ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ SÁU
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƢ TƢỞNG
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA TỰ ĐỨC
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 62 22 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nguyên Việt
Hà Nội - 2011
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thân thế và sự nghiệp của Tự Đức gắn liền với những biến động lớn
của đất nƣớc ta nửa cuối thế kỷ XIX - thời kỳ dân tộc ta phải đƣơng đầu quyết
liệt để chống lại âm mƣu và hành động xâm lƣợc của thực dân Pháp. Là nhà
vua, ngƣời nắm quyền tối cao quyết định vận mệnh dân tộc, để đất nƣớc ta
dần biến thành thuộc địa của Pháp, ông đã bị kết tội “bán rẻ đất nƣớc”[40, tr.
18] cho thực dân. Tuy nhiên, trƣớc đòi hỏi về tính khách quan, khoa học của
ngành sử học, việc đánh giá Tự Đức vốn là “một trong những ngƣời uyên bác
bậc nhất thời đó”[68, tr. 206] có đúng là ngƣời muốn bán rẻ nƣớc ta nhƣ lịch
sử đã quy trách nhiệm cho ông hay không?
Để tìm lời giải cho câu hỏi đó, chúng ta cần tìm hiểu và trình bày tƣ
tƣởng chính trị - xã hội của Tự Đức để làm rõ những gì ảnh hƣởng và chi phối
đến “hành động” của ông trƣớc các vấn đề phức tạp của đất nƣớc thời bấy
nói trên. Chính vì vậy, công và tội của ông đến nay vẫn còn là vấn đề đang
đƣợc bàn luận rộng rãi. Chúng tôi tạm phân định một số lĩnh vực nghiên cứu
về thân thế, sự nghiệp và tƣ tƣởng của Tự Đức nhƣ sau:
Thứ nhất, ở góc độ sử học, có một số công trình đánh giá về Tự Đức
với nhiều quan điểm khác nhau. Cuốn sách Những vấn đề văn hóa - xã hội
thời Nguyễn (Nxb Khoa học xã hội, 1992) do Mạc Đƣờng, Lê Trung chủ biên.
Cuốn sách này là tập hợp các báo cáo khoa học và những phát biểu thuyết
trình tại cuộc hội thảo “Một số vấn đề về triều Nguyễn” đƣợc tổ chức vào
tháng 10 năm 1989. Đây là cuộc hội thảo đầu tiên về triều Nguyễn đƣợc tổ
chức với mục đích nhận thức lại vấn đề đánh giá triều Nguyễn. Cuốn sách là
kết quả sơ bộ và đầu tiên nhằm mở đầu cho quá trình nghiên cứu tiếp theo về
triều Nguyễn với những cách nhìn, nhận định khác nhau của nhiều nhà nghiên
cứu về vấn đề triều Nguyễn.
Cuốn sách Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn (Nxb
3
Giáo dục, Hà Nội, 1997) do Nguyễn Phong Nam chủ biên. Cuốn sách này là
tập hợp các bài báo cáo tại hội thảo khoa học “Tƣ tƣởng Việt Nam dƣới thời
Nguyễn” do Đại học Sƣ phạm Huế tổ chức vào 27 và 28 tháng 4 năm 1994.
Nội dung cuốn sách không đƣa ra những kết luận, đánh giá, nhận định có tính
chất tổng kết về triều Nguyễn, mà chỉ cung cấp những cách nhìn, những kiến
giải khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau của các nhà nghiên cứu về một số
vấn đề cụ thể của nhà Nguyễn và Tự Đức, nhƣ vấn đề canh tân, vấn đề chiến
hay hoà, những vấn đề văn chƣơng triều Nguyễn, v.v.
Trong cuốn sách Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ
năm 1802 đến năm 1884 (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) của Lê Thị
Thanh Hòa, tác giả đã khái quát về việc đào tạo và sử dụng quan lại của nƣớc
ta trƣớc thời Nguyễn. Đặc biệt, tác giả tập trung phân tích việc đào tạo quan
các tác giả Trần Quỳnh Cƣ, Trần Việt Quỳnh đã lên án Tự Đức rất nhiều, nhƣ
khƣớc từ mọi đề nghị cải cách của Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn
Trƣờng Tộ, v.v.; duy trì lối học và thi cổ; thực thi chính sách bế quan tỏa
cảng; ít quan tâm đến việc sửa sang chính trị, quân sự, phát triển kinh tế.
Cuốn sách Khiêm lăng và vua Tự Đức (Nxb Thuận Hóa, Huế, 2004)
của tác giả Mai Khắc Ứng đã giới thiệu sơ lƣợc về xã hội Việt Nam dƣới thời
Tự Đức. Ngoài ra, trong sách còn giới thiệu một số nét về đặc điểm văn hóa
cũng nhƣ đặc điểm mỹ thuật của Khiêm lăng, về các nhà nho, nhà sử học, nhà
thơ dƣới triều Nguyễn.
Trong cuốn sách Bang giao Đại Việt triều Nguyễn (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005) của Nguyễn Thế Long, tác giả viết về quan hệ giữa
triều Nguyễn và triều Thanh, giữa triều Nguyễn với Pháp. Tác giả khẳng định
trách nhiệm của nhà Nguyễn để mất nƣớc.
Cuốn sách Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương tây dưới
triều Nguyễn (1802-1858) (Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2006)
của Trần Nam Tiến. Tác giả đã khái quát về quan hệ ngoại giao giữa Việt
5
Nam với các nƣớc phƣơng Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, trình bày về
mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nƣớc phƣơng Tây qua các thời
kỳ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức (1847-1858). Từ đó, tác giả
rút ra những đóng góp và hạn chế của triều Nguyễn trong chính sách ngoại
giao với các nƣớc phƣơng Tây.
Cuốn sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn (Nxb Văn hóa Sài Gòn,
2007), là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả về các sự kiện lịch sử, các mối
quan hệ ngoại giao, chính sách ruộng đất và quốc phòng cùng các mối quan hệ
trong triều đình thời Nguyễn đã đƣợc đăng tải trên Tạp chí Xƣa và Nay.
Cuốn sách Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (Nxb
Văn học, 2008) của Nguyễn Thế Anh. Tác giả đã giới thiệu dân cƣ Việt Nam,
tƣ tƣởng Nho giáo của Tự Đức. Nhƣng vì đối tƣợng nghiên cứu của tác phẩm
này là quan hệ giữa Đại Nam với Pháp và Trung Hoa nên vấn đề tƣ tƣởng
Nho giáo của Tự Đức chỉ đƣợc tác giả bàn tới rất sơ lƣợc. Ngoài những nhận
xét, đánh giá ra, điều đáng quý ở đây là việc đƣa vào cuốn sách một số tƣ liệu
đƣợc lƣu trữ ở nƣớc ngoài mà sử triều Nguyễn không có.
Thứ hai, từ góc độ tôn giáo, liên quan đến đề tài có một số công trình nhƣ:
Trong bài viết: “Quan niệm của Tự Đức về Công giáo qua tác phẩm
Đạo biện” của Đỗ Lan Hiền (Tạp chí Triết học, số 6/2001), đã phân tích thái
độ phê phán của Tự Đức đối với đạo Lão, đạo Phật và đặc biệt là đạo Gia tô.
Mặc dù Tự Đức chỉ dựa vào khái niệm “đạo” trên lập trƣờng của Nho giáo,
song có thể nói, đây là tác phẩm thể hiện quan điểm phê phán của ông đối với
giáo lý Công giáo trên bình diện triết học - tôn giáo.
Trong bài viết: “Trở lại chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn qua bộ
Đại Nam thực lục” của Lê Thị Thắm (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số
2/2002), đã hệ thống lại những chỉ dụ của triều Nguyễn đối với Công giáo, từ
đó rút ra những nhận định về thực chất của vấn đề cấm đạo dƣới triều Nguyễn
và thời Tự Đức.
7
Cuốn sách Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883)
(Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007) của Nguyễn Quang Hƣng đã trình bày bối cảnh
lịch sử, quá trình truyền đạo vào Việt Nam, thái độ ứng xử của các vua triều
Nguyễn với Công giáo, trong đó chú trọng tới “vấn đề nghi lễ” trong xung đột
giữa Công giáo và triều đình. Đặc biệt, tác giả tập trung làm sáng tỏ vấn đề
Công giáo thời Tự Đức.
Luận án: “Chính sách tôn giáo thời Tự Đức” của Nguyễn Ngọc Quỳnh
(2009), dƣới lăng kính triết học tác giả đã phân tích làm rõ chính sách tôn giáo
của triều Tự Đức với nhiều biến cố đặc biệt phức tạp, từ đó đóng góp vào cái
tiêu cực của hệ tƣ tƣởng triều Nguyễn trƣớc sự biến động phức tạp của tình
hình trong nƣớc và khu vực.
Cuốn sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập II (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1997) của Lê Sỹ Thắng đã tập trung phân tích những vấn đề thực tiễn
đặt ra cho lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX, đó là vấn đề
bảo vệ tổ quốc và canh tân đất nƣớc. Mặc dù cuốn sách đã phân tích và đánh
giá khách quan về những đóng góp, hạn chế của Tự Đức trong lịch sử tƣ
tƣởng nƣớc ta thời kỳ đó, song việc hệ thống hóa tƣ tƣởng Tự Đức chƣa đƣợc
làm rõ.
Nguyễn Tài Thƣ trong sách Nho học và Nho học ở Việt Nam một số vấn
đề lý luận và thực tiễn (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) của mình đã dành
ra một chuyên mục nghiên cứu “Nho học triều Nguyễn - nội dung, tính chất và
vai trò lịch sử”. Trong bài viết này, tác giả vạch rõ nội dung, tính chất, vai trò
của Nho giáo triều Nguyễn trƣớc và trong thời gian đế quốc Pháp xâm lƣợc
nƣớc ta. Từ đó, tác giả đƣa ra nhận định cho rằng, sự thất bại của Nho giáo
triều Nguyễn là một tất yếu lịch sử vì nó đi ngƣợc lại quyền lợi của nhân dân.
“Nho giáo dƣới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX)” của Nguyễn
Thanh Bình, in trong sách Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh
hưởng của nó ở Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) (Nxb Chính
9
trị Quốc gia, Hà Nội, 2007). Tác giả chỉ rõ những tƣ tƣởng bảo thủ, giáo điều
của Nho giáo đã kìm hãm sự phát triển của đất nƣớc ta lúc đó là tƣ tƣởng
“xƣa hơn nay”, “trọng đạo khinh thƣờng lợi”, “nội hạ ngoại di”, “nông vi bản,
thƣơng vi mạt”.
Mấy năm gần đây, nhiều tác phẩm, nhiều luận văn khoa học nghiên cứu
về Nho giáo triều Nguyễn cũng đã ít nhiều đề cập tới tƣ tƣởng Nho giáo của
Tự Đức nhƣ: Nho giáo xưa và nay (Vũ Khiêu - chủ biên, Nxb Khoa học xã
- Phân tích những điều kiện và tiền đề hình thành tƣ tƣởng chính trị xã hội của Tự Đức.
- Phân tích và hệ thống hóa một số nội dung chủ yếu trong tƣ tƣởng
chính trị - xã hội của Tự Đức qua thơ văn, chiếu biểu và hành động của ông.
- Làm rõ những giá trị cũng nhƣ hạn chế trong tƣ tƣởng chính trị - xã
hội của Tự Đức.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận là: Các quan điểm duy vật về lịch sử của triết học Mác Lênin; Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
lịch sử tƣ tƣởng dân tộc; Nguyên tắc phƣơng pháp luận nghiên cứu lịch sử
triết học.
Cơ sở tài liệu: Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở tƣ liệu chủ yếu từ
các cuốn sách: Tự Đức ngự chế thi tập, Tự Đức ngự chế văn tập, Ngự chế Việt
sử tổng vịnh tập, Thơ văn Tự Đức, Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tứ kỷ),
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam liệt truyện, Châu bản triều Tự
Đức, và một số tài liệu khác nghiên cứu về Tự Đức đã đƣợc công bố.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên các phƣơng pháp cụ thể sau: Phƣơng pháp logic lịch sử, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi xác định
đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là một số nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng
11
chính trị - xã hội của Tự Đức.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số quan điểm cơ bản thuộc tƣ tƣởng
chính trị - xã hội của Tự Đức đƣợc trình bày trong thơ văn, chiếu biểu và
hành động của ông.
Tân Hòa, Gia Định, bà là ngƣời có ảnh hƣởng nhiều đến Tự Đức sau này.
Sách Đại Nam liệt truyện nhận xét về bà nhƣ sau: “Tính hậu lại thông minh
nhớ lâu, hết thảy việc cũ và nghe tuyên đọc các sách, giấy tờ gì, là hiểu ngay,
không đợi mở xem, lại vua có hỏi đến, thƣa rõ từng điều, không sót <...>
Lòng từ ái không thể thuật hết <…> tính hạnh đoan cẩn”[41, tr. 29-30]. Bà
mất năm Thành Thái thứ 13 (1901).
Ngay từ khi sinh ra, Tự Đức đã đƣợc sống trong thời kỳ mà Nho giáo
giữ vị trí thống trị, cho nên việc học hành của ông rất đƣợc chú trọng. Năm
Thiệu Trị thứ 1 (1841) Tự Đức đƣợc cho ra giảng đƣờng để học tập. Bản thân
Tự Đức cũng là một ngƣời thông minh, ham học: “Khi còn ở tiềm để không
ham thích gì khác, chỉ kê cứu các kinh sách, ngày nối tới đêm, những sách
của bách gia chƣ tử [các nhà trƣớc tác] không sách nào không đọc qua”[43, tr.
31]. Sách Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tam kỷ) đã ghi lại nhận xét, đánh
giá về khả năng và quá trình hoàn thiện nhân cách của Tự Đức nhƣ sau:
“Hoàng tử thứ hai thông minh sớm, ngay từ thuở mới đặt tên cho. Một hôm,
gọi vào chầu, vua hỏi rằng: “Con có biết ý ta đặt tên cho con là nghĩa gì
không?” Hoàng tử thƣa rằng: “[nghĩa là] gánh chịu những việc nặng”. Vua
lấy làm lạ lắm! Sau đó, khi ra cung các đọc sách, hoàng tử không ham muốn
13
gì, chỉ thích ngâm vịnh. Vua thƣờng gọi vào nội điện, khi rỗi việc một lát,
hoặc khi đƣơng tấu nhạc, hoặc đƣơng lúc hầu cơm, sai làm thơ để xem có
nhanh không. Rồi sai cung tần mang văn phòng tứ bảo của ngự dụng, cho
phép đƣợc lấy mà dùng. Hoàng tử thứ hai khiêm tốn không dám vƣợt lễ, chỉ
biết vâng mệnh nghĩ ngay ra thơ, hạ bút làm xong ngay. Vua khen là thông
minh, có khi thƣởng cho cái nhẫn lớn bằng ngọc kim cƣơng, có khi ban cho
cái bát cơm bằng thứ ngọc quý mà nhà vua đƣơng ăn, dụ rằng: “Ăn thứ thừa
này để chịu lấy phúc thừa”. Cặn kẽ dạy bảo, yêu quý đặc biệt khác cả”[42, tr.
nƣớc.
Về tính cách, ông tự răn mình có đức khiêm. Ông đã xây cho mình một
cái lăng và đặt tên là Khiêm lăng. Theo ông, khiêm là kính, là nhƣờng. Nhƣng
ở ông, chúng tôi cảm nhận đƣợc sự khiêm nhƣờng đến thái quá khi ông tự
đánh giá mình:
“Trẫm nay: Đức nhƣ muỗi nhỏ,
Trí kém sâu đo”[63, tr. 336].
Tính khiêm tới mức thái quá của ông nhƣ vậy đã chuyển thành tính
thiếu quyết đoán, không quả quyết trong mọi việc, phải dựa vào triều thần bàn
việc, mà triều thần lại có nhiều ngƣời bảo thủ. Điều này ảnh hƣởng rất nhiều
không chỉ đến cuộc đời của ông mà còn đến cả vận mệnh đất nƣớc.
Tự Đức ở ngôi 36 năm. Ông mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức
ngày 19 tháng 7 năm 1883. Sau đó không lâu, đất nƣớc ta đã trở thành thuộc
địa của thực dân Pháp.
Tự Đức có may mắn là đƣợc xuất thân trong một gia đình vƣơng quyền,
lại đƣợc kế vị ngai vàng của vua cha. Nhƣng vì đƣợc sinh ra và lớn lên trong
bối cảnh Nho giáo giữ địa vị thống trị xã hội nên ngay từ nhỏ, Tự Đức đã đƣợc
giáo dục, định hƣớng theo quỹ đạo Nho học. Chính vì vậy mà Tự Đức tiếp tục
truyền thống của ông cha trong việc lựa chọn, sử dụng Nho giáo làm tƣ tƣởng
chính trị - xã hội cho mình và làm hệ tƣ tƣởng chính thống cho triều đại mình.
15
1.1.2. Con người của Tự Đức
Tự Đức đƣợc đánh giá là “một trong những ngƣời uyên bác bậc nhất
thời đó”[68, tr. 206] bởi tƣ tƣởng của ông không chỉ là những lý luận điều
hành chính sự, mà còn về cả vấn đề học thuật.
Không chỉ là nhà vua, Tự Đức còn là một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học
lớn của thế kỷ XIX. Suốt đời ông, ngoài cƣơng vị là một hoàng đế cần mẫn với
mình, những quan tâm pha lẫn cả sự lo lắng tìm kiếm nhân tài giúp nƣớc,
về những chuẩn mực đạo đức làm ngƣời, v.v. Đặc biệt, chúng ta nhận thấy
một tâm trạng đầy mâu thuẫn giữa việc ông luôn tâm niệm sẽ trở thành một
vị vua giỏi, mẫu mực, với hiện thực quản lý đất nƣớc của ông làm nƣớc ta
ngày càng đi vào thế bí, đất đai của tổ tông chƣa có cách nào lấy lại đƣợc.
Đó là điều làm Tự Đức âm thầm đau khổ đến cuối đời. Trong Khiêm cung
ký, ông viết: “Điều ta đáng ngậm ngùi là học chƣa thành, chí chƣa đạt, hƣ
danh không chống nổi thực tội, thể chất yếu không đủ cáng đáng đƣợc
nhiều, khiến nay cõi bờ chìm đắm chƣa khôi phục đƣợc, mối họa biên
cƣơng chƣa dẹp yên”[75, tr. 180].
Có lẽ vì vậy mà, dù là một hoàng đế, nhƣng Tự Đức luôn tự nhận là
đã thất bại về mặt công danh: “Trẫm muốn chính mình làm đƣợc thái
bình, để đƣợc nhà no ngƣời đủ, nhƣng giận vì tài sơ đức bạc, không thể
hy vọng đƣợc đều nhƣ thế”[63, tr. 171] . Ông muốn quay về với mặt nhân
đức, chăm lo việc khoa cử. Ông nhiều lần sửa đổi quy chế thi để làm cho
Nho sĩ có “thực học” hơn, để chọn đƣợc ngƣời có “thực tài” giúp ích cho
nƣớc nhà.
Tự Đức là nhà vua, nhƣng đồng thời lại là một học giả kiệt xuất thời
đó. Với tƣ cách là nhà vua thì trách nhiệm lớn nhất của ông là đã thi hành
nhiều chính sách lỗi thời, khiến cho thế nƣớc ngày một suy yếu. Nhƣng qua
những chiếu dụ, những dòng tâm sự bằng thơ văn của ông, chúng ta thấy sự
bộc bạch những phiền muộn, trăn trở đầy tính trách nhiệm của ông.
17
1.2. Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội
1.2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XIX
Dƣới triều Nguyễn, Việt Nam là một quốc gia thống nhất về mặt lãnh
thổ, có thể nói đây là thuận lợi lớn để phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên, chính
biến một cách rộng rãi đƣợc.
Đặc biệt, từ đời Tự Đức trở đi, thƣơng nghiệp ngày càng sút kém hẳn
do chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng, cấm buôn bán với nƣớc ngoài,
chính sách đối nội thì ức thƣơng, cấm buôn bán từ tỉnh này sang tỉnh khác, đặt
ra nhiều luật lệ phức tạp, thuế khóa nặng nề. Hơn nữa, do nghèo đói cùng cực
nên sức mua của nhân dân hầu nhƣ bị tê liệt. Mặc dù từ tháng 3 năm 1876, Tự
Đức cho bỏ lệ cấm xuống biển đi buôn, mở cửa thông thƣơng với nƣớc ngoài,
cho phép buôn bán giữa các tỉnh trong nƣớc, song triều đình Tự Đức cũng
không thể xoay chuyển đƣợc tình thế. Trong khi đó, đất nƣớc ta lại đang phải
chiến đấu chống lại hành động xâm lƣợc của thực dân Pháp, khó khăn lại nối
tiếp khó khăn.
Tình hình chính trị - xã hội:
Ngay từ khi thiết lập vƣơng triều, nhà Nguyễn đã cố gắng xây dựng
một nhà nƣớc phong kiến trung ƣơng tập quyền mạnh, lấy Nho giáo làm bệ
đỡ hệ tƣ tƣởng chính thống. Đứng đầu nhà nƣớc là vua nắm hết cả quyền
bính, dƣới có sáu bộ (lại, hộ, lễ, binh, hình, công).
Về tình hình chính trị - xã hội, thời Tự Đức có điểm đáng chú ý là các
tệ nạn của quan lại và sự lộng hành ghê gớm của bọn cƣờng hào đang trở nên
phổ biến. Chính Tự Đức khi mới lên ngôi đã chỉ rõ điều này: “Nay mối tệ của
quan lại rất nhiều, nhân dân cùng khổ trộm cƣớp nổi dậy, chƣa chắc là không
bởi tại đó. Dân thì sợ phiền mà không tố cáo, quan thì vì nể nhau mà không
nói ra”[46, tr. 42].
Tình trạng đó đã làm cho những xung đột xã hội ngày càng căng thẳng,
dẫn tới các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra liên tiếp, mạnh mẽ và rộng khắp.
19
Đây là biểu hiện sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, đồng thời
làm cho sự đoàn kết gắn bó giữa nhà nƣớc và nhân dân cũng không còn đƣợc
hiện trào lƣu tƣ tƣởng mới với chủ trƣơng canh tân đất nƣớc của các nhà nho
tiến bộ nhƣ Nguyễn Trƣờng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú
Thứ, Bùi Viện, v.v. Vì vậy, đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa duy tân và
thủ cựu trong triều đình Tự Đức cũng nhƣ trong chính tƣ tƣởng của ông.
Đáng chú ý trong lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng lúc này là chiêu bài đạo
Gia tô đƣợc thực dân Pháp sử dụng để dọn đƣờng cho âm mƣu xâm lƣợc
nƣớc ta của chúng. Cho nên, từ trong nội bộ triều đình Tự Đức đến toàn xã
hội lúc bấy giờ đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chính giáo (Nho
giáo) và tà giáo (Công giáo).
Về mặt văn hóa, thời Tự Đức đã phục hƣng, phát triển nền văn hóa đa
dạng, giàu bản sắc nhƣng mang tính thống nhất của quốc gia Đại Việt, tạo nên
diện mạo mới cho văn hóa dân tộc, đồng thời đã để lại cho lịch sử nƣớc ta
một di sản văn hóa khổng lồ và có giá trị về nhiều mặt. Các hoạt động sinh
hoạt văn hóa văn nghệ của nhân dân ta vẫn phong phú.
Giáo dục có bƣớc phát triển, nhà nƣớc đặc biệt chú trọng tuyển chọn
nhân tài. Tự Đức nhiều lần định lại chế độ thi cử và ra sắc dụ cầu hiền. Chính
bản thân ông đã tham gia trực tiếp vào việc khoa cử, tuyển chọn nhân tài, làm
cho lĩnh vực này có quy củ và phát triển hơn so với các thời đại trƣớc. Tuy
ông đã có rất nhiều cố gắng muốn cải cách giáo dục nhƣng về mặt học vấn
vẫn là theo lối từ chƣơng cử nghiệp của Nho giáo. Khoa học có bƣớc phát
triển, nhất là về lịch sử với các bộ sử lớn nhƣ: Đại Nam thực lục, Việt sử
thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí; về địa lý học có: Đại
Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, v.v.
Tóm lại, thế kỷ XIX là thế kỷ đầy thách thức đối với lịch sử dân tộc ta.
Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa của nông
21
dân lan rộng, phỉ Mãn Thanh ở phía Bắc thƣờng xuyên quấy nhiễu, thực dân
Trung Quốc đƣơng thời là một nƣớc rộng lớn và hùng mạnh, cũng phải
đối mặt với sự xâm lƣợc của thực dân Anh, Pháp, Hà Lan, v.v., đồng thời
cũng gặp nhiều lúng túng trong các biện pháp về ngoại giao cũng nhƣ quân
sự. Triều đình nhà Thanh đã lựa chọn thái độ dè chừng, khép kín với các nƣớc
phƣơng Tây, tuy nhiên cũng đã bắt đầu học tập văn minh phƣơng Tây.
Kết quả là Nhật Bản và Thái Lan đã tiến vào quỹ đạo của chủ nghĩa tƣ
bản, từng bƣớc xóa bỏ đƣợc những hiệp ƣớc bất bình đẳng mà trƣớc đó đã ký
với phƣơng Tây, thoát khỏi thân phận thuộc địa. Trung Quốc trở thành miếng
bánh ngon cho các nƣớc thực dân xâu xé.
Tháng 12 năm 1881, Quan Khoa đạo là Lê Đĩnh từ Hƣơng Cảng về, từ
hiểu biết những diễn biến của thời cuộc, đã tâu rõ điều này với Tự Đức: “các
nƣớc Thái Tây giàu mạnh, không ngoài việc buôn và việc quân mà thôi, lấy
sức lực tàu binh để bảo vệ tàu buôn, tất phải trƣớc hết lấy thuế tàu buôn để
nuôi tàu binh, cho nên chỉnh đốn việc thông thƣơng rất nhanh. Gần đây nƣớc
Nhật Bản theo gót Thái Tây, thông thƣơng khắp nơi, nƣớc Thanh cũng bắt
chƣớc mà làm <…> dần đƣợc cƣờng thịnh”[51, tr. 86]. Nhƣ vậy, Nhật Bản đã
bắt chƣớc ngƣời Tây dƣơng mở cửa thông thƣơng để đất nƣớc đƣợc cƣờng
thịnh, thoát khỏi sự nhòm ngó của ngƣời phƣơng Tây, Trung Quốc cũng đã từ
bỏ quan niệm nội hạ ngoại di để học tập văn minh phƣơng Tây. Tiếc rằng khi
Tự Đức biết đƣợc điều này thì đã quá muộn.
Cũng nhƣ nhiều nƣớc phƣơng Đông lạc hậu khác, sự uy hiếp của tƣ bản
phƣơng Tây đặt Việt Nam trƣớc nguy cơ bị xâm lƣợc. Mặt khác, chính sách
cấm đạo, sát hại các nhà truyền giáo và tín đồ Công giáo từ thời Minh Mệnh
vô tình trở thành tiền đề cho mƣu đồ xâm lƣợc của thực dân Pháp đối với
nƣớc ta. Bối cảnh lịch sử đó không cho phép một sự chậm trễ, lạc hậu hay sai
lầm nào trong đối nội cũng nhƣ đối ngoại. Nó đặt triều đình Tự Đức đứng
trƣớc những thách thức vô cùng nghiệt ngã, buộc nhà vua phải đứng trƣớc sự
23
một luồng gió mới thổi vào dân tộc, đó là luồng gió canh tân với các đại biểu
nhƣ: Nguyễn Trƣờng Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Đặng Huy Trứ,
Đinh Văn Điền, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Hiệp, v.v. Đặc biệt phải
kể đến tƣ tƣởng canh tân của Nguyễn Trƣờng Tộ qua các bản điều trần của
ông. Là một giáo dân yêu nƣớc, lại có may mắn đƣợc đến các nƣớc phƣơng
Tây mở rộng tầm mắt, Nguyễn Trƣờng Tộ đã tha thiết gửi lên triều Tự Đức
những đề nghị canh tân với tất cả tâm huyết và lửa nhiệt tình của một ngƣời
con yêu nƣớc. Trong suốt 8 năm rƣỡi (từ năm 1863 đến 1871), ông đã gửi cho
Tự Đức 58 bản điều trần, đề cập một cách có hệ thống hàng loạt vấn đề cấp
thiết của đất nƣớc trƣớc nguy cơ còn mất của dân tộc.
Khi đọc những bản điều trần của các nhà nho có tƣ tƣởng tiến bộ, thái
độ của Tự Đức không phải lúc nào cũng thờ ơ với những điều tâm huyết đƣợc
trình bày trong những bản điều trần của họ. Ông đã trân trọng và giao cho các
đại thần thân tín nghiên cứu, sau đó phải tâu rõ cho ông biết khoản nào nên
làm ngay, khoản nào nên đình lại trên cơ sở tình hình thực tiễn đất nƣớc. Tự
Đức cũng đã nhận thức “nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến là thoái
vậy!”[11, tr. 325]. Trong thực tế, nhà vua đã cho thi hành một số cải cách
trong các lĩnh vực kinh tế nhƣ “đặt nha sơn phòng, nha hải phòng, đặt nha
doanh điền, đặt sở đồn điền, lại đặt ty Bình Chuẩn, mở thƣơng chính, sốt sắng
muốn cho nƣớc đƣợc giàu mạnh”[51, tr. 204]; trong lĩnh vực quân sự thì mua
sắm vũ khí, đóng tàu, đúc súng, dịch tài liệu quân sự nƣớc ngoài để huấn
luyện quân đội; trong văn hóa, giáo dục thì phê chuẩn việc học tiếng nƣớc
ngoài; trong quan hệ đối ngoại đã giao lƣu với một số nƣớc, v.v. Ngay các
nhà canh tân dâng điều trần cho triều đình cũng đều do triều đình cử đi tiếp
xúc với nƣớc ngoài nhƣ Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trƣờng Tộ,
Bùi Viện, v.v.
Rõ ràng là Tự Đức có quan tâm đến các đề nghị cải cách, ông còn chủ