NGHIÊN CỨU MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO VĨNH PHÚC - Pdf 13

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

rc - t

nu .

e du .

v n
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TR
Ƣ
ỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ HỮU MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
QUY HOẠCH LÂM NGHIỆP HUYỆN TAM ĐẢO -
TỈNH VĨNH
PHÖ
C
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái nguyên, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //


p : //

ww w .

l

rc - t

nu .

e du .

v n
3
LỜI CẢM
ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp theo chương
trình đào tạo thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của
các giảng viên, các cơ quan đơn vị, bạn bè và gia đình.
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, Khoa sau đại
học và toàn thể giảng viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo
điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá đào tạo.
Xin chân thành cám ơn PGS.TS. Vũ Nhâm người trực tiếp hướng dẫn tác
giả thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Phân viện Điều tra quy hoạch rừng
Đông bắc bộ, Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên &
MT tỉnh Vĩnh Phúc, UBND huyện Tam Đảo, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Hạt
Kiểm lâm, Vườn quốc gia Tam Đảo đã tạo mọi điều kiện giúp tác giả thu thập

MỤC LỤC
Nội dung Trang
Đặt vấn đề
1
Chƣơng
1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Trên thế giới 2
1.1.1. Quy hoạch vùng 2
1.1.2. Quy hoạch vùng Nông nghiệp 5
1.1.3. Quy hoạch Lâm nghiệp 6
1.2. Ở trong
nƣớc
(Việt Nam)
7
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh 7
1.2.2. Quy hoạch Nông nghiệp huyện 8
1.2.3. Quy hoạch Lâm nghiệp 9
1.3. Quy hoạch ở Vĩnh Phúc
Ch
ƣ
ơng 2: Mục tiêu, đối t
ƣ
ợng, nội dung và ph
ƣ
ơng pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
14
2.1.1. Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 14
2.2. Phạm vi giới hạn nghiên cứu


rc - t

nu .

e du .

v n
5
3.1.2. Địa hình, địa mạo
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng
3.1.4. Khí hậu
3.1.5. Hệ thống sông suối, thuỷ văn
3.1.6. Các nguồn tài nguyên
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1. Tình hình dân số và lao động
3.2.2. Cơ sở hạ tầng
3.2.3. Văn hóa, giáo dục và y tế
3.3. Tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn huyện
3.3.1. Về tổ chức quản lý
3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Tam Đảo
3.3.3. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo chủ quản lý
Chƣơng
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Cơ sở quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo
15
4.1.1. Cơ sở pháp lý 15
4.1.2. Điều kiện cơ bản
4.2. Những dự báo cơ bản
14

nu .

e du .

v n
6
4.5.4. Quy hoạch các biện pháp kinh doanh, lợi dụng tổng hợp rừng
4.6. Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch
15
4.6.1. Giải pháp về tổ chức 15
4.6.2. Giải pháp về chính sách
4.6.3. Giải pháp về quản lý sử dụng tài nguyên rừng
4.6.4. Đề xuất giải pháp cụ thể cho từng loại rừng 15
4.7. Tiến độ thực hiện QHLN huyện Tam Đảo giai đoạn 2010-2020 15
4.8.
Ƣớc
tính vốn thực hiện và hiệu quả đầu

15
4.8.1. Khái toán vốn đầu tư
4.8.2. Hiệu quả đầu tư
Chƣơng
5. Kết luận - tồn tại - kiến nghị
5.1. Kết luận
5.2. Tồn tại
5.3. Kiến nghị đề xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //


Bảng 4.9. Quy hoạch rừng sản xuất theo đơn vị hành chính
Bảng 4.10. Quy hoạch PTLN huyện TĐ giai đoạn 2010-2020
Bảng 4.11. Tập đoàn cây trồng theo chức năng
Bảng 4.12. Dự kiến khối lượng khai thác lâm sản huyện Tam Đảo
Bảng 4.13. Tiến độ thực hiện các hạng mục trồng, chăm sóc, KN, BVR
Bảng 4.14. Tiến độ trồng rừng sản xuất phân ra hàng năm
Bảng 4.15. Tổng hợp các chỉ tiêu cho từng loài cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

rc - t

nu .

e du .

v n
8
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
TT Nội
dung
Trang
1
Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng
2

4
KHCN Khoa học công nghệ
5
KNTSR Khoanh nuôi tái sinh rừng
6
PCCCR Phòng chất chữa cháy rừng
7
PH Phòng hộ
8
PTLN Phát triển lâm nghiệp
9
PTNT Phát triển nông thôn
10
QHLN Quy hoạch lâm nghiệp
11
SX Sản xuất
12
SXLN Sản xuất lâm nghiệp
13
UBND Uỷ ban nhân dân
14
VQG Vườn quốc gia
15
XTTSR Xúc tiến tái sinh rừng
16
HGĐ Hộ gia đình
17
KN Khoanh nuôi
18
BV Bảo vệ

khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác
của rừng [20].
Quy hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng, đặc biệt đối với
sản xuất nông - lâm nghiệp. Do đặc điểm địa hình nước ta rất phong phú và đa
dạng, rừng phân bố không đồng đều, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất khác
nhau, nhu cầu của các địa phương, các ngành kinh tế khác đối với lâm nghiệp
cũng không giống nhau, nên việc quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý, các
đơn vị sản xuất kinh doanh, ngày càng trở thành một đòi hỏi thực tế khách
quan. Nó là tiền đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy hết
những tiềm năng to lớn, đa dạng của tài nguyên rừng và các điều kiện kinh tế -
xã hội khác, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững, ổn định, lâu dài ở địa
phương và quốc gia. Điều đó chứng tỏ rằng, để việc sản xuất kinh doanh rừng có
hiệu quả hay sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững, nhất
thiết phải quy hoạch lâm nghiệp và công tác quy hoạch lâm nghiệp cần phải
được đi trước một bước làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng trước khi
hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khác diễn ra.
Huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập ngày 01 tháng 01 năm
2004 theo Nghị định số 153-NĐ/2003/CP ngày 9/12/2003 của Chính phủ trên cơ
sở điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, thị trấn thuộc các huyện Lập Thạch,
Tam Dương, Bình Xuyên và Thị xã Vĩnh Yên để thành lập huyện. Khi thành
lập, huyện có tổng diện tích tự nhiên là 23.589,9 ha, dân số 67.235 người, trong
đó có hơn 40% là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Sán Dìu. Huyện
có 9 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 8 xã và 1 thị trấn thuộc vùng miền
núi, có 3 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Tam Đảo là huyện có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế du lịch và dịch
vụ song tiềm năng này chưa được đầu tư khai thác tốt. Bên cạnh vai trò to lớn về
phát triển kinh tế, Tam Đảo còn là huyện có vai trò quan trọng về môi trường
sinh thái. Năm 1996 Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập nhằm bảo tồn các
tài nguyên thiên nhiên và nguồn gen quý hiếm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

kinh tế chung của tỉnh, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người làm nghề
rừng, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế-xã hội miền núi phát triển
hoà nhập với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh là hết sức cần thiết.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành một số chủ trương
chính sách mới có tác động một cách sâu sắc đến công tác quy hoạch lâm nghiệp
như: Luật đất đai năm 2003; Luật Bảo và vệ phát triển rừng năm 2004; Nghị
định 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp; Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành
Quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày
05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng;
Quyết định số 61 và 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT về việc ban hành tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và phân loại rừng đặc
dụng; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng; Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg
ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng
sản xuất giai đoạn 2007-2015,….
Xuất phát từ những vấn đề trên, để góp phần bảo vệ phát triển tài nguyên
rừng ổn định, bền vững lâu dài, nâng cao đời sống người dân địa phương cũng
như cải thiện điều kiện môi trường sinh thái khu vực, việc “Nghiên cứu đề xuất
một số nội dung cơ bản quy hoạch lâm nghiệp huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh
Phúc” là cấp thiết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho
kinh tế, xã hội, môi trường hoặc cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất
trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất
thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác
điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước.
1.1.1. Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác-Lê Nin về phân bố và phát
triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó
được phát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên
kinh tế - xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”.
Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản
xuất cho mỗi vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và
tương lai phát triển của vùng đó.
Dựa vào học thuyết của Mác và Ăng Ghen. V.I. Lê Nin đã nghiên cứu có
hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ
nghĩa. Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

rc - t


nhưng có sự tác động của con người.
- Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con
người.
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước, tiến hành quy hoạch lãnh
thổ
vùng và quy hoạch lãnh thổ địa
phương. c) Nội dung của quy
hoạch:
Đồ án quy hoạch vùng lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết
các liên hiệp nông - công nghiệp và liên hiệp công - nông nghiệp, đồng thời giải
quyết các vấn đề sau đây:
- Cụ thể hoá, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

rc - t

nu .

e du .

v n
14
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp với mục
đích

vùng khác và với nước ngoài. Thực chất mô hình là bài toán quy hoạch tuyến
tính có cấu trúc:
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng
trọt công nghiệp với các mức thâm canh cường độ cao, thâm canh trung bình và
cổ điển (truyền thống).
- Hoạt động khai thác tài nguyên rừng.
- Hoạt động đô thị, khai thác chế biến…
Quy hoạch vùng nhằm mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm
giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực
tiễn của vùng, so sánh với các vùng xung quanh và nước ngoài.
1.1.1.3. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 của thế
kỷ trước. Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa
phương).
Vùng: Region được coi như là một á miền của đất nước, đó là điều cần
thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau
như: Phân bố dân cư, địa hình, khí hậu,…
Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào diện tích của đất nước.
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2
cách sau:
` - Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng,
những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng.
- Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của
vùng, các kế hoạch vùng được đóng góp vào xây dựng kế hoạch Quốc gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính,
nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế
trong vùng.
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá
tương lai của nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản
xuất theo lãnh thổ của các vùng là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn
hóa một cách hợp lý. Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên,
áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật…
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp, đồng thời
cũng là vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế, vùng tổ chức lãnh thổ
thuận lợi cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Như vậy, trong
quy hoạch vùng nông nghiệp lấy vùng hành chính nông nghiệp làm đối tượng
quy hoạch.
Quy hoạch vùng nông nghiệp có các nội dung như sau:
- Lập kế hoạch phát triển tương lai của nền kinh tế quốc dân trong vùng
hành chính nông nghiệp.
- Lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững.
- Tổ chức lãnh thổ với việc lập các sơ đồ quy hoạch vùng.
- Phân bố hợp lý các công ty chế biến nông, lâm sản.
- Xác định cân đối lao động trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
- Lập kế hoạch phân bố nhân khẩu.
- Phân bổ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa cơ khí, thương
nghiệp dịch vụ.
- Phân bổ cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, điện nước, thông tin liên
lạc và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác.
- Lập kế hoạch thực hiện tất cả các biện pháp đề ra trong sơ đồ quy hoạch
vùng trong thời gian chuyển tiếp.
Như vậy, lập kế hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tổ chức lãnh thổ
với việc lập sơ đồ quy hoạch vùng là những nội dung quy hoạch vùng nông
nghiệp [10].

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh
rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác
dài, và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương
thức “chia đều” của Harting. Harting đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều
thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm
1816, xuất hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.Cotta. Cotta chia chu kỳ
khai thác thành
20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng
năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch ” ra đời, quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời
vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19,
xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich. Phương pháp này khác
với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những
lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện
khai thác. Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch ” và “Lâm phần kinh tế”
chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác
nhau.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp
tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có
kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp
tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này
được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương
pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm Phần” không căn cứ
vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân
tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh. Cũng từ phương pháp này,
còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”
[20].
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Quy hoạch vùng chuyên canh


e du .

v n
20
năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An –
Cao Bằng, Ba Vì – Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan – Ninh Bình,
vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,…Các vùng cây công
nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc
Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hòa dân
chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum,
vùng dâu tằm Bảo Lộc – Lâm Đồng,…
a). Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh
- Xác định được phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn
hóa và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế cao.
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung đầu
tư vốn đúng đắn.
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản
phẩm hàng hóa của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản
xuất, nhu cầu lao động.
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch, phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh
doanh theo ngành và theo lãnh thổ.
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ
cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập
trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất
lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho
từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở
sản xuất.
b). Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh

- Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào dự
án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất và phân bố vùng nông nghiệp tỉnh
hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu
phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục
tiêu đó theo hướng chuyên môn hóa tập trung hóa kết hợp phát triển tổng hợp
nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định.
- Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm
sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì
nhiêu của đất.
- Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy
hoạch.
1.2.2.2. Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện
- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp.
- Bố trí sử dụng đất đai.
- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán
quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hóa, xác định vùng sản xuất thâm canh
cao sản, các tổ chức liên kết nông – công nghiệp, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp,
bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi).
- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong
nông nghiệp.
- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và
ngoài nông nghiệp.
- Bố trí cơ cấu vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thủy lợi, giao
thông, cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp).
- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông
thôn.
- Những cân đối chính sách trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực

sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những
tác dụng có lợi khác của rừng.
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc.
Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi, điều chế rừng
Thông theo phương pháp hạt đều,…
Đến năm 1955 – 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên
rừng. Năm 1958 – 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng Miền Bắc. Mãi đến
năm 1960 – 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền Bắc. Từ
năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường
và mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều
tra quy hoạch của Sở lâm nghiệp (nay là Sở nông nghiệp và PTNT) không
ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài
cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên, so
với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp Việt Nam
hình thành và phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về
kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta
đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [20].
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020
một trong những tồn tại mà Bộ Nông Nghiệp & PTNT đánh giá là: “Công tác
quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và
thiếu tính khả thi. Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được
lâm phần ổn định trên thực địa, ” [18]. Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp
bách đối với ngành lâm nghiệp của nước ta hiện nay.
1.2.3.1. Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng
ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc,
chia cắt, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động.
Là nơi cư trú của các đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh
tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn.

lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham
gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội… ). Trong đó,
có một số bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ
dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
1.2.3.2. Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch lâm
nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất do các
ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm
hàng đầu vì hai ngành chính sử dụng đất đai.
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại
rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất). Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh
thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi
phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp, khai thác
lợi dụng rừng, ).
- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và
nhu cầu vốn). Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ
mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp
theo.
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch
(giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn,
lao động,…).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .


gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được nhà nước giao, cho
thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp.
- Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết
định 62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng (năm 2005).
Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai
trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát
triển ngành. Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong
từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ
thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng
được điều chỉnh cho phù hợp.
1.2.3.4. Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
a). Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD.
Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch
Tổng công ty lâm nghiệp, Công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy
hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng
hộ, đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp cho các cộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h t t

p : //

ww w .

l

rc - t

nu .

e du .


Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định nhiệm
vụ phương hướng phát triển trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm
vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh. Tiến hành quy
hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng: Rừng sản xuất, rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ
vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác. Quy hoạch bảo vệ, nuôi
dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm
tái sinh tự nhiên và trồng rừng) thực hiện nông lâm kết hợp. Quy hoạch lợi dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status