Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ_5 potx - Pdf 17

BỔ SUNG
456. Người rơm phe phẩy tay rơm
Đứng canh đồng lúa sớm hôm tối ngày
Một chiều có chiếc máy bay
Mò vào ăn đạn rơi ngay xuống đồng
Nhảy dù thằng Mỹ thoạt trông
Như gà mổ thóc, “xin ông, lạy bà!”
- Tao canh chim chóc thôi mà,
Muốn xin, ra lạy mấy bà xã viên!
457. Nồi cơm trên bếp đang sôi,
Máy bay đến bắn vỡ nồi nhà ông.
Tức mình ông phóng ra đồng
Ông ghì khẩu súng ông trông lên trời:
Máy bay cái cháy cái rơi,
Cái cong đuôi chạy một hơi hoảng hồn.
Đứng lên vuốt bụng ông buồn
Khao quân giờ biết nấu cơm bằng gì?
Anh em du kích cười khì
Gò luôn “không lực Huê Kỳ” tặng ông!
458. Có cô con gái xóm Đoài
Nghe tiếng súng nổ bên tai dập dồn
Vội vàng bỏ dở bát cơm
Đên snơi tiếp đạn như hôm hiệp đồng.
Có anh du kích thôn Đông
Cũng vừa nghe súng ầm ầm bên tai
Bếp vừa nhóm luộc nồi khoai
Nhanh tay dập lửa, ra nơi hiệp đồng.
Bên này bên ấy Đoài, Đông
Cách nhau cánh đồng không hẹn mà nên.
459. Giữa trưa trời nắng chang chang
Bom gầm đạn rít dọc ngang trên đầu

Mình qua Đông Mỹ mà thăm
Dục Nội mình tới, Khuyến Lương mình về
Học thêm kinh nghiệm tay nghề
Lợn bột chăn giỏi, nái về nuôi hay
Dẫn tình lai giống quen tay
Chuồng trại phen này mở rộng thênh thang
Chăn nuôi nghề chính vững vàng
Như lá trầu vàng đủ thuốc đủ vôi.
465. Thủy lợi đi trước mở đàng
Trên đường cây mọc nối hàng xum xuê
Thuyền nan theo nước đi về
Dưới dòng cá lượn thỏa thuê vẫy vùng
Thủy lợi là gốc nghề nông
Chưa xong thủy lợi thì lòng chưa yên.
466. Từ ngày có điện về làng
Máy xay rộn rã, nhịp nhàng máy bơm.
Sao sa lấp lánh xóm thôn
Mỗi nhà một vị sao hôm sáng ngời.
467. Đã mừng làng có máy xay
Bỏ đi cối giã từ nay rộng nhà.
Máy về, ngô thóc dôi ra
Cót cao nong rộng cảnh nhà chật thêm.
468. Lúa xếp ngang cột điện làng
Máy đập rộn ràng chạy suốt ngày đêm
Đội anh đổi kíp đội em
Chạy từ trăng khuyết qua đêm trăng tròn.
Ngoài đồng đã biếc mạ non
Mà nghe tiếng máy vẫn giòn sân phơi.
469. Lên huyện học lớp máy bơm,
Cầm tay mẹ dặn: “Sớm hôm mau về”.

“Ôi thôi! Tôi lạy ông nào
Lạy ông trăm lạy nỡ sao thế này?”
Xã viên đồn khắp đó đây
Thương trâu tốt bụng mấy ngày chịu oan!
474. Người thì bí tỉ thịt thà,
Bò thì khát nước cùng là đói rơm.
Ba hôm! Vâng, chỉ ba hôm!
Rơm bò không nuốt, thì rơm “nuốt” bò!
475. Phải vì nắng rám má hồng
Nên em ra mạ ngại ngần đôi tay
Cấy gì mà cấy đến hay
Lợn gì mà cấy đến hay
Lợn chui cũng lọt, ngỗng bay cũng vừa!
Phải vì ai hẹn ai chờ
Để em nóng ruột cấy thưa kịp về
Hay vì sương muối mờ che
Ban ngày cứ ngỡ đêm khuya cấy mò.
Vì em mà thóc vơi bồ
Ba lần tổng kết mất cờ cả ba!
476. Hai lần cày lỏi cày nông
Hai lần họp xã, hai lần bị phê
Những ngồi mà thẹn mà ê
Xã viên phê chín, vợ phê những mười.
Họp về ngẫm nghĩ từng lời:
- Vợ mình - thật rõ con người thẳng ngay.
Đêm nằm gối nhẹ đầu tay:
- Chịu “bà” chủ nhiệm hôm nay phê chồng!
Trở vai, bẹo cái má hồng,
Vợ cứ cười thầm: - “Đùa mãi! Ngủ đi!”.
477. Trên giường con khóc hết hơi,

- Năm gian nhà ngói đề huề đến vui!
Lắc đầu, con chép đôi môi:
- Một gian nhà nhỏ ngọt bùi vẫn hơn.
Mẹ nằm mẹ dỗ nỉ non:
- Gái hơn hai tuổi, đúng tròn câu ca!
Con nằm, con ngoảnh mặt ra:
- Như đôi đũa lệch, như là đàn em.
Mẹ nằm mẹ lại dỗ thêm:
- Bên ông bà ấy, đất nền thương dâu.
Con cười: - Con chẳng mắc câu
Lấy chồng nào phải lấy đâu nhà chồng!
Mẹ ơi, trả cốm trả hồng
Duyên con, con chọn, đẹp lòng con hơn.
482. Buổi nào vuốt mái tóc này
Những là: “Như dải lụa bay quanh người”
Bây giờ anh túm anh lôi
Lụa ơi là lụa tả tơi quanh đường!
Buổi nào nựng má anh thơm
Những là: “Ngọt lịm như hương bưởi đào”
Bây giờ anh tát anh cào
Còn đâu hương bưởi, ngọt ngào miệng thơm?
Buổi nào chín mến mười thương
Ngọn đèn ai tắt, đêm trường ai lay
Bây giờ dùi đục, cẳng tay
Mười thương thì chín đã bay đâu rồi?
Buổi nào đôi mắt sóng đôi
Như soi lòng nước giếng khơi giữa làng
Bây giờ mắt tím mắt vàng
Cho lòng giếng cạn, nước tràn lên mi!
Dở trang luật mới đã ghi

- Em ơi đã hỏi ý chồng hay chưa?
- Chị hỏi thì em xin thưa:
Chồng em cứ giục “sao chưa đặt vòng”.
Bởi sung với vả như lòng
Lo ăn, lo mặc nên cùng giống nhau.
Muốn cho nước mạnh, dân giàu
Mình về, em nhắn đôi câu với mình:
Riêng chung trọn nghĩa, đẹp tình
Chỉ nên “kế hoạch” gia đình hai con
Chia tay trong tiếng cười giòn,
Đường quê sáng bóng trăng non tiễn người.
486. Cả nhà trẩy hội bán hàng
Đôi gà trống thiến bà mang lệch sườn.
Cháu giành đeo bị đậu tương,
Ông bưng rổ trứng còng lưng lò dò.
Sau cùng là chú lợn to
Mẹ nhờ hàng xóm khiêng cho một đầu.
Tiền này chả lấy về đâu
Mua sách con học, mua dầu thắp đêm.
Hai trăm tiết kiệm gửi thêm
Ghi sổ chống Mỹ, có tên cả nhà.
487. ý xuân còn đượm hoa đào
Hồ Gươm biếc sóng dạt dào tin vui
Gió về đường 9 gió ơi
Hoa đưa hương gửi lời người lập công
Chỉ thêu ai nhuộm nên hồng
Cho khăn em đẹp tấm lòng hậu phương
Lá thư băm sáu phố phường
Mang lời hẹn với chiến trường thi đua
Làng Sen đỏ rực bóng cờ

Sang đây gửi xác côn đồ lại đây
Pháo đài Hà Nội hôm nay
Vẫn mang khí thế rồng bay sẵn sàng!
489. Uốn cong một khúc Hồng Hà
Rẽ vào dòng thác sông Đà ở đây
Sóng xô ghềnh Bợ chưa say
Trung Hà đã gặp phà dầy sang sông
Phải đường Vật Lại đây không
Thăm đồi cây, Bác đã trồng năm xưa
Ba Vì đang trắng cơn mưa
Có về núi Chẹ thuyền đưa mình về.
Hôm qua xanh sắc đồng quê
Nay thêm rừng biếc tôi về Thủ đô
Đã quen lướt sóng Tây Hồ
Đồng Mô, Đại Lải bây giờ buồm dong
Đã quen sông Đuống, sông Hồng
Lại vui Hà Nội tựa tưng sông Đà
Sông Cầu quan họ thiết tha
Cà Lồ - sông cả - mượt mà vắt ngang
Sông Tô, sông Nhuệ mơ màng
Mình qua sông Tích hay sang đập Phùng
Chào con sông Đáy thủy chung
Mấy lần thoát lũ đã từng có nhau
Hôm qua nào có núi cao
Ba Vì non Tản nay vào Thủ đô
Mình lên núi Sóc ta chờ
Vó câu ông Gióng bây giờ còn bay
490. Quê em đồng bãi Giang Biên
Có giống ngô tốt, anh khen hết lời.
Giờ ngô đất mới, em ơi

Nhớ công hợp tác chăm nom mấy lần
Dù em chả lấy chồng gần
Mẹ cha vẫn sẵn canh cần xã cho.
495. Ngày nào hai đứa bảo nhau
Trồng mươi cây mướp phía sau sân nhà.
Bây giờ mướp đã ra hoa
Tay em thụ phấn quả ra trĩu giàn.
Ước gì cấy vãn anh sang
Chung mâm chung bát bữa cơm đầu mùa.
Mướp non em nấu canh cua
Để đền công bạn hôm xưa bắc giàn.
496. Cải nào bằng cải Đông Dư
Lá như lá cọ, bẹ như bẹ dừa
Nhà ai mua vại hay chưa
Để ta hong cải nén dưa hộ người
Vụng tay xin chớ vội cười
Chỉ e ăn một nhớ mười cải quê
Muốn về sơm sớm mà về
Muốn mau qua bến Bồ Đề cho mau
Vui chưa xe trước xe sau
Cải xanh mát cả nhịp cầu Long Biên.
497. Hẹn gì hẹn bẩy hẹn ba
Hết hẹn gốc bưởi hẹn qua gốc đào
Không ra e tiếng làm cao
Ra thì ăn nói làm sao cho vừa
Hẹn gì những cợt những đùa
Để nghi để ngại để ngờ lòng nhau
Lắm sương thì chả xanh trầu
Lỡ lầm một phút khổ đau suốt đời
Hẹn gì hẹn thế, chịu thôi

Năm canh lại sáng dáng người Thủ đô.
499. Bước chân qua đoạn đường này
Gặp cô thợ điện thử dây bên đường
Hỏi đùa: “Cô gái công trường”.
- “Không, em chính ở quê hương đây mà ”.
500. Máy xay tôi ghé thăm qua
Gặp mấy ông già cũng lại công nhân
Hỏi ông, ông cũng phân trần:
“Xã viên mới học có phần chưa quen”.
501. Mưa bay, gió lạnh, mưa bay
Con đường hút giữa đêm dày mênh mông
Con đường hút giữa cánh đồng
Con đường hút giữa phập phồng đèn xe
ễnh ương tìm gọi bạn bè
Ru đôi mi mắt nặng nề trong đêm
Bóng ai lặng lẽ bên thềm
Hạt mưa cứ bắn vào thêm với người
Xe nào vội vã về xuôi
Vút qua gửi lại nụ cười bình yên
Xe nào ì ạch đang lên
Hàng chi phủ bạt kín trên thế này?
Những dòng số vội ghi ngay
Những câu hỏi thoáng một giây ùa vào.
Ai đi giữa trận mưa rào
Bọc gì nặng chĩu đeo sau lưng người
Đường đang trơn lắm em ơi!
Hon-đa chớ phóng đùa chơi tử thần
Dõi xa rồi lại trông gần
ánh đèn đã rọi mấy lần vòng quanh
Có con tàu ngược băng nhanh

Càng thêm thôi thúc, càng thêm gọi chờ.
Diệt thù cướp giáo thành thơ
Bảy trăm năm trước bây giờ Chương Dương
Cầu ta tự lực tự cường
Thủ đô vào hội mở đường thông xe
Bốn phương rộng lối đi về
Phúc Tân nối với Bồ Đề từ nay.
Thăng Long đã đẹp rồng bay
Chương Dương vầng sáng sông này vui thêm.
503. Phất cờ đồng khởi thi đua
Thủ đô nổi trống vào mùa dựng xây.
Đất xưa chôn pháo đài bay
Đẹp tươi ngói đỏ từng ngày lên cao
Bàn tay ai xẻ chiến hào
Bây giờ đào móng cho bao ngôi nhà
Mười năm nổi lửa Hồng Hà
Nước non vang dội khúc ca anh hùng
Bây giờ xây cuộc đời chung
Bài ca lao động anh hùng lại vang.
Có sang Thủ Lệ mời sang
Mà xem vườn thú mở mang bốn bề
Sông Hồng ai đắp chân đê
Đường Trần Quang Khải đi về thênh thang
Quỳnh Lôi thoát cảnh nước dềnh
Ai khơi lòng cống cho mình mình ơi!
Thanh Nhàn bùn đọng bao đời
Xây vườn hoa mới mọi người gom tay
Đống Đa hồ cá là đây
Bàn tay tuổi trẻ bao ngày đào sâu
Có qua Tô Lịch cùng nhau

25- Tiền làng Mọc, thóc làng Khoang, khoai lang Triều Khúc, bánh đúc Đơ Bùi
26- Giành Cáo, gạo Vòng
27- Đinh Phú Gia, điền Phú Mỹ
28- Rau Ngô Đạo, gạo Cốc Lương
29- Mạ Đơ Bùi, mùi kẻ Láng
30- Lúa đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ
31- Lợn Tó, gà Trò
32- Thợ Sốm, cốm Vòng
33- Thúng làng Sái, gái làng Hạ, mạ làng Nai, trai làng Gùn
34- Vải La, cà Đăm
35- Kẻ Kỳ gánh cân, kẻ Vân gánh nánh
36- Lắm thóc làng Đàng, lắm vàng làng Keo, lắm cheo Đình Tổ, lắm giỗ Gia Lâm, giàu ngầm
Cổ Biện
37- Bánh cuốn Thanh Trì, bánh dì Quán Gánh
38- Bánh dày làng Kẻ, bánh tẻ kẻ So
39- Bánh đúc làng Kẻ, bánh tẻ làng Diễn
40- Giò Trèm, nem Vẽ, chuối Sù
41- Thóc Lại Yên, tiền kẻ Giá, cá kẻ Canh, bánh dày làng Kẻ, bánh tẻ kẻ So
42- Cháo Dương, tương Sủi, đậu Vụi, cà Hàn
43- Chè quán Dạo, cháo quán Tiên
44- Chè vối Cầu Tiên, bún sen Tứ Kỳ
45- Cơm Văn Giáp, táp Cầu Giền, chè quán Tiên, tiền Thanh Nghệ
46- Bùn Cống Trắng, nắng Khâm Thiên
47- Muỗi Khâm Thiên, tiền Hà Nội
48- Bạc Thổ Quan, gan Trung Tả
49- Lò vật Quỳnh Đô, giỏ cua Cổ Điển
50- Rượu kẻ Mơ, cờ Mộ Trạch
51- Rượu làng Mơ, cá rô đầm Sét
52- Rượu hũ làng Ngâu, bánh đúc trâu làng Tó
54- Nước mắm kẻ Đô, cá rô đầm Sét

85- Làng hình sống trâu, chỉ đãi đâu không đãi rể
86- Bến trúc Nghị Tàm, rừng bàng Yên Thái
87- Thành Cổ Loa, cây đa Dục Tú
88- Ghềnh Bạc, thác Sù.
89- Phật đá Cầu Đông, tượng đồng Trấn Vũ
90- Bánh dày nếp cái, con gái họ Ngô
91- Họ Ngô một bồ tiến sĩ
92- Dốt Đông Ngàn hơn người ngoan thiên hạ
93- Nợ như chúa Chổm
94- Sống canh cửa Tràng Tiền, chết bộ hạ Trung Hiền Kẻ Mơ
95- Sống làm con trai Bát Tràng, chết làm thần hoàng Kiêu Kỵ
96- Chơi với quan viên kẻ Vẽ, không có bát mẻ mà ăn
97- Chơi với kẻ Sổm, không ốm cũng què
98- Rét xuống Sét mà ở, xuống Sở mà đi, xuống âm ti mà nằm
99- Có mặt: ông Tây, vắng mặt: thày tăng
100- Có mặt: chú khách, vắng mặt: thằng Ngô
101- Bút làng Trèm, làng Trèm vẽ; giày làng Kẻ, làng Kẻ đi; việc gì đến Noi, Noi cáo.
102- Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mồng sáu tháng giêng
103- Chết bỏ con cháu, sống không bỏ mồng sáu tháng giêng
104- Cha đánh mẹ treo cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm
105. Râm râm hội Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Gióng
106. Mồng bẩy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu trở về hội Gióng
107. Hội Dâu đã tàn, hội Gióng đã tan, ai còn hồng nhan thì về hội Bưởi
108. Nắng ông Từa, mưa ông Gióng
109. Làng Mọc thờ đầu, làng Cầu thờ chân, Pháp Vân thờ khúc giữa
110. Làng Cầu chém lợn, làng Cự kéo co, làng Ngò chạy ngựa
111. Cỗ Dương Đanh, hành làng Nội, hội làng Lan, tàn làng Quán, hương án làng Đề
112. Cà Hàn, cải Táo, cháo Dương, tương Sủi
113. Trông Chè, mõ Then, kèn Táo, cháo Dương, tương Sủi, củi Đàng, vàng Keo, bèo Trỗ
114. Trống làng Then, kèn làng Táo, giáo mác làng Vụi, tài vật làng Dương, tương ngon làng

128. Hoàng trùng đi, Vi trùng lại; gây tai gây hại chẳng kém gì nhau
129. Quý Đức làm sao, Đăng Bao làm vậy
130. Kiện Gia Lâm, lầm bầm Lệ Chi
131. Đất Sủi ai bì, Thượng thư một ngõ bốn vì hiển vinh
132. Giỗ Quỳnh Lôi, xôi làng Cát
133. Giã gạo thì ốm, giã cốm thì khỏe
134. Đầu mùa đồng trắng nước trong; cuối mùa rau dong, rau dừa.
135. Thóc kẻ Tiên, tiền Đức Hậu
136. Bảo Đại làm hại ăn mày
137. Trai kén vợ giữa chợ Đồng Xuân, gái kén chồng giữa phường Quần Ngựa
Phần Hai
Bảng tra cứu địa danh
Viết tắt: h. huyện
L. làng
ph. phường
q. quận
t. tổng
th. thôn
x. xã
x. xem
ái Mộ 1- th. thuộc x. Bồ Đề, h. Gia Lâm, bờ bắc cầu Long Biên. 2- th. thuộc x. Yên Viên, h.
Gia Lâm.
An Dương khu lao động ngoài đê sông Hồng, bị bom B52 hủy diệt, 12-1972.
An Hòa Còn gọi Yên Hòa. 1- tên nôm l. Giấy ở cạnh Cầu Giấy, thuộc ph. Yên Hòa. 2- th.
thuộc t. Yên Hòa (Hữu Nghiêm cũ), h. Thọ Xương. 3- tên: th. thuộc h. Thọ Xương.
An Nội Có 2 th. An Nội đều thuộc t. Thuận Mỹ, h. Thọ Xương. Còn gọi Yên Nội Cổ Vũ và
Yên Nội Đông Thành (Hàng Da, Hàng Nón bây giờ).
An Phú làng của xã Nghĩa Đô, có nghề kẹo nha, nay thuộc ph. Nghĩa Đô, q. Cầu Giấy.
An Quang Còn gọi Yên Quang, th. thuộc t. Yên Thành, h. Vĩnh Thuận, do nhập 3 th. Quan
Quang, Trấn Vũ. Tân Yên lại (nay là đầu phố Quán Thánh).

Báng Tên nôm của làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn (nay là h. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Báo Lính tên khác của th. Trừng Thanh Trung Bè Hạ, còn gọi Trung Bảo Phiệt, thuộc t. Tả
Túc, h. Thọ Xương (nay là đầu phố Hàng Thùng).
Bảo Khánh th. thuộc t. Thuận Mỹ, h. Thọ Xương, do nhập 2 thôn Báo Thiên Tự và Hữu
Khánh Thụy (nay là phố Bảo Khánh, q. Hoàn Kiếm).
Báo Thiên tên chung của 3 thôn: Báo Thiên Tự, Báo Thiên Chùa Tháp, Báo Thiên Thị Vật, t.
Tiền Túc, h. Thọ Xương: nơi có chùa và tháp Báo Thiên nổi tiếng, sau phá đi xây Nhà Thờ
Lớn (nay là phố Nhà Thờ - cuối Hàng Trống).
Bát Hàng Bát, chỉ chung các phố Bát Sứ (Bát Ngô), Bát Đàn trước thuộc th. Đông Thành,
Nhân Nội, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương.
Bát Ngô, Bát Sứ: Phố cổ chuyên bán đồ sứ Trung Quốc, ở liền phố Bát Đàn bán đồ gốm nội
địa. X. Bát.
Bát Tràng Làng gốm sứ lâu đời ở bờ bắc sông Hồng, nay là xã Bát Tràng, h. Gia Lâm.
Bắc Cầu th. thuộc x. Ngọc Thụy, h. Gia Lâm.
Bắc Hạ tức Cổ Vũ Bắc Hạ - Bắc Thượng Thôn, t. Tiền Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là cuối
phố Tràng Thi).
Bắc Hồng: x. thuộc h. Đông Anh.
Bắc Ninh tên tỉnh ở phía bắc Hà Nội, xưa thuộc trấn Kinh Bắc, có thời kỳ nhập với tỉnh Bắc
Giang thành Hà Bắc, nay là tỉnh riêng.
Bắc Thượng X. Bắc Hạ
Bằng gọi tắt tên l. Bằng Liệt, có 2 xóm Bằng Thượng, Bằng Hạ (nay thuộc x. Hoằng Liệt, h.
Thanh Trì).
Bần tức Bần Yên Nhân, l. thuộc h. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, nay là thị trấn thuộc h. Mỹ Văn,
tỉnh Hưng Yên. Có đặc sản tương ngon.
Bây, Cầu Bây th. thuộc x. Thạch Bàn, h. Gia Lâm.
Bẩy Mẫu hồ lớn thuộc l. Kim Liên, nay ở trong công viên V.I. Lênin.
Bè Hàng Bè, đất thôn Nam Hoa, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương, giáp sông Hồng, có các lán bán
tre nứa đưa từ bè lên mà thành tên.
Bến Cổ tên nôm của Cổ Tân, bến sông Hồng khoảng sau Nhà Hát Lớn.
Bích Lưu th. thuộc t. Tiền Nghiêm, h. Thọ Xương, tên cũ là Bích Du, gần Hỏa Lò.

Cách Tên nôm làng Trúng Đích, xưa là x. Thượng Trì, nay thuộc x. Hạ Mỗ, h. Đan Phượng,
tỉnh Hà Tây.
Cái Sông Cái, x. Hồng.
Cảm Hội Tên do sát nhập 2 thôn Cảm ứng và Yên Hội, t. Thanh Nhàn, h. Thọ Xương (nay
vào đầu phố Nguyễn Công Trứ – Lò Đúc có phố Cảm Hội)
Canh Tên nôm chỉ 2 l. Phương Canh (x. Xuân Phương, h. Từ Liêm) và Vân Canh (xa. Vân
Canh, h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) ở liền nhau, cùng có giống cam ngon.
Cao Tung Núi trong dãy núi ở h. Sóc Sơn.
Cáo Tên gọi tắt 1. Cáo Đỉnh, còn gọi Kẻ Giàn, nay là 1 thôn. thuộc x. Xuân Đỉnh, h. Từ Liêm,
nơi có nhiều thế đất quý.
Cau Hàng Cau, tên nôm của th. Nam Phố, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương, nay là đoạn đầu phố
Hàng Bè, xưa có nhiều hàng cau khô.
Cát Làng Cát Nhị, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, dân ra trú ở Quỳnh Lôi.
Cấm chỉ Tên cũ của ngõ Hàng Bông gần Cửa Nam.
Cầu 1- Chợ Cầu, tức chợ Cầu Đông (nay là Đồng Xuân) xưa có Phật đá trắng tạc thời Lê
Trung Hưng ở đầu cầu qua sông Tô. 2- Lủ Cầu, têm môm l. Kim Giang, x.Đại Kim, h. Thanh
Trì. 3- Thạch Cầu, nay thuộc x. Thạch Bàn, h. Gia Lâm, có tục chém lợn tế thần ngày hội làng
11 tháng 2 lịch âm.
Cầu Giền bắc qua sông Kim Ngưu ở đầu phố Bạch Mai, Ngã tư Bạch Mai - Phố Huế - Trần
Khát Chân - Đại Cồ Việt gọi là Ô Cầu Giền, vốn là cửa ô Thịnh Yên cũ.
Cầu Gỗ Cầu bắc qua con ngòi nối hồ Thái Cực (Hàng Đào) với Hồ Gươm xưa, sau lấp đi làm
phố mang tên này.
Cầu Nôm Tên nôm l. Đại Đồng, chuyên đi mua đồng nát, nay thuộc Hưng Yên.
Cây Thị Dốc trên phố Bà Triệu, gần ngã năm Nguyễn Du.
Chanh Ngã ba Chanh, chưa rõ ở đâu.
Cha Nghi l. Nghi Tàm, nay thuộc ph. Quảng An, q. Tây Hồ.
Chân Cầm Tên phố ở trên đất 2 th. Chân Tiên và Minh Cầm, h. Thọ Xương.
Châu Cầu Châu, chưa rõ ở đâu. Theo Hoàng Đạo Thúy, chùa Châu Long xây trên gò Hòn
Châu, xưa Hồ Tây thông với sông, ở đây có bến Châu (Châu Chử), có thể có cầu chăng?
Châu An Còn gọi Châu Yên, th. Thuộc tổng Yên Thành, h. Vĩnh Thuận, do nhập 2 th. Châu

Cổ Lương th. thuộc t. Hậu Túc (sau là t. Đồng Xuân), h. Thọ Xương, có đình cổ xưa học trò
thường đến trọ (nay ở số 28 Nguyễn Văn Siêu).
Cổ Nhuế Tên nôm là Kẻ Noi, có nghề hót phân bón ruộng, nay thuộc h. Từ Liêm.
Cổ Pháp Tên cổ của l. Đình Bảng, nơi có lăng 8 đời vua Lý (nay thuộc h. Tiên Sơn, tỉnh Hà
Bắc).
Cổ Tân X. Bến Cổ
Cổ Vũ h. Thọ Xương có 5 th. Cổ Vũ: Cổ Vũ Bắc Thượng – Bắc Hạ thôn, (X. Bắc Hạ), Cổ Vũ
Hạ, Thượng, Trung và Yên Nội cùng thuộc t. Tiền Túc (nay là khu vực Hàng Da).
Cơ Xá Làng bãi do sáp nhập 6 thôn Thủy cơ cùng bãi ven sông Hồng (nay là đường Bạch
Đằng – Phúc Tân).
Cuốc Hàng Cuốc, một phố cũ có nhiều nhà bán cuốc, trên đất th. Tân Khai, l. Tiền Túc, h.
Thọ Xương (nay là đoạn cuối phố Hàng Vải).
Cự Tên tắt l. Cự Linh – Ngọc Trì, nay thuộc xã Thạch Bàn, h. Gia Lâm, có Hội kéo co ngày
11 – 12 tháng 2 âm lịch.
Cửa Đông Cửa Đông thành cổ (nay ở cuối phố Cửa Nam, giáp phố Phùng Hưng).
Cửa Nam Cửa Nam thành cổ (Nay là khu vực phố và chợ Cửa Nam).
Cựu Lâu Th. thuộc t. Đông Thọ, h. Thọ Xương, do sáp nhập các thôn Hậu Bỉ, Hậu Lâu, Kho
súng (nay là giữa phố Lý Thái Tổ, Ngô Quyền).
Da Hàng Da, đất thôn Cổ Vũ Yên Nội, xưa có bán các loại da trâu bò thuộc.
Dài Núi Dài, dãy núi có nhiều ngọn như Bàn Cờ, Trảm Tướng, Cao Tung, Mũi Cày, Đụn Rạ
ở phía tây h. Sóc Sơn, chân núi Tam Đảo.
Dạo Quán Dạo, nay thuộc x. Đức Giang (Trôi), h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
Dâu 1- Tên sông ở x. Xuân Canh, h. Đông Anh, nợi hợp lưu sông Đuống và sông Hồng, bến
Dâu là bến Xuân Canh. 2- Tên nôm làng Khương Tự, h. Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, hội Chùa
Dâu vào ngày 8 tháng 4 lich âm.
Dịch Vọng x. thuộc h. Từ Liêm, gồm 3 th.: Tiền, Trung, Hậu (nay là ph. Quan Hoa và ph.
Dịch Vọng, q. Cầu Giấy.
Diễn Vùng Kẻ Diễn gồm các l. Phú Diễn, Đức Diễn, Đình Quán, Kiều Mai, Ngọc Long,
Nguyên Xá, Văn Trì nay thuộc xã phú Diễn và Minh Khai, h. Từ Liêm. Thị trấn Cầu Diễn
mới lập cũng trên đất này.

Đàng Tên nôm làng Sen Hồ, còn gọi là làng Sen, Liên Đường hoặc l. Tiếu (nay là l. th. của x.
Lệ Chi, h. Gia Lâm).
Đào Hàng Đào, x. Đại Lời.
Đào Thục, Đào Xá Các tên gọi khác của l. Dền, có nghề múa rối nước cổ truyền (nay là l. th.
thuộc x. Thụy Lâm, h. Đông Anh).
Đăm Tên nôm l. Tây Tựu, h. Từ Liêm, làng rau quả nổi tiếng và có Hội bơi chải vào ngày 9
tháng 3 lịch âm.
Đầm 1- Một xóm của l. Khán Xuân, phía nam Bách Thảo, xưa có loại rau ngổ trắng thơm
mát. 2- Tên gọi khác của l. Đại Từ vì có đầm Đại lớn, (nay là khu vực Linh Đàm).
Đậu Hàng Đậu, xưa bán các loại đỗ, đậu hạt, thuộc đất th. Phúc Lâm, t. Tả Túc và th. Nghĩa
Lập, t. Hữu Túc, h. Thọ Xương. Tiến sĩ Lê Đình Duyên mở trường Cúc Hiên ở đây.
Đê Gọi tắt l. Đê Trụ, nay thuộc x. Dương Quang, h. Gia Lâm.
Điếu Hàng Điếu, đất th. Yên Nội, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương, xưa bán các loại điếu hút thuốc
lào.
Đình Dù x. Thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên, còn là tên ga xe lửa Hà Nội - Hải Phòng.
Đình Gừng tên nôm làng Khương Hạ. x. Khương Đình, h. Thanh Trì (nay thuộc ph. Khương
Đình, q. Thanh Xuân).
Đình Tổ Một làng thuộc h. Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi có chùa Bút Tháp nổi tiếng.
Định Công xã gồm 2 thôn: Định Công Hạ xưa có nghề đan gối mây và trồng ớt và Định Công
Thượng, còn gọi Định Công kim hoàn có nghề làm đồ vàng bạc nổi tiếng. (Nay thuộc huyện
Thanh Trì).
Đoài 1- Phía Tây, chỉ xứ Đoài (Sơn Tây). Từ Liêm cũ thuộc phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây. 2-
Một th. thuộc l. Yên Thái (Bưởi).
Đoài Môn l. nhỏ chạy dài ven bờ đông sông Tô, trước thuộc x. Nghĩa Đô, h. Tf Liêm (nay là
ph. Nghĩa Đô, q. Cầu Giấy).
Đoan Nha thương chính của Pháp trước đây (nay là Viện bảo tàng Cách mạng).
Đô 1- Kẻ Đô, tức l. Quỳnh Đô, đất vật lâu đời (nay thuộc x. Vĩnh Quỳnh, h. Thanh Trì).
2-Đền Đô còn gọi đền Lý Bát Đế ở hương Cổ Pháp xưa, nay là xã Đình Bảng.
Độc Tôn Tên ngọn núi phía đông dãy Tam Đảo.
Đôi Sông Đôi, chưa rõ ở đâu.

Đông Thái Phố cổ gần Chợ Gạo, Mã Mây, xưa ở gần cửa sông Tô, còn có lúc gọi là ngõ Hàng
Trứng.
Đông Thành một th. thuộc t. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là Hàng Bát Sứ, Hàng Vải, Hàng
Nón).
Đông Thọ Một th. thuộc t. Hữu Túc (sau là Đông Thọ), có tên cũ là ph. Đông Các (nay là
Hàng Bạc).
Đông Trạch Thôn thuộc x. Ngũ Hiệp, h. Thanh Trì.
Đồng Hàng Đồng, phố cổ, thuộc đất thôn Yên Phú, t. Tiền Túc, h. Thọ Xương có nhiều nhà
bán đồ đồng là dân l. Cầu Nôm đến ở.
Đồng Cổ 1- Đền Đồng Cổ ph. Bưởi, q. Tây Hồ. 2- Hội Đồng Cổ x. Minh Khai, Từ Liêm.
Đồng Khánh tên cũ của phố Hàng Bài thời Pháp thuộc.
Đồng Lạc Một ph. thuộc t. Tiền Túc, h. Thọ Xương (nay là chỗ giáp Hàng Đào - Hàng
Ngang).
Đồng Lầm Tên nôm l. Kim Liên, trước còn gọi ph. Kim Hoa, t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương, có
nghề nhuộm nâu. Cửa ô Kim Kiên còn gọi Ô Đồng Lầm.
Đồng Nhân 1- Vốn là tên một làng ven sông Hồng, sau đất lở dần dời vào l. Hoa Viên (sau là
Hương Viên). t. Hậu Nghiêm (sau là Thanh Nhàn) nơi có đền thờ Hai Bà Trưng dời đến, quen
gọi là đền Đồng Nhân, hội vào ngày 6 tháng 2 lịch âm.
2-Đồng Nhân, x. Hải Bối, h. Đông Anh, thờ các tướng của Hai Bà Trưng cũng mở hội Đồng
Nhân.
Đồng Thuận Thôn thuộc t. Hậu Túc, h. Thọ Xương (nay là Hàng Cá).
Đồng Xuân Chợ to nhất Hà Nội, cũng là tên ph. thuộc tổng Hậu Túc (sau là Đồng Xuân) h.
Thọ Xương.
Đống Gọi tắt l. Đống Ba, nay thuộc xã Thượng Cát, h. Từ Liêm.
Đống Cao Còn gọi Giang Cao, một thôn của x. Bát Tràng, h. Gia Lâm.
Đống Đa Vùng đất có nhiều gò đống trên có nhiều đa ở phía bắc l. Khương Thượng, nơi võ
trường thời Hậu Lê. Quân Thanh sang chiếm Thăng Long, dựng doanh trại trên phía tây ở đây
và bị quân Tây Sơn đánh tan sáng ngày 5 Tết Kỷ Dậu 1789.
Đổng Viên Tên nôm là l. Gióng Mốt, nay thuộc x. Phù Đổng, h. Gia Lâm, nơi có đền Hạ, còn
gọi đền Mẫu thờ bà mẹ ông Gióng.

Giá Tên nôm l. Yên Sở, h. Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, có Quán Giá thờ Lý Phục Man, hằng năm
mở hội rước rất to, vào ngày 10 tháng 3 lịch âm.
Giả Kẻ Giả, tên gọi chung 3 làng: ích Vịnh (Giả Viềng), Quỳnh Đô (Giả Quỳnh) và Vĩnh
Ninh (Giả Vĩnh) nay thuộc x. Vĩnh Quỳnh, h. Thanh Trì.
Giai Cảnh ph. thuộc t. Thượng, h. Vĩnh Thuận, có tên cũ là Hòe Nhai (nay là giữa Hàng
Than).
Giàn 1- Tên nôm l. Trung Kính Hạ, giỏi thâm canh lúa và có nghề làm hương (nay thuộc ph.
Trung Hòa, q. Cầu Giấy). 2- Kẻ Giàn tức làng Kiêu, Cáo Đỉnh, X. Cáo.
Giám Tên gọi chung các th. Hậu Giám, Hữu Biên Giám, Tả Biên Giám, Hữu Giám Thị, t.
Hữu Nghiêm, h. Thọ Xương (nay là khu vực Văn Miếu, đầu Hàng Bột, Thanh Miến).
Giang Biên X. bên sông Đuống, h. Gia Lâm.
Giang Cao Làng bên bờ bắc sông Hồng, giáp l. Bát Tràng (nay là 1 th. của x. Bát Tràng, h.
Gia Lâm).
Giảng Vũ Còn gọi Giảng Võ, một trong “thập tam Trại”, t. Nội, h. Vĩnh Thuận, xưa có trường
dạy võ, huấn luyện quân sĩ (nay còn làng ở giữa phố Giảng Võ, đình thờ Bà Chúa Kho Nàng
Châu).
Giao Tự Tên nôm là l. Chè, ở cạnh sông Đuống (nay là 1 th. của x. Kim Sơn, h. Gia Lâm).
Giáo Phường Thôn thuộc t. Tả Nghiêm, h. Thọ Xương có phường hát ca trù cư ngụ (nay là
giữa phố Huế).
Giáp Nhị Th. thuộc x. Thinh Liệt, h. Thanh Trì.
Giày 1- Hàng Giày, phố ngắn bên bờ sông Tô xưa, còn gọi Hài Tượng, có nhiều hàng đóng
giày dép da do người l. Chắm (Tứ Kỳ, Hải Dương) đến hành nghề. 2- Tên nôm l. Hạ Trì (nay
thuộc x. Liên Trung, h. Đan Phượng, tỉnh Hà Tây).
Giâm Tên nôm một th. thuộc x. Thụy Lâm, h. Đông Anh.
Giấy 1- Hàng Giấy, phố trên đất ph. Đồng Xuân, t. Hậu Túc (sau là Đồng Xuân) thời Pháp
thuộc có nhiều nhà hát ả đào, xa xưa bán các loại giấy bản, giấy sắc, giấy lệnh do các làng
giấy Bưởi, Cót làm ra. 2- X. Cót.
Giò Xưa có phố Hàng Giò, chỉ một đoạn phía bắc phố Bà Triệu. Còn Quán Giờ bên sông Tô
chưa rõ ở đâu.
Gióng Tên nôm l. Phù Đổng, bên bờ bắc sông Đuống, quê hương ông Gióng, có đền thờ lớn

20- Nhớ và ghi Nguyễn Công Hoan TPB H.1978
21- Thăm làng Tó Trần Lê Văn HVNHN H. 1983
22- Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Hoàng Đạo Thúy HVNHN H.1971
23- Thủ đô Hà Nội Giang Quân Sở VHTTHT H.1984
24- Trần Phú trên đường cách mạng ntg Đảng bộ TP 1990
25- Trên mảnh đất Cổ Loa Trần Quốc Vượng Sở VHTTHN H. 1970
26- Truyền thuyết ven Hồ Tây ntg HVNHN H. 1975
27- Từ sông Tô đến sông Nhuệ Đỗ Thỉnh NXBHN H. 1986
28- Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam Vũ Ngọc Phan XBKHXH H. 1978
29- Tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Tây ntg Ty VHTT HT 1975
30- Tục ngữ phong dao Việt Nam Ng. Văn Ngọc Minh đức H. 1957
31- Tục ngữ Việt Nam ntg XBKHXH H. 1975
32- Văn học dân gian Đinh Gia Khánh - Chu X. Diên ĐHTHCH H. 1972
33- Vùng ven sông Nhị ntg NXBHN H. 1979
34- Lễ hội Thăng Long ntg Hà Nội H. 2000
35- Ca dao ngoại thành ntg Sở Văn hóa H. 1967
36- Ca dao Huyền Tâm Giang Quân sưu tầm Sở VHTT H. 1994
37-Tiếng hát quê ta Sưu tập của Giang Quân Sở VHTT ấn hành 1958-1972.
Các báo, tạp chí, tập san xuất bản trong nước từ 1940 đến 2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status