ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGỤY THỊ LIỄU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA TUÂN TỬ Chuyên ngành: thạc sĩ triết học
Mã số : 60.22.80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn thanh Bình
2.3. Quan niệm của Tuân Tử về vai trò của nhà vua, ngƣời cầm quyền 56
2.4. Quan niệm của Tuân Tử về vai trò của dân trong tƣởng chính trị - xã hội 69
2.5. Những giá trị và hạn chế cơ bản trong tƣ tƣởng chính trị – xã hội của Tuân Tử . 79
KẾT LUẬN 86
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 90
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không thể phủ nhận đƣợc rằng đã từ lâu, Nho giáo có ảnh hƣởng sâu
sắc đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con ngƣời Việt
Nam. Khi nhìn nhận về ảnh hƣởng và vai trò của Nho giáo ở Việt Nam hiện
nay, trong giới nghiên cứu vẫn còn có hai cách nhìn nhận đối lập nhau, có
nhà nghiên cứu thì cho rằng, Nho giáo có ảnh hƣởng tiêu cực, còn quan
điểm ngƣợc lại thì cho rằng, Nho giáo có ảnh hƣởng tích cực trong sự phát
triển đi lên của Việt Nam. Chỉ đứng trên lập trƣờng của chủ nghĩa Mác -
Lênin để khách quan nhìn nhận thì mới khẳng định đƣợc rằng, Nho giáo
vừa có ảnh hƣởng tích cực, vừa có những ảnh hƣởng tiêu cực đến xã hội và
con ngƣời. Cho nên, việc nghiên cứu trở lại Nho giáo với mục đích “gạn
đục khơi trong” để chủ yếu tiếp thu những tinh hoa của Nho giáo nhằm
phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội ngày nay.
Khi nghiên cứu về tƣ tƣởng chính trị - xã hội của Tuân Tử cũng vậy,
chúng ta có thể thấy rõ tính chất hai mặt tồn tại trong hệ thống tƣ tƣởng của
ông. Có những giá trị tích cực và tiến bộ trong tƣ tƣởng Tuân Tử mà cho
đến nay chúng ta cần kế thừa và học tập, nhƣng bên cạnh đó vẫn còn có
những yếu tố đã lỗi thời và lạc hậu do hoàn cảnh xã hội chi phối. Nhƣng
đúng nhƣ nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét, tƣ tƣởng chính trị - xã hội của
Tuân Tử “lấy cái cùng cực làm căn bản, lấy cái yếu trọng làm đạo lí, bày tỏ
mẻ của Tuân Tử trong trƣờng phái Nho gia, mà trƣớc đó các bậc thầy của
ông chƣa hoặc mới chỉ đề cập đến một cách mờ nhạt. Vì lí do này, có quan
điểm cho rằng, tƣ tƣởng của Tuân Tử không còn giữ đƣợc những tinh túy
của bậc thầy Khổng Tử nữa. Nhƣng chúng ta cần phải có cái nhìn khách
quan để nhìn nhận lại tƣ tƣởng của Tuân Tử để thấy rằng, không những
Tuân Tử vẫn giữ đƣợc những cái tinh túy nhất của bậc thầy, mà trong tƣ
tƣởng của ông còn có thêm sự phong phú và sâu sắc, qua đó chúng ta có thể
hiểu rõ thêm về nền chính trị - xã hội Trung Quốc thời cổ đại. Có nhƣ vậy 3
chúng ta mới có thể khẳng định đƣợc tƣ tƣởng của Tuân Tử vẫn giữ đƣợc
những truyền thống quý báu của Khổng Tử và Mạnh Tử, nhƣng Tuân Tử
cũng có những tƣ tƣởng độc đáo của riêng mình nhằm thích ứng với nhu
cầu của thời đại. Chúng ta quay lại với tƣ tƣởng của Tuân Tử để thấy, ở đó
có giá trị và hạn chế gì, và chúng ta có thể học tập đƣợc gì ở Tuân Tử trong
bối cảnh lịch sử ngày nay.
Nghiên cứu về tƣ tƣởng chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung và
tƣ tƣởng của Tuân Tử nói riêng đã có nhiều công trình khoa học đề cập
đến. Mỗi công trình nghiên cứu có một góc nhìn khác nhau về tƣ tƣởng của
Tuân Tử. Kế thừa những thành quả đã nghiên cứu trƣớc đó, và tiếp tục khai
thác những vấn đề khoa học trong tƣ tƣởng triết học của Tuân Tử đang còn
bỏ ngỏ, tác giả chọn vấn đề:“Tư tưởng chính trị - xã hội của Tuân Tử” làm
đề tài nghiên cứu trong Luận văn thạc sỹ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về tƣ tƣởng Nho giáo, trong đó có tƣ tƣởng chính trị - xã
hội của Tuân Tử, từ trƣớc đến nay đã có nhiều công trình trong và ngoài
nƣớc. Tiêu biểu là một số công trình của các tác giả sau đây:
1. Lã Trấn Vũ là một trong những học giả nổi tiếng của Trung Quốc
hiện nay. Ông đã viết nhiều về tác phẩm về sử học, kinh tế và triết học.
phẩm tiêu biểu của từng nhà Nho trong lịch sử hình thành, biến đổi, phát
triển của Nho giáo; vừa mang tính chất ứng dụng để có thể vận dụng tƣ
tƣởng của các nhà Nho vào thực tế để giáo dục, hoàn thiện con ngƣời và phát
triển xã hội. Trong tác phẩm này, với quan điểm hết sức tiến bộ, Phan Bội
Châu đã đúc kết đƣợc tinh hoa của Khổng học và những chi phái, những nhà
tƣ tƣởng tiêu biểu của Khổng học trong đó có Mạnh Tử và Tuân Tử.
Trong phần nói về tƣ tƣởng triết học của Tuân Tử, Phan Bội Châu
ngay từ đầu đã khẳng định rằng, nếu “chúng ta có bộ óc nghiên cứu học vấn 5
và có cặp mắt phán đoán học thuật thì xin đem truyền bộ Tuân Tử ra xem,
dám chắc thầy Tuân là cháu đích thực của Khổng học” [19, tr.801]. Khi nói
về Tuân Tử, Phan Bội Châu đã có cái nhìn rất tích cực về ông. Tác giả đã
phân tích các học thuyết của Tuân Tử qua từng câu chữ nguyên bản để
ngƣời đọc có thể hiểu sâu sắc hơn tƣ tƣởng của Tuân Tử.
Phan Bội Châu khẳng định rằng, trong thuyết tính ác của Tuân Tử,
chẳng những nó không mâu thuẫn với thuyết tính thiện của Mạnh Tử, mà
ngƣợc lại còn bổ sung thêm cho học thuyết của Mạnh Tử ngày càng hoàn
thiện hơn. Còn khi phân tích thuyết phi mệnh của Tuân Tử, Phan Bội Châu
đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ, Tuân Tử là ngƣời vô thần với quan
niệm con ngƣời không phụ thuộc vào trời và tự nhiên: “Độ số của trời đi,
vẫn đã có mực thƣờng, chẳng phải vì Nghiêu mà làm cho Nghiêu đƣợc tồn,
chẳng phải vì Kiệt mà làm cho Kiệt đến vƣơng (thiên hành hữu thƣờng, bất
vì Nghiêu tồn, bất vị Kiệt vƣơng). “Tồn” hay “vƣơng” chỉ quyền ở việc
ngƣời, ngƣời lấy việc trị mà ứng với thiên hành thời đƣợc tốt lành (ứng chi
dĩ trị, tắc cát), lấy việc loạn mà ứng với thiên hành thời mắc lấy xấu dữ
(ứng chi dĩ loạn, tắc hung)” [19, tr.807]; ngƣợc lại con ngƣời có thể tác
động lại tự nhiên để phục vụ đời sống của mình. Tƣ tƣởng này của Tuân Tử
cũng là cách nhìn nhận tiến bộ và đi trƣớc một bƣớc so với thời đại của
ảnh hƣởng của hoàn cảnh thời Chiến quốc nên Tuân Tử thiên về mặt biện
luận mà quên mất cái lối tâm học uyên bác của Khổng giáo.
Khi phân tích tƣ tƣởng của Tuân Tử, Lã Trấn Vũ tập trung vào ba
phƣơng diện là: Thứ nhất là về mặt triết lí của Tuân Tử: Tuân Tử quan
niệm trời với ngƣời tồn tại độc lập với nhau. Thứ hai, về mặt giáo dục thì
Tuân Tử cho rằng, tính ngƣời là ác nên phải dũng lễ nghĩa để giáo dục
ngƣời thành thiện. Thứ ba, về mặt chính trị - xã hội thì ông cho rằng, nên
nhìn thẳng vào thực tế mà học tập, đặc biệt là cần phải học tập ở các đời
vua sau này mới có tính ứng dụng cao. 7
Tóm lại, khi nghiên cứu về Tuân Tử, Trần Trọng Kim đã cho rằng,
có lúc quan điểm của Tuân Tử có tính tích cực, nhƣ Trần Trọng Kim nhấn
mạnh “mục đích lấy chính trị làm việc hành đạo” của Tuân Tử là rất hay,
nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế trong tƣ tƣởng, vì Tuân Tử còn chịu ảnh
hƣởng sâu sắc bởi thời đại nên nhiều lúc quan điểm của Tuân Tử “tƣơng
phản với tông chỉ của Khổng giáo” [40, tr.270].
Nhƣng nhìn chung, trong tác phẩm này, ông đặc biệt đề cao những giá
trị của Nho giáo trong bối cảnh mà đa số ngƣời Việt Nam lúc bấy giờ hồ
nghi, xa lánh và ghét bỏ. Ngoài ra, tác giả còn viết một thiên riêng về Nho
giáo ở Việt Nam để trình bày khái quát và tóm tắt nhất quá trình du nhập và
phát triển của Nho giáo ở Việt Nam. Cuối thiên này, tác giả còn khẳng định,
ở Việt Nam “từ khi dựng nƣớc đến giờ, nhờ có Nho giáo, đời đời nhân tài
bối xuất, ngƣời làm tƣớng văn, tƣớng võ, ngƣời đạo đức, văn chƣơng, ngƣời
có khí tiết cao thƣợng, khá lấy làm vẻ vang, không phụ cái tiếng là một nƣớc
văn hiến” [40, tr.734] và “Nho giáo tuy không gây thành cái văn minh vật
chất nhƣ Tây học, nhƣng vẫn cứ cái đặc tính đào tạo ra đƣợc cái nhân cách,
có phẩm giá tôn quý. Hãy kể một phƣơng diện ấy, thiết tƣởng cũng đủ làm
cho ngƣời mình không nên bỏ Nho giáo vậy” [40, tr.735].
quan luận, hay khách quan luận, duy lí chủ nghĩa hay là trực quan chủ
nghĩa, đức trị chủ nghĩa hay công lợi chủ nghĩa v.v nhƣng tất cả thống nhất
ở quan niệm luân thƣờng, cƣơng thƣờng” [36, tr.205]. Có nghĩa là, theo
ông, tƣ tƣởng của Tuân Tử cũng không đi chệch hƣớng với quan niệm của
Nho giáo của Khổng Tử.
5. Giáo sƣ Du Vinh Căn với Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia
đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về tƣ tƣởng chính trị của các bậc Nho tiền bối.
Trong tác phẩm này, ông lấy tƣ tƣởng pháp luật Nho gia làm mục đích lập
luận. Cuốn sách đã có những phát hiện rất nhiều mặt nên đƣợc nhiều học 9
giả trong và ngoài nƣớc chú ý. Chính vì vậy, khi cuốn sách ra đời đã gây
đƣợc tiếng vang lớn trong giới học thuật Trung Quốc cũng nhƣ thế giới.
Nếu nhƣ, phần lớn các công trình nghiên cứu đều cho rằng, Nho giáo là
một học thuyết về đạo đức nhằm để giáo dục và hoàn thiện nhân cách đạo
đức của con ngƣời; hoặc là coi Nho giáo là một học thuyết triết học về con
ngƣời, vì Nho giáo đặc biệt coi trọng và đề cao con ngƣời; hay coi Nho
giáo là một tôn giáo, là một học thuyết chính trị - xã hội thì công trình
nghiên cứu này của Du Vinh Căn đƣợc đánh giá cao vì đã phát hiện thêm
giá trị tinh thần quý báu trong di sản tƣ tƣởng dân tộc Trung Quốc – đó là
tƣ tƣởng pháp luật. Chính sự đóng góp khá mới mẻ khi tác giả tập trung
nghiên cứu về tƣ tƣởng pháp luật của Nho gia đã góp phần vào xây dựng
nhà nƣớc Trung Hoa ngày nay. Khi nghiên cứu về tƣ tƣởng của Tuân Tử,
giữa rất nhiều những quan điểm cho rằng “Tuân Tử không nằm trong hàng
ngũ Nho gia”, Du Vinh Căn đã chỉ ra rằng, tƣ tƣởng của Tuân Tử là một hệ
tƣ tƣởng mới trong hệ tƣ tƣởng của Nho giáo tiên Tần, nhƣng vẫn không
nằm ngoài phái Nho gia. Du Vinh Căn còn chỉ ra những điểm đặc sắc riêng
về tƣ tƣởng chính trị của Tuân Tử khi ông đề cao lễ trị nhƣng cũng coi trọng
hình phạt; đặc biệt là ông nhấn mạnh tính quy phạm, cƣỡng chế của lễ mà
Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho gia; nhƣng trái với
Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng, con ngƣời vốn có tính ác và coi thế giới có
quy luật riêng. Theo ông, sức ngƣời có thể thắng trời. Nhƣ vậy, tƣ tƣởng
triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ.
Ngoài ra, liên quan đến nội dung của đề tài còn có những công trình
nghiên cứu khoa học khác nhƣ: Lịch sử triết học phương Đông (gồm 5 tập)
của Nguyễn Đăng Thục, Các bài giảng về tư tưởng phương Đông của GS.
Trần Đình Hƣợu, Lịch sử triết học Trung Quốc của GS. Lê Văn Quán, Học
thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam của
TS.Nguyễn Thanh Bình, Triết lí phương Đông giá trị và bài học lịch sử của
TS.Trịnh Doãn Chính, Triết lí chính trị Trung Hoa cổ đại và vấn đề nhà 11
nước và pháp quyền của Ths.Bùi Ngọc Sơn, v.v. cùng nhiều bài báo đăng
trong các tạp chí khoa học nhƣ Triết học, Khoa học, Văn học, v.v.
Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu của các công trình trên cho
chúng ta nhìn nhận rõ hơn về tiến trình phát triển của Nho giáo trong lịch
sử Trung Quốc, về nội dung và những tƣ tƣởng cơ bản của từng nhà Nho
tiêu biểu. Nhƣ vậy, chúng ta có thể khẳng định thêm rằng: Nho giáo không
phải ngày bị mai một và quên lãng, mà ngƣợc lại những mặt tích cực của
Nho giáo nói chung và trong tƣ tƣởng chính trị - xã hội của Tuân Tử nói
riêng ngày càng đƣợc các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu dƣới nhiều
góc độ khác nhau.
Kế thừa những giá trị khoa học của những công trình đã nghiên cứu,
đề tài này sẽ tiếp tục tìm hiểu, khai thác những giá trị trong tƣ tƣởng chính
trị - xã hội của Tuân Tử, trong đó có nhiều vấn đề mà những công trình
trƣớc đó còn bỏ ngỏ hoặc chƣa thực sự làm sáng tỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích của Luận văn là thông qua việc trình bày và phân tích
thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và
học tập về Nho giáo nói chung và về tƣ tƣởng chính trị - xã hội của Tuân
Tử nói riêng.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội
dung của Luận văn gồm 2 chƣơng, 7 tiết.
Chƣơng 1: Bối cảnh và nguồn gốc tư tưởng chính trị – xã hội của Tuân Tử.
Chƣơng 2: Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị – xã hội của
Tuân Tử. 13
CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH VÀ NGUỒN GỐC
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA TUÂN TỬ
1.1. Bối cảnh lịch sử
1.1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Tuân Tử
Tuân Tử họ Tuân, tên Huống, tự là Khanh, sinh ra ở nƣớc Triệu,
khoảng cuối thế kỉ IV TCN và mất khoảng cuối thế kỉ thứ III TCN (313-
238), thời Chiến quốc. Ngƣời đời gọi ông là Tôn Khanh.
Tuân Tử tính tình điềm đạm. Trong quá trình tranh luận, “ông cứ
bình tĩnh đƣa ra lẽ phải trái, chứng cứ rành mạch, ngƣời ta nghe thì càng
hay, không nghe, ông cũng không tức, và gặp kẻ hiếu thắng thì thôi, ông
không nói nữa ’’ [24,tr.12]. Ông học rộng, tự tín, có nhiều ý độc đáo, suy
luận sắc bén và có tinh thần nghệ sĩ ít nhiều, nên nổi danh về từ phú. Lúc
học giả lớp trƣớc nhƣ Thận Đáo, Điền Biền đều đã qua đời, “Tuân Tử là
thầy già nhất, lại ba lần làm chức Tế Tửu, lãnh đạo học cung, trở thành học
giả lớn có uy tín lớn nhất thời bấy giờ” [9, tr.469].
Tuân Tử đã ba lần làm quan ở nƣớc Tề, giữ chức Tế tửu. Nƣớc Tề
tôn kính ông là “Liệt đại phu”. Thời Tề vƣơng, vƣơng hậu chuyên quyền,
điều quan trọng là phải nắm đƣợc chính xác tình hình kinh tế và tình hình
chính trị của thời đại ấy.
Trong thời Xuân thu, ngoài cuộc chiến tranh thƣờng xuyên xảy ra
giữa các nƣớc, trong từng nƣớc cũng luôn xảy ra những cuộc đấu tranh
giữa bọn quý tộc với nhau để giành đất đai và quyền thống trị nhân dân. Ở
nƣớc Tấn, năm 403 trƣớc công nguyên có ba họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy
chia nhau đất nƣớc, rồi không bao lâu đã phế truất vua Tấn. Lúc đó, Trung
Quốc đã bƣớc vào thời đại Chiến quốc. Bấy giờ chỉ còn lại bảy nƣớc lớn
và một số ít nƣớc nhỏ. Trong bảy nƣớc lớn thì Tề, Sở, Yên, Tần đã có từ 15
thời Tây Chu; Hàn, Triệu, Ngụy là những nƣớc mới tách ra từ nƣớc Tấn.
Bảy nƣớc đó tạo thành cục diện Thất hùng thời Chiến quốc. Nƣớc Tần ở
phía tây Hàm Cốc quan, sáu nƣớc khác đều ở phía đông quan ải đó, nên
thƣờng đƣợc gọi chung là “Sơn Đông lục quốc”. Giữa bảy nƣớc đó, chiến
tranh theo quy mô lớn diễn ra không ngớt, biên giới giữa các nƣớc thƣờng
thay đổi tuỳ theo thắng bại trong chiến tranh.
Thời Chiến quốc, Trung Quốc có những biến đổi lớn lao hơn về mặt
kinh tế. Đặc biệt, nghề luyện sắt và kĩ thuật luyện sắt phát triển cao hơn, đồ
dùng bằng sắt đƣợc sử dụng phổ biến rộng rãi hơn so với thời Xuân thu.
Các nƣớc đều có những trung tâm luyện sắt, Hàm Đan nƣớc Triệu, Uyển
nƣớc Sở, Đƣờng Khê nƣớc Hàn, Lâm Truy nƣớc Tề đều là những nơi sản
xuất đồ sắt phát triển. Một số nƣớc đặt ra chức “Thiết quan” chuyên môn
quản lý kinh doanh ngành luyện sắt và thu thuế hàng sắt. Lúc bấy giờ,
không những phần lớn nông cụ nhƣ lƣỡi cày, cuốc, liềm, xẻng, mai, rìu,
dao, v.v, bằng sắt mà phần lớn đồ binh khí cũng đều bằng sắt. Những nơi
luyện sắt quy mô lớn có tới mấy trăm nô lệ làm việc. Nhiều chủ lò luyện sắt
nhờ bóc lột lao động của nô lệ trở nên giàu sang, thƣờng hay giao du với
bọn chƣ hầu, khanh tƣớng.
sông. Nƣớc Tần đã đắp đập Đô Giang nổi tiếng, tƣới cho cả một vùng đồng
bằng Thành Đô rộng lớn. Ở Quan Trung có khơi con mƣơng nƣớc Trịnh,
tƣới cho cả một vùng đất đai ở phái bắc sông Vị. Nhân dân các nƣớc Tề,
Ngụy, Sở đều đào mƣơng ngòi thông với các sông Hoàng Hà, Tế, Nhữ, Tứ,
Trƣờng Giang; sông ngòi và mƣơng máng đó hình thành làm một hệ thống,
rất thuận tiện cho việc tƣới ruộng và vận chuyển bằng đƣờng thuỷ. Nhân dân
Giang Nam cũng xây dựng một hệ thống sông đào trên lƣu vực Thái Hồ.
Nhân dân nƣớc Sở đào mƣơng tƣới nƣớc ở lƣu vực Hán. Các công trình thuỷ
lợi đƣợc xây dựng khắp nơi, từ lƣu vực sông Hoàng Hà tới lƣu vực sông 17
Trƣờng Giang, từ bờ biển phía đông đến Tứ Xuyên. Nhƣng vì tình trạng
phân tranh giữa các nƣớc, ngƣời ta không thể nào thực hiện đƣợc việc thống
nhất quản lý công tác thuỷ lợi. Thậm chí có nhiều lần để đối phó với nƣớc
thù địch, nhiều nƣớc thƣờng dùng biện pháp ngăn sông hoặc phá đê, đập để
gây hạn hán hoặc lụt ngập cho đối phƣơng. Do đó, công cuộc thuỷ lợi chƣa
thể phát huy hết tác dụng của nó trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ.
Những biến đổi, phát triển về kinh tế đã ảnh hƣởng và tác động đến
đời sống chính trị của xã hội Trung Quốc thời Chiến quốc. Cuộc đấu tranh
giai cấp tiến lên một bƣớc và quyết định sự hình thành trào lƣu học tập
“chƣ tử”, “bách gia”. Sự phân hoá ý thức ấy phản ánh sự phân tán về sở
hữu đất đai, phản ánh quá trình chuyển hoá từ chế độ thị tộc đến chế độ tƣ
hữu đa dạng theo từng khu vực địa lí, cùng với sự phát đạt của công nghiệp,
thƣơng nghiệp. Ở các nƣớc thời Chiến quốc, chế độ chính trị không còn là
sự chuyên chính của thị tộc nhƣ thời Tây Chu nữa, mà trở nên tƣơng đối
dân chủ, có phần nào giống với chế độ dân chủ ở Hy Lạp cổ đại. Do sự
cạnh tranh về kinh tế, chính trị, quân sự, , các nƣớc đua nhau trọng dụng
những kẻ sĩ (xuất thân bình dân) có tri thức chuyên môn. Cái phong khí “Lễ
hiền hạ sĩ” đƣợc gây nên từ đó. Địa vị của các nhà tri thức chuyên môn trở
vua chúa và quý tộc thời bấy giờ mời họ về làm quan lại, tƣớng tá, mƣu sĩ
Nếu ở nƣớc này, nhà này không thích hợp với họ nữa, sĩ lại chuyển sang
giúp nƣớc khác, nhà khác. Hôm nay, họ đang ở nƣớc Tần, mai họ có thể ở
nƣớc Sở, nên ngƣời ta gọi là du sĩ. Vua các nƣớc thời đó, nhƣ Uy Vƣơng
nƣớc Tề, Huệ Vƣơng nƣớc Ngụy, Chiêu Vƣơng nƣớc Yên đều là những
ngƣời nuôi kẻ sĩ có tiếng một thời. Ngoài ra, có bốn công tử là Mạnh
Thƣờng Quân nƣớc Tề, Tín Lăng Quân nƣớc Ngụy, Bình Nguyên Quân
nƣớc Triệu và Xuân Than Quân nƣớc Sở, đều có nuôi kẻ sĩ trong nhà đến
hàng nghìn ngƣời. Sĩ lập đƣợc công lao thì vua chúa ban thƣởng vàng bạc, 19
chức tƣớc và ruộng đất. Sĩ là một tầng lớp rất đặc biệt - là tiền thân của tầng
lớp quan liêu về sau này, nhƣng lúc đó đã có vai trò tƣơng đối lớn trong nền
chính trị bấy giờ.
Ngoài ra, do sự phát triển của sức sản xuất, sự xuất hiện và phát triển
của kinh tế hàng hoá, do chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên mà làm cho
tổ chức công xã nông thôn và chế độ tỉnh điền bị phá hoại nghiêm trọng.
Trong thôn xã, sự phân hoá giai cấp ngày càng mạnh mẽ, một số nhỏ nông
dân trở thành địa chủ, phú nông, còn đa số nông dân thì mất ruộng đất phải
đi cấy rẽ, làm thuê, trở thành tá điền, cố nông. Tầng lớp quý tộc, địa chủ và
thƣơng nhân giàu có cƣớp đoạt nhiều ruộng đất của nông dân. Cùng với đó
là việc biến ngƣời nông dân thành kẻ làm mƣớn, cấy rẽ có lợi hơn dùng nô
lệ, do đó họ chuyển sang thuê mƣớn nhân công và cho phát canh, lấy tô.
Quan hệ sản xuất phong kiến kiểu nông nô xuất hiện và dần dần chiếm ƣu
thế trong nông nghiệp. Nô lệ đến lúc này chỉ thu hẹp trong sản xuất thủ
công, hầm mỏ và phục vụ trong nhà.
Đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động dƣới thời Chiến quốc
vẫn không đƣợc cải thiện hơn so với thời Xuân thu. Nền kinh tế thời
Chiến quốc có phát triển cao hơn thời Xuân thu, nhƣng cũng chỉ tạo điều
suy yếu và tan rã xã hội ngày càng thêm nghiêm trọng. Ba nƣớc Yên, Triệu,
Tần ở biên giới phía Bắc phải xây dựng trƣờng thành, tổ chức phòng thủ,
nhƣng lực lƣợng bị phân tán nên nguy cơ bị ngoại xâm vẫn tồn tại. Tình
hình về các mặt nói trên đề ra một cách cấp bách yêu cầu thống nhất xã hội
Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy sự chín muồi của thời cơ để nƣớc Tần diệt
sáu nƣớc. Vì thế khi quân Tần mở cuộc đông chinh nhằm thống nhất Trung
Quốc thì “Sơn đông lục quốc” tan rã nhanh chóng.
Năm 246 TCN, vua Tần là Doanh Chính lên ngôi. Bấy giờ lãnh thổ
của nƣớc Tần đã rộng lớn, bao gồm các miền Thiểm Tây, Tứ Xuyên, miền
Tây Hà Nam và miền Bắc Hà Bắc. Vua Tần tự thấy đã có đủ lực lƣợng để 21
thực hiện âm mƣu chinh phục sáu nƣớc. Chỉ trong vòng mƣời năm (từ 230
đến 221 TCN), nƣớc Tần đã lần lƣợt tiêu diệt sáu nƣớc: Hàn, Triệu, Ngụy,
Sở, Yên, Tề và thống nhất lãnh thổ Trung Quốc, chấm dứt tình trạng hỗn
chiến lâu dài thời Xuân thu - Chiến quốc, lập ra đế quốc Tần, đế quốc thống
nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
Việc nhà Tần thống nhất Trung Quốc là phù hợp với yêu cầu phát
triển của xã hội bấy giờ, bởi vì chỉ có thống nhất đất nƣớc mới có thể chấm
dứt đƣợc tình trạng hỗn chiến lâu dài, mới có đủ sức mạnh để chống ngoại
xâm, mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở mang và thống nhất quản lí
công trình thuỷ lợi nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp và công thƣơng
nghiệp trên quy mô toàn quốc, đem lại đời sống hoà bình, yên vui cho nhân
dân lao động. Trung Quốc cổ đại kéo dài từ thế kỷ XXI đến cuối thế kỷ III
trƣớc Công nguyên, với sự kiện Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc
bằng uy quyền bạo lực, mở ra thời kỳ phong kiến. Lịch sử xã hội chiếm
hữu nô lệ Trung Quốc là lịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ;
giữa tầng lớp thƣợng lƣu của xã hội chiếm nô với những nông dân phá sản
bị nô dịch và trở thành phụ thuộc; giữa tầng lớp quý tộc truyền thống bị bần
thái bình, thịnh trị, nhân dân đƣợc ấm no, hạnh phúc.
1.2. Ảnh hƣởng của các trào lƣu tƣ tƣởng trong sự hình thành tƣ tƣởng
chính trị - xã hội của Tuân Tử
1.2.1. Tuân Tử tiếp thu và phát triển tư tưởng chính trị, đạo đức của
Khổng Tử và Mạnh Tử
Khổng Tử là ngƣời sáng lập và là bậc thầy lớn nhất của Nho gia, ông
là ngƣời nƣớc Lỗ thời Xuân thu của nƣớc Trung Hoa. Tác phẩm thể hiện
tập trung và rõ nét về tƣ tƣởng của Khổng Tử là sách Luận ngữ. Trong tƣ
tƣởng của mình, Khổng Tử đã đề ra giải pháp trong việc cai trị để ổn định
trật tự, kỉ cƣơng của xã hội theo mô hình và thiết chế xã hội nhà Chu. 23
Những tƣ tƣởng và giải pháp đó đƣợc tập trung trong học thuyết về đƣờng
lối đức trị (hay nhân trị, vƣơng đạo). Chữ nhân chính là nền tảng trong chủ
thuyết của Khổng Tử. Trong chính sách nhân trị, Khổng Tử đề cập đến các
vấn đề chính trị nhƣ: chính sách cai trị (giáo dân, dƣỡng dân, tiết dụng,
phân phối tài sản, sử dụng sức dân, v.v), các quan chức (tuyển dụng, tiêu
chuẩn, nghệ thuật lãnh đạo v.v). Tƣ tƣởng chính trị lấy đạo đức là nội dung
chủ yếu, là cái căn bản của Khổng Tử cũng khởi xuất từ quan niệm của ông
về bản tính và vai trò của con ngƣời. Về cơ bản, tƣ tƣởng chính trị của ông
là mang tính nhân đạo và nó hƣớng đến việc tìm kiếm những giải pháp,
những biện pháp hoàn thiện con ngƣời và thiên hạ bình trị dựa trên những
quy phạm và chuẩn mực của đạo đức. Tƣ tƣởng chính trị của Khổng Tử
còn thể hiện ở quan niệm coi xã hội lý tƣởng là một xã hội đƣợc xây dựng,
hoàn thiện và duy trì trên cơ sở của đạo đức, của “đức trị”. Ngƣời cầm
quyền (bậc quân tử) cũng phải là ngƣời có tài đức để trị quốc và làm gƣơng
cho nhân dân noi theo. Tầng lớp quý tộc dù đang nắm những địa vị xã hội
mà không có những phẩm chất về tài đức thì cũng không phải là những
ngƣời quân tử, muốn là ngƣời quân tử thì họ phải sửa mình theo những tiêu