà làm cho tổ chức
công xã nông thôn và cơ cấu của nó cũng như chế độ tỉnh điền bị phá hoại
15

nghiêm trọng. Trong thôn, xã, sự phân hoá giai cấp, giàu nghèo ngày càng mạnh
mẽ. Tầng lớp quý tộc, địa chủ và thương nhân giàu có cướp đoạt nhiều ruộng đất
của nông dân, cùng với đó là việc biến người nông dân thành kẻ làm mướn.
Quan hệ sản xuất theo kiểu nông nô xuất hiện và dần dần chiếm ưu thế trong lĩnh
vực nông nghiệp.
Chiến tranh liên miên và tàn khốc trong thời Chiến Quốc đã phá hoại
nghiêm trọng sức sản xuất xã hội thời đó. Nhân dân phải chịu mọi tai hoạ nặng
nề từ thực trạng ấy và vì vậy, họ luôn khao khát một cuộc sống hoà bình, yên ổn.
Thực tiễn xã hội không chỉ ở thời Xuân Thu mà ngay cả trong thời
Chiến Quốc bấy giờ vẫn luôn đặt ra một vấn đề lớn và cần phải có lời giải cho
nó: Cách tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình cũ đến lúc này càng chứng tỏ là
không còn phù hợp nữa. Vì vậy một mặt, cần phải thiết lập lại trật tự, kỷ cương
của xã hội và đưa xã hội vào thế ổn định, phát triển; và mặt khác, cần phải kiến
tạo mô hình của một xã hội mới - xã hội lý tưởng.
Rõ ràng, vấn đề lớn ấy cũng như những lời giải đáp cho nó không chỉ là
một vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách mà còn là câu hỏi lớn, là nỗi băn khoăn
cho thời đại. Và đó cũng là một trong những nội dung chủ yếu trong đời sống tư

phải đạo cha, con không phải đạo con” [33,tr.13-23] và đứng trên lập trường của
bộ phận tiên tiến của giai cấp quý tộc nhà Chu, Khổng Tử chủ trương lập lại
pháp chế nhà Chu với những nội dung mới cho phù hợp. Ông mở trường dạy
học, đi chu du khắp các nơi trong nước, tranh luận với các phái khác để tuyên
truyền lý tưởng của mình, nhằm mục đích cải biến trật tự xã hội bằng con đường
cải lương, cải cách.
Trong tư tưởng của mình, Khổng Tử còn đề ra giải pháp trong việc cai
trị, quản lý xã hội để ổn định trật tự, kỷ cương của xã hội theo mô hình và thiết
chế xã hội nhà Chu. Những tư tưởng và giải pháp đó được tập trung trong học
thuyết chính trị - xã hội và nhất là trong tư tưởng về đường lối đức trị của ông.
17

Có thể khái quát một số nội dung chủ yếu trong học thuyết chính trị - xã
hội của Khổng tử như sau.
1.2.1.1. “Nhân” là nền tảng trong học thuyết chính trị - xã hội của
Khổng Tử.
Trong sách Luận ngữ của Khổng Tử, phạm trù “Nhân” là phạm trù trung
tâm, cơ bản. Phạm trù này, không chỉ là người, mà chủ yếu chỉ cái đức, các
phẩm chất đạo đức và bản chất tự nhiên, cần có của mọi người. Nhân vừa là thể
tự nhiên, yên lặng, vừa là cái năng lực sinh ra các đức tính khác. Nó (nhân, đức
nhân) chính là hạt nhân, là nguồn gốc và là động lực của mọi hành động và suy
nghĩ của mỗi người, của con người. Nhân đồng thời là dụng, dễ cảm ứng và
người có đức nhân thì lúc nào cũng thấu suốt vạn vật, người có đức nhân thì làm
việc gì cũng đúng và thích hợp.
Ngoài ra, trong tư tưởng của Khổng Tử, Nhân không những chỉ riêng
một đức tính mà nó còn chỉ mọi đức tính cần có khác của con người và theo đó,
người có “Nhân” là người có nghĩa, có lễ, có trí, có tín, có hiếu, có trung. Và
theo ông, con người có những cái đức như vậy thì có được cái đạo làm người của
mình. Đạo người có hàng ngàn, hàng vạn điều, nhưng chung quy lại là, những
điều đối với mình cũng là đối với mọi người, nên “Nhân” có thể hiểu là cách cư

tưởng “tiên phú, hậu giáo” - trước tiên phải làm cho dân giàu, sau đó mới giáo
dục, giáo hóa dân. Tư tưởng này của Khổng Tử đã được ghi chép rõ trong
chương Tử Lộ, sách Luận ngữ: “Khi thấy dân nước Vệ đông, Nhiễm Hữu hỏi
Khổng Tử rằng: “Dân đã đông đảo, nên thêm điều gì?”, thì Khổng Tử trả lời
rằng: “Giúp cho dân giàu!”. Nhiễm Hữu lại hỏi: “Dân đã giàu có, nên thêm điều
gì?!”. Khổng Tử trả lời: “Dạy dỗ dân” [32,tr.504]. Ở đây rõ ràng là, trong tư
tưởng của Khổng Tử, muốn giáo dục dân, trước hết phải giúp dân có một đời
sống kinh tế đầy đủ và ổn định. Và trong việc giáo hoá dân, theo Khổng Tử,
không chỉ theo tinh thần “hữu giáo vô loại” - ai cũng có thể và cần phải được
giáo dục, giáo hóa, mà giáo hóa dân còn phải thực hiện đúng tinh thần “hối nhân
bất quyện” - dạy người không biết mệt mỏi.
19

Thứ hai: “Nhân” là phương châm xử thế đối với mình và đối với người.
Như trong chương Nhan Uyên, sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Xuất môn như
kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tại bang vô
oán” [32,tr.473] - ra cửa phải nghiêm trang như gặp khách quý, sai khiến dân thì
phải thận trọng như dự lễ tế lớn. Điều gì mình không muốn người làm cho mình
thì không nên làm cho người. Như vậy trong nước không ai oán giận, trong nhà
cũng không ai oán giận.
Theo Khổng Tử, nhà vua, người cầm quyền thực hành được năm đức ở
trong thiên hạ thì họ mới là người có Nhân, đó là: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ
như ông nói: “Năng hành ngũ giả ư thiên hạ, vi nhân hĩ”, “Viết: Cung, khoan,
tín, mẫn, huệ. Cung tắc bất vũ, khoan tắc đắc chúng, tín đắc nhân nhậm yên, mẫn
tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân” - Cung kính người thì không khinh nhờn,
Khoan dung thì được lòng mọi người, Thành tín thì được người tín nhiệm, cần
mẫn thì nên công, có ơn huệ thì dễ sai khiến người” [32,tr.619].
Như vậy, theo Khổng Tử, “Nhân” là yêu người như yêu mình. Đây là
nguyên tắc chung, là yêu cầu, là cái chi phối trong suy nghĩ và hành động của
mỗi người, là cái gì mình không muốn thì đừng làm với người, mình lập nghiệp

Cống hỏi: “Trong ba điều ấy bất đắc dĩ phải bỏ một điều thì điều nào trước?”.
Ông đáp: “Nếu bỏ thì bỏ binh lực”. Tử Cống lại hỏi: “Trong hai điều còn lại nếu
bất đắc dĩ phải bỏ một điều nữa thì bỏ điều nữa thì bỏ điều nào trước?”. Khổng
Tử đáp: “Bỏ lương thực xưa nay ai cũng phải chết, như dân không tin cậy thì
không thể đứng vững” [32,tr.497] (Tử Cống vấn chính) viết: “Tất bất đắc dĩ như
khứ ư tư tam giả, hà tiên?” Viết “khử binh”. Tử Cống nói: “Tất bất đắc dĩ nhi
khử, ư kỳ nhị giả, hà tiên?” Viết: “Khử thực, Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất
lập” [32,tr.478]. Trong chính trị, cả ba điều trên, điều nào cũng quan trọng. Và
mặc dù trong thời đại đó, cả ba điều trên khó đảm bảo được điều nào, nhưng vẫn
có thể thấy được rằng, trong tư tưởng của Khổng Tử, lòng tin của dân có vai trò
quan trọng như thế nào đối với sự thành bại, hưng vong của triều đại, của nền
21

chính trị. Rõ ràng ở đây, ông đã xem dân có vai trò to lớn đối với sự phát triển
của xã hội và sự tồn tại của chế độ chính trị.
Tuy có chỗ ông thể hiện tư tưởng coi thường dân “Dân học đạo thì dễ
sai khiến”, “không nên giảng giải những điều cao siêu cho dân”,v.v.nhưng
chính tư tưởng “dân tín” của ông có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát
triển nền chính trị và nói rộng ra là đối với sự phát triển xã hội trong bối
cảnh xã hội Trung Quốc đương thời - thời kỳ chiến tranh liên miên, tình
trạng rối loạn kéo dài, khi mà đời sống của người dân hết sức đói khổ, cơ
cực là điều đáng phải ghi nhận.
Trong tư tưởng của Khổng Tử, cái bản thể nhân ấy là cái sáng suốt, cái
sức mạnh giúp cho ta làm việc đúng với đạo trời, đạo người. Nhờ có “nhân” mà
có lòng yêu thương người, yêu thương vạn vật, mong muốn cho người và vật
được an lạc, sống bình đẳng, thân ái với nhau, hoà đồng với nhau. Nhờ có
“nhân” mà tình cảm của con người đều xuất phát một cách tự nhiên, không miễn
cưỡng. Chính lẽ đó, người có bản thể “nhân” thì bao giờ cũng ung dung, sáng
suốt và làm gì cũng hợp lẽ, chí công, chí thiện. Chính Nhân rộng lớn và có vai
trò to lớn như vậy, nên ngay như Nhan Hồi là bậc kỳ tài, kỳ hiền mà “Hồi giả, kỳ

thương yêu con cái mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời, người trai
tráng được sử dụng, trẻ thơ được lớn lên, người không vợ, người không chồng,
trẻ mồ côi, người không con, người tàn tật, tất cả đều được chăm sóc [64, tr.71].
Theo khổng Tử, một xã hội ổn định là một xã hội có trật tự, kỷ cương, mọi cái
đều là của chung, mọi người có quyền lợi như nhau, được chăm sóc, sống bình
đẳng, thân ái. Và để tạo lập một xã hội như vậy, thì trước hết phải xây dựng và
duy trì trật tự, kỷ cương từ trong gia đình (vì gia đình là tế bào của xã hội), sao
cho “cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra chồng”.
Xã hội lý tưởng, theo Khổng Tử không chỉ chủ yếu là một xã hội có đạo
đức mà xã hội ấy phải là một xã hội có đời sống vật chất tương đối đầy đủ, người
dân phải giàu có. Như trong sách Luận ngữ, đề cập đến vấn đề này, Khổng Tử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status