LUẬN VĂN: Tìm hiểu một số phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tìm hiểu một số phương pháp cơ
bản trong việc nghiên cứu ngôn
ngữ Hồ Chí Minh


cứu riờng về vấn đề này, nhất là về phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chớ Minh.
Vỡ thế, đây là vấn đề đũi hỏi cần phải tiếp tục được nghiên cứu trong những năm đổi
mới của nước nhà. Đồng thời, nhằm làm rừ những khỏi niệm phương pháp cùng những
nội dung chủ yếu của phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh trên các lĩnh
vực hoạt động của mỡnh để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc…
trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, tôi lựa chọn nội dung: “Tỡm hiểu một số
phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh” làm tiểu luận để
kết thúc phần học – Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn Hồ Chí Minh học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này chủ yếu nhằm:
Tỡm hiểu để đi tới xác định những phương pháp và cách thức tiếp cận ngôn
ngữ Hồ Chí Minh.
Giúp cho những cán bộ nghiên cứu muốn đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí
Minh, đánh giá, bỡnh luận về giỏ trị, hiệu quả của ngụn ngữ lónh tụ cũng như muốn
tỡm hiểu về con người Hồ Chí Minh qua ngôn ngữ của Người.
Thấy rừ sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo phương pháp ngôn ngữ Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của nước nhà.
Nõng cao ý thức, trỏch nhiệm trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm
sai trái, thù địch của các thế lực trong và ngoài nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phục lục, nội
dung chính gồm 3 mục lớn:
I. Những vấn đề chung về phương pháp và phương pháp luận
II. Những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ
Chí Minh
III. Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh


người tỡm kiếm, lựa chọn sử dụng phương pháp đúng đắn, phù hợp. Sự phù hợp của hai
mặt chủ quan và khách quan là điều kiện quyết định để có được phương pháp đúng đắn,
khoa học và phương pháp sẽ là sai lầm nếu nó chỉ là kết quả của sự tỡm kiếm chủ quan.
N.K. Crupxcaia đó hoàn toàn cú lý khi nờu ra luận điểm: Phương pháp, nếu được đặt ra
một cách đúng đắn phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, dựa trên cơ sở nghiên
cứu lịch sử phát triển của lĩnh vực kiến thức ấy
(1)
.

1
N.K.Crupxcaia: Bàn về công tác huấn luyện, Mátxcơva, 1946, tr156
Nhà bác học nổi tiếng T. Páplốp đó đưa ra định nghĩa: phương pháp khoa học –
đó là quy luật bên trong của sự vận động của tư duy con người xem như quy luật khách
quan đó được “cấy lại” và “chuyển hóa” vào trong ý thức con người và được sử dụng
một cách tự giác, có kế hoạch như công cụ để giải thích và biến đổi thế giới. “Phương
pháp khoa học là những quy luật bản chất nội tại của vận động nhận thức khoa học
được chúng ta sử dụng một cách có ý thức để đạt đến những thành tựu chân lý đúng
đắn hơn, nhanh chóng hơn, đầy đủ hơn”
(2)
.Từ những hoạt động hết sức đa dạng của con người, từ những chỉ dẫn của các
nhà kinh điển mácxít, từ những kiến thức về phương pháp mà nhiều người đó đưa ra, có
thể rút ra một số kết luận sau đây:
Hoạt động của con người trong bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt động có mục
đích nhất định. Phương pháp chính là cách thức giúp cho con người định hướng và điểu

những nguyên tắc lý thuyết giữ vai trũ điểu chỉnh, giúp cho quá trỡnh tấc động của công
cụ vào đối tượng đạt kết quả tối ưu (phương pháp luận)…
Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh về cơ bản là thuộc phạm trù
phương pháp luận của các khoa học xó hội. Cỏc khoa học xó hội cú cơ sở phương pháp
luận chung cho nhận thức và hoạt động của nó là triết học Mác – Lênin (chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử). Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí
Minh tất nhiên có vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận của các khoa học xó
hội như các nguyên tắc tính khách quan khoa học, tính toàn diện, tính hệ thống, nguyên
tắc chủ nghĩa lịch sử… song không đồng nhất với nó.
Mặt khác, phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí minh, trong hệ thống cấu tạo
các cấp độ của nó, cũng bao gồm sự vận dụng phương pháp luận của các khoa học cụ
thể, chuyên biệt vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực khác nhau trong di sản của Hồ Chí
Minh, nhưng không phải là sự cộng lại giản đơn của các phương pháp đó…
Như vậy, nghiên cứu về Hồ Chí Minh phải biết vận dụng thấu đáo và nhuần
nhuyễn những nguyên tắc, phương pháp luận chung của khoa học xó hội. Song, sự
nghiệp nghiờn cứu khoa học về Hồ Chớ Minh chỉ cú thể hoàn thành được nhiệm vụ của
mỡnh, nếu nú biết xuất phỏt từ chớnh bản thõn đối tượng và xây dựng được những
nguyên tắc, phương pháp luận cụ thể trên cơ sở lý thuyết về đối tượng đó.
Tiểu sử - sự nghiệp – tư tưởng – lý luận… của Hồ Chí Minh đó là đối tượng
nghiên cứu của chúng ta, một đối tượng có thể nói là đa dạng và phong phú bao gồm
trong đó những vấn đề không phải chỉ thuộc về một khoa học mà của nhiều khoa học,
không phải chỉ gồm một hệ thống mà nhiều hệ thống. Người vừa là một trong những
tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa là người khai sinh cho một thời đại mới trong lịch sử
dân tộc – thời đại Hồ Chí Minh. Người vừa là nhà tư tưởng, nhà lý luận cỏch mạng, vừa
là người tổ chức, vị chỉ huy của cách mạng; vừa là chiến sĩ tiên phong của phong trào
giải phóng dân tộc, vừa là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, vừa là nhà Chiến lược quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao tài giỏi; vừa là nhà

của nó trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong các khoa học xó hội và nhõn văn. Tuy
nhiên, vỡ mỗi ngành khoa học một khỏc, đối tượng nghiên cứu mỗi ngành một khác
cho nên phải xác định cho được cách vận dụng và các phạm trù của phép biện chứng
duy vật sao cho thích hợp với từng ngành, từng đối tượng nghiên cứu. Không thể có
được một mô thức vận dụng nó chung cho tất cả các ngành. Vận dụng phép biện chứng
duy vật vào nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh cần chú ý cỏc nguyờn tắc sau:
Thứ nhất; Nguyên tắc hệ thống. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng
hàng đầu khia vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí
Minh. Theo nguyên tắc này phải xác lập cho được các mặt cấu thành ngôn ngữ Hồ Chí
Minh và quan hệ quy định lẫn nhau giữa các mặt đó. Có thể nghiên cứu từng mặt một
cách riêng rẽ như nghiên cứu câu, nghiên cứu từ ngữ, thậm chí nghiên cứu từng yếu tố
nhỏ hơn: ngữ cố định, tính nhạc trong văn xuôi… nhưng tránh tỡnh trạng thường gặp là
rút ra kết luận về một đặc điểm nào đó từ sự nghiên cứu các mặt một cách cô lập.
Ví dụ, tính giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ… vốn là đặc điểm nổi bật nhất của ngôn ngữ
Hồ Chí Minh, không phải là đặc điểm riêng về dùng từ, về đặt câu, mà là kết quả tổng
hũa của từ, của câu, của cấu trúc văn bản, của cách phân đoạn văn bản của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Phát hiện ra tính chất của từng mặt một là cần, nhưng chưa đủ để đi đến một
kết luận khái quát nào đó về ngôn ngữ Hồ Chí Minh, mà chúng ta cũn cần phải lưu ý
phát hiện ra sự tác động, quy định và điều chỉnh lẫn nhau giữa từng đặc điểm khái quát.
Vớ dụ, trong ngụn ngữ Hồ Chớ Minh, ngoài tớnh giản dị, dễ hiểu, cỏc nhà
nghiờn cứu cũn núi tới tớnh sõu sắc, hàm nghĩa bao quỏt, tớnh dõn tộc, tớnh hiện đại…
Những tính chất đó không phải bao giờ cũng đi đôi với nhau. Những kết luận kiểu như
“ngôn ngữ của Bác giản dị, dễ hiểu nhưng cao sâu, vừa có tính dân tộc đậm đà, vừa có
tính hiện đại rừ rệt… chưa thể xem là những kết luận đủ sức thuyết phục. Đó mới chỉ là
sự liệt kê đặc điểm chứ chưa phải là sự lý giải chúng. Vấn đề là ở chỗ Người đó làm thế
nào phối hợp được các đặc điểm đó một cách nhuần nhuyễn, một cách rất Hồ Chí Minh,
trong bất cứ văn bản nào, nói về bất cứ vấn đề gỡ.
Thứ hai; Nguyên tắc vận động. Khi tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ của một dân
tộc hay nghiên cứu đặc ngữ cá nhân có thể tiến hành theo nguyên tác tĩnh – đây là
nguyên tắc đặc trưng cho ngôn ngữ học thời kỳ chủ nghĩa cấu trúc – tĩnh đang thịnh

đúng sự đóng góp của Người đối với tiếng Việt.
Bên cạnh đó, cần lưu ý Hồ Chí Minh cũng như C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin
không phải là nhà ngôn ngữ học, các vị ấy đều xuất phát từ học thuyết mácxit, xuất phát
từ nhiệm vụ chính trị - lịch sử của giai cấp vô sản, đồng thời cũng xuất phát từ chủ
nghĩa nhân văn vô sản mà nhỡn vào ngôn ngữ của các dân tộc nói chung và của ngôn
ngữ của một dân tộc nói riêng. Những ý kiến của cỏc vị về ngụn ngữ cú thể là những
chõn lý ngụn ngữ học phổ biến nhưng cũng chỉ hạn chế trong một lĩnh vực nào đó của
hoạt động ngôn ngữ. Cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa, cực đoan hóa ý kiến của cá
nhân lónh tụ.
Ví dụ, Lênin nói: ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, điều đó đúng,
nhưng không có nghĩa giao tiếp chỉ là chức năng duy nhất của ngôn ngữ, và cũng cần
tỡm hiểu thực tế sử dụng tiếng Nga của Lênin mà rút ra quan điểm của Người về giao
tiếp là như thế nào…. Khuynh hướng cực đoan hóa dễ tuyệt đối hóa một ý kiến nào đó
của các lónh tụ theo một cỏch giải thớch hạn hẹp của người nghiên cứu, khiến bị rơi
vào phiến diện, không phát hiện được hết những phương diện khác, những chức năng
khác của ngôn ngữ nằm ngay trong việc sử dụng ngôn ngữ của các vị…
Như vậy, thông qua phần trỡnh bày ở trờn, ta thấy được những nguyên tắc
phương pháp luận cơ bản trong chỉ đạo việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Điều
đó đó khẳng định việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh không thể không sử dụng hai
nguyên tắc phương pháp luận nêu trên. Thực hiện tốt những nguyên tắc này trong quá
trỡnh nghiờn cứu sẽ đem lại kết quả cao, chính xác và đúng đắn hơn.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ HỒ CHÍ MINH
1. Xác định phạm vi của đối tượng nghiên cứu – phạm vi của ngôn ngữ Hồ
Chí Minh
Thực tế cho thấy, phạm vi của ngôn ngữ Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú,
nhưng chủ yếu tập trung ở mây vấn đề sau:
Thứ nhất; Những văn bản viết và nói mà Hồ Chí Minh đó tạo ta trong suốt cuộc

LMK thảo bài phỏt thanh và đưa Chính phủ duyệt trước. Bác không đồng ý với cách
viết đó, Người đó ghi nhận xột: “núi thế khụng nhó. Ra cỏch mỡnh kiểm duyệt. Phải
sửa chữa cõu ấy lại”. “Rồi tự tay Bỏc sửa: “ễng K. và L.M.K thảo bài phỏt thanh và đưa
cho Văn phũng Chủ tịch””
(3)
.
Thông qua một ví dụ rất nhỏ. Cụ thể là thông qua cách sửa chữa đó ta thấy rừ tư
tưởng, quan điểm, lũng nhõn ỏi và cả sự nhạy bén về chính trị của Người trong ngôn
ngữ. Đặc biệt, thụng qua vớ dụ này ta cũn thấy được Bác rất chú ý khụng chỉ nội dung,
mà cả thỏi độ, cả quan hệ giữa người với người trong ngôn ngữ.

3
Xem: Bựi Khắc Việt: Suy nghĩ về phong cỏch ngụn ngữ của Bỏc qua cỏc bản
thảo trong Học tập phong cỏch ngụn ngữ Chủ tịch Hồ Chớ Minh, Nxb Khoa học xó
hội, H, 1890
2. Tỡm hiểu tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh đối với ngôn ngữ
Đây là một trong những phương pháp quan trọng khi nghiên cứu ngôn ngữ Hồ
Chí Minh, vỡ thế người nghiên cứu cần tập hợp cho được tất cả những điều Người đó
viết, núi một cỏch hiển ngôn về ngôn ngữ. Những điều Người đó phỏt biểu về ngụn ngữ
cú thể phân thành từng khía cạnh:
Thứ nhất; Tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về ngôn ngữ nói chung
Thứ hai; Tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về tiếng Việt và về ngôn ngữ
của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam.
Thứ ba; Tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh đối với việc phát huy vai trũ của
cỏc ngụn ngữ đó (bao gồm cả các chính sách đó của Đảng và Nhà nước đó được ban
hành, thực hiện dưới ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh về ngôn ngữ).
Thứ tư; Quan niệm của Hồ Chí Minh về việc sử dụng ngôn ngữ, chủ yếu bằng

mượn khi thật cần thiết, trong đó có những gợi ý vay mượn khá mạnh dạn, táo bạo (vay
mượn một số vần nước ngoài, cả một số yếu tố cú pháp nữa). Điều đó đó chứng minh
một tầm nhỡn rất sỏng suốt, vượt thời đại rất xa, nghĩa là vừa quan tâm bảo vệ đặc sắc
của tiếng Việt, vừa tiếp nhận các yếu tố bên ngoài, không hề có thái độ một chiều, cực
đoan…
Một vấn đề quan trọng khác khi nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh, cần nghiên
cứu thật kỹ với tinh thần đối chiếu những thành tựu của ngôn ngữ học hiện nay, với
những tư tưởng của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này. Bởi lẽ, ý kiến của Người không
chỉ có tính ứng dụng mà cũn cú ý nghĩa khoa học sõu sắc. Điều đó được chứng minh
qua một số yêu cầu của Người về cách nói, cách viết của cán bộ, đảng viên:
“1. Phải học cách nói của quần chúng, chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi
câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ ró cỏi tư tưởng và lũng ước ao của quần chúng.
2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.
3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được.
Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đêu quyết tâm theo lời kêu gọi của mỡnh.
Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Núi cho ai nghe?”.
4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rừ, chớ núi, chớ viết.
5. Trước khi nói phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ:
“Chó ba quanh mới năm, người ba năm mới nói” sau khi viết rồi phải xem đi, xem lại
ba bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi, xem lại chín mười lần”
(5)
.

4
Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, H,
1981, tr. 374
Thông qua một số yêu cầu của Người về cách nói, cách viết của cán bộ, đảng

5
Xem: Sửa đổi lối làm việc trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H,
1995, tr.306
Người viết: “Làm được như thế - đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế - thỡ
thúi ba hoa sẽ bắt đầu cho đến khi hoàn toàn hết sạch, mà công việc của Đảng, tư cách
của cán bộ, đảng viên dẽ do đó mà tăng thêm”
(6)
. Đây là quan điểm có tính định hướng
trong việc giáo dục ngôn ngữ, đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay, việc dạy tiếng Việt đó
được xem là một nhiệm vụ quan trọng trong cải cách giáo dục.
3. Tổng kết đánh giá lại cỏc cụng trỡnh, cỏc kết quả nghiờn cứu trước đây
về ngôn ngữ Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ Hồ Chí Minh đó được nhiều tác giả nghiên cứu, thực hiện thành công
nhiều công trỡnh, nhiều bài nghiờn cứu. Trong việc tổng kết cỏc thành tựu nghiờn cứu
về ngụn ngữ Hồ Chớ Minh cần chỳ ý phõn loại tỏc giả và cú thể phõn biệt cỏc ý kiến cụ
thể như:
Các đồng chí lónh đạo gần gũi với Bác như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vừ
Nguyờn Giỏp, Tố hữu…
Các nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà khoa học, đặc biệt các nhà ngôn ngữ học.
Các cán bộ và quần chúng lao động đó cú cơ hội gặp Bác
Những người nước ngoài, bao gồm những người đồng chí, đồng tỡnh với Bỏc và
với sự nghiệp chung của nhõn dõn Việt Nam, những nhà nghiờn cứu khoa học cú thiện
ý… Sự tổng kết rộng rói đó giúp chúng ta có tầm nhỡn về ảnh hưởng ngôn ngữ Hồ Chí
Minh, cũng giúp chúng ta “tỉnh táo” hơn, khách quan hơn trong khoa học. Cũng cần hết
sức chú ý đến nhận xét của quần chúng bỡnh thường, những người mà ngôn ngữ Hồ
Chí Minh luôn luôn lấy làm đích phục vụ.
Mục đích của việc tổng kết nhằm để biết những phương diện nào trong ngôn ngữ

những phương pháp thích hợp và hữu hiệu, góp phần vào việc khám phá di sản tinh
thần Hồ Chí Minh, một kho báu cực kỳ quý giỏ và phong phỳ cả về chớnh trị và tư
tưởng, văn hóa và nghệ thuật, đạo đức, phong cách… lại càng là một việc khó khăn
hơn. Trong tỡnh hỡnh chung đó, khi tỡm hiểu, xem xột, nghiờn cứu ngụn ngữ Hồ Chớ
Minh không chỉ để thấy được tài năng ngôn ngữ của Người mà là để thấy được con
người Hồ Chí Minh như một sự “tổng hũa” cỏc quan hệ xó hội, như sự tổng hũa quan
hệ hiện đại và con người truyền thống, con người phương Đông với con người phương
Tây, như sự tổng hũa nhà chớnh trị, lónh tụ ưu tú của dân tộc với nhà nghệ sĩ lớn, nghệ
sĩ ngôn từ và nghệ sĩ trong cuộc sống tâm hồn.
Trong ngụn ngữ Hồ Chớ Minh ớt tỡm thấy những bài hoặc những cõu chỉ núi
riờng về lý thuyết. Thường là những bài, những câu dẫn dắt cho hành động. Nhưng mỗi
câu, mỗi bài đều là kết quả của sự chung đúc, sự tổng hũa của trớ tuệ, nghị lực và tõm
hồn; những lời giản dị của Người là kết quả của một bút lực phi phàm, một bút lực chỉ
có được khi người viết có một sức mạnh tinh thần và hiểu biết lớn lao, mang trong
mỡnh dũng chảy nguồn cuồn cuộn của tinh hoa dõn tộc, phương Đông và nhân loại.
Ngôn ngữ Hồ Chí Minh không chỉ là phương tiện đấu tranh cách mạng, mà ngôn ngữ
Hồ Chớ Minh cũn là nhõn cỏch Hồ Chớ Minh.
Ngày nay, nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Chí Minh để thấy được ở Người sự nâng niu,
trân trọng từng nét tinh tế của tiếng nói của dân tộc. Tỡnh cảm hết sức nồng nàn ẩn sõu
trong những từ ngữ đầy trí tuệ… thấy được những điều đó để nâng cao ý thức trong
việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Đồng thời, vừa phát huy được khả năng của
tiếng Việt, vừa xây dựng và làm nó trở thành một ngôn ngữ toàn năng… Muốn vậy,
điều quan trọng đầu tiên cần phải có là phương pháp – phương pháp nghiên cứu chuẩn -
đúng đắn, chính xác với từng đối tượng nghiên cứu, với từng không gian, thời gian, địa
điểm…
xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, đánh giá ngôn ngữ
Hồ Chí Minh
2. Vận dụng phép biện chứng duy vật một cách thích hợp
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ HỒ CHÍ MINH
1. Xác định phạm vi của đối tượng nghiên cứu – phạm vi của ngôn ngữ
Hồ Chí Minh
2. Tỡm hiểu tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh đối với ngôn ngữ
3. Tổng kết đánh giá lại các công trỡnh, cỏc kết quả nghiờn cứu trước đây
về ngôn ngữ Hồ Chí Minh 3 C. PHần kết luận
18

Danh mục các tài liệu tham khảo
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status