Câu 1:
*Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp :
- 18/6/1919 các nước đế quốc họp ở Véc-xai để chia lại thị trương thế giới, Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêu
sách đòi quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam.
=> Những yêu sách đó tuy không được chấp nhận, nhưng việc làm của Nguyễn Ái Quốc có tiếng vang lớn
đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp, và nhân dân các thuộc địa Pháp
-Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa của Lê-nin
=>Luận cương của Lê-nin khẳng định lập trường của Quốc tế cộng sản là kiên quyết ủng hộ phong trào
giải phóng dân tộc ở các nước Đông Dương.Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin theo Lê-nin, đứng về
Quốc tế thứ Ba.
-Tháng 12/1920 tại đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia
nhập Quốc tế thứ Ba và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp.
=>Đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước
đến với chủ nghĩa Mác- Lê-nin
- Năm 1921 Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp
thuộc địa ở Pa-ri
=> Để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân.
- Nguyễn Ái Quốc tham gia xây dựng báo “Người cùng khổ” vào năm 1922. Nguyễn Ái Quốc còn viết
nhiều bài đăng trên báo “Nhân đạo”, “ Đời sống công nhân”.Tiêu biểu nhất là cuốn “Bản án chế độ thực
dân Pháp”
*Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô :
-6/1923 Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân và được bầu vào Ban chấp
hành.Sau đó, Người ở lại Liên Xô một thời gian, vừa làm việc, vừa nghiên cứu học tập
-Tháng 7/1924, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản và đọc tham luận tại Đại hội
=> Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian này chủ yếu trên mặt trận tư tưởng-chính trị
nhằm truyền bà chủ nghĩa mác-Lê-nin và nước ta
*Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc :
- Tháng 11/1924 Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô trở về Quảng Châu (Trung Quốc) để tập hợp những người
yêu nước Việt Nam, truyền bá giáo dục cho họ chủ nghĩa Mác – Lê-nin
- Tháng 6/1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”.Tiến hành: huấn luyện
- Cuối năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh , trong đó giai cấp công
nhân thực sự trở thành lực lượng tiên phong.
- Ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời năm 1929 hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng với nhau,
làm phong trào cách mạng trong nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn => Tình trạng ấy sẽ gây tác hại lớn đến lợi
ích chung của cách mạng, vì vậy đòi hỏi cấp bách của phong trào Việt Nam là phải có một đảng cộng sản
thống nhất mới có thể đương đầu được với đế quốc, phong kiến và đưa cách mạng tiến lên
- Nguyễn Ái Quốc với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức
cộng sản tại Cửu Long ( Hương Cảng, Trung Quốc)từ ngày 3 đến 7/2/1930
*Ý nghĩa của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam:
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam
trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thời đại mới.
- Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Chứng tỏ giai cấp vô sản
nước ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kì khủng hoảng về vai trò lãnh đạo và
trong đường lối trong phong trào của cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng giarp phóng dân tộc của
nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của Cách mạng thề giới.
- Đảng cộng sản Việt Nam thành lập là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bươc
phát triển nhảy vọt mới trong lích sử cách mạng Việt Nam
Câu 4:
Diễn biến của phong trào Xô Viết Nghệ-Tĩnh:
Nghệ- Tĩnh là nơi có phong trào phát triển mạnh mẽ nhất. Tháng 9/1930, phong trào công nông đã
phát triển tới đỉnh cao. Khẩu hiệu đấu ranh chính trị được kết hợp với các khẩu hiệu kinh tế. Các cuộc đấu
tranh diễn ra quyết liệt, Quần chúng vũ trang tự vệ, biểu tình thị uy vũ trang, tấn công vào chình quyền
địch ở địa phương. Điển hình là cuộc biểu tình của nông dân ở Hưng Nguyên(Nghệ An), tiếp đó là các
cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương, Diễn Châu(Nghệ An), Hương Sơn( Hà Tĩnh), phá huyện
lị, nhà giam, ga xe lửa, cắt dây điện tín, phá đồn điền Pháp. Công nhân Vinh- Bến Thủy bãi công để ủng hộ
phong trào của nông dân và phản đối chính sách khủng bố của địch. Đỉnh cao : 12/9/1930
Câu 5:
*Ý nghĩa của phong trào Dân tộc dân chủ trong những năm 1936-1939:
khóa
Lực lượng
tham gia
Chủ yếu là công- nông Đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân
biệt giai cấp, tôn giáo, chính trị
Địa bàn Nông thôn và các trung tâm công
nghiệp
Chủ yếu ở thành thị
Câu 6:
Nguyên nhân bùng nổ của các cuộc khởi nghĩa :
Khởi nghĩa Nguyên nhân
Bắc Sơn Ngay 22/9/1940, Nhật chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn. Pháp
đầu hàng, rút chạy về Thái Nguyên
Nam Kì Tháng 11/1940, Xảy ra cuộc xung đột giữa Pháp và Thái Lan. Chính Quyền thực dân
Pháp bắt thanh niên Việt Nam và Cao Miên đi làm bia đỡ đạn. Nhân dân Nam kì và
binh lính phản đối
Binh biến Đô
Lương
Binh lính người Việt trong quân đội Pháp phản đối việc Pháp đưa họ sang Lào đánh
nhau với quân Thái Lan
Câu 7: Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cm tháng 8:
* nguyên nhân:
- Dân tộc VN vốn có truyền thống yêu nc sâu sắc, đã đấu tranh kiên cường bất khuất từ ngàn xưa cho độc
lập, tự do
- Có khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được mọi lực lượng yêu nước trong một mặt trận dân
tộc thống nhất rộng rãi, lại biết kết hợp tài tình đấu tranh vũ trang chính trị, đấu tranh du kích với khởi
nghĩa từng phần ở nông thôn.
- Hoàn cảnh quốc tế thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ 2 đang đi đến hồi kết thúc, Hồng quân Liên Xô và
quân Đồng minh đã đánh bại phát xít Đức - Nhật, góp phần quyết định vào thắng lợi của các lực lượng hòa
bình, dân chủ trên thế giới.
Câu 11:
*) Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947:
Diễn biến: Thực hiện chỉ thị của Trung ương, khắp các mặt trận quân dân ta anh dũng chiến đấu, tiêu diệt
sinh lực địch, bẻ gãy các gọng kìm của chúng.
Tại Bắc Cạn, ngay từ đầu quân ta đã chủ động phản công, tiến công quân địch, tiến hành bao vây, cô lập,
giam chân địch, tổ chức tập kích vào những nơi địch chiếm đóng, phục kích trên đường Bắc Cạn đi Chợ
Mới, Chợ Đồn. Vừa đánh quân địch, quân ta vừa bí mật di chuyển các cơ quan TƯ Đảng, Chính phủ, các
công xưởng kho tàng từ nơi địch chiếm đóng hoặc uy hiếp đến nơi an toàn.
+ Tại hướng Đông, quân ta chặn đánh trên Đường số 4, tiêu biểu là trận Đường Bản Sao-Đèo Bông
Lau (30/10/1947).
+ Ở hướng Tây, quân ta chặn đánh trên tuyến sông Lô.
Kết quả: Cuộc chiến đấu 75 ngày đêm đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của quân Pháp khỏi Việt Bắc. Căn
cứ địa Việt Bắc trở thành “mồ chôn giặc Pháp”. Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo toàn. Bộ đội chủ
lực ngày càng trưởng thành.
Ý nghĩa: Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947 thắng lợi đã làm thấ bại âm mưu “ đánh nhanh thắng
nhanh” của TD Pháp, buộc chúng phải tiến hành đánh lâu dài với ta. Là điều kiện để quân ta có cơ hội
củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, đồng thời bảo toàn được căn cứ địa Việt Bắc có chiến lược
quan trọng.
*) Chiến dịch biên giới Thu-Đông 1950:
Diễn biến: Với lực lượng áp đảo, quân ta tiêu diệt Đông Khê ( sáng 18/9/1950), uy hiếp Thất Khê, thị xã
Cao Bằng bị cô lập; hệ thống phòng ngự của quân địch trên tuyến đường số 4 bị lung lay.
Quân Pháp ở Cao Bằng được lệnh rút lui theo đường số 4, đồng thời lực lượng của chúng tại Thất Khê
được lệnh đánh lên Đông Khê chờ quân từ Cao Bằng về sẽ cùng rút về xuôi.
Đoán được ý đồ đó, quân ta chặn đánh trên đường số 4, hai cánh quân ở Cao Bằng và Thất Khê bị
thiệt hại nặng nên không thể liên lạc được với nhau. Đến lượt Thất Khê bị uy hiếp thì quân Pháp tiến hành
rút về Na Sầm rồi Lạng Sơn, cuối cùng là rút khỏi đường số 4 vào 22/10/1950.
Kết quả: Sau hơn 1 tháng chiến đấu trên biên giới (16/9 - 22/10/1950), quân ta đã giải phóng được biên
giới Việt-Trung dài 750 km từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân. “Hành lang Đông-Tây” bị chọc
thủng tại Hòa Bình.
Ý nghĩa: Thế bao vây cả trong lẫn ngoài của địch đối với căn cứ địa Việt-Bắc bị phá vỡ. Kế hoạch Rơ-ve
kẻ thù chung, được đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ
nhân dân khác, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ.
Câu 12: *)Những nét chính về Hiệp định Giơ-ne-vơ: Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương chính thức
khai mạc vào 8/5/1954 và bắt đầu thảo luận về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tham dự Hội nghị
có Anh, Pháp, Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc và các nước có liên quan ở Đông Dương. Đoàn VN do Phó Thủ
tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. Cuộc đấu tranh trên bàn Hội nghị
diễn ra rất gay gắt và phức tạp do lập trườn ngoan cố của Pháp và Mĩ. Đến 21/7/1954, Chính phủ VN Dân
chủ Cộng hoà kí Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm giứt chiến tranh ở Đông Dương. Hiệp định có nội dung cơ
bản như sau:
+Các nước tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân 3 nước VN,
Lào, Cam-pu-chia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
+Hai bên tham chiến (lực lượng kháng chiến ở các nước Đông Dương và lực lượng xâm lược Pháp)
cùng ngừng bắn, lập lại hoà bình trên Đông Dương.
+Hai bên tham chiến thực hiện cuộc di chuyển, tập kết quân đội tại 2 vùng: quân đội cách mạng VN
và quân đội xâm lựơc Pháp tập kết ở 2 miền Bắc và Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời.
+VN tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử trong cả nước, sẽ diễn ra vào 7/1956 dưới sự kiểm
soát của 1 Uỷ ban quốc tế
*) Ý nghĩa: Hiệp định Giơ-ne-vơ cùng chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã chấm dứt chiến tranh xâm
lược của TD Pháp và can thiệp của Mĩ ở VN và Động Dương. Hiệp định Giơ-ne-vơ là văn bản pháp lí
quốc tế ghi nhận quyền dân tộc cơ bản của các nước Đông Dương và được các nước tham dự Hội nghị cam
kết tôn trọng. Với Hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp buộc phải rút hết quân về nước, Mĩ thất bại trong âm mưu
mở rộng, kéo dài và quốc tế hoá chiến tranh xâm lược Đông Dương; Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải
phóng, chuyển sang giai đoạn CM xã hội chủ nghĩa.
Câu 13: Chiến đấu chống Chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ và VN hoá chiến tranh
của Mĩ.
*) Chiến đấu chống Chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mĩ (1961-1965):
- Thực chất là Mĩ thực hiện âm mưu dùng người Việt để đánh người Việt. Mĩ sử dụng lực lượng quân đội
tay sai, do cố vấn Mĩ làm chỉ huy, cùng với các loại vũ khí, trang bị kĩ thuật và các phương tiện chiến tranh
của Mĩ. Trọng tâm của chúng là lập “ấp chiến lược”, đi đến “bình định” miền Nam.
-Chiến đấu chống chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mĩ: Quân ta đấu tranh dưới ngọn cờ lãnh đạo của
ta mở cuộc tiến công vào đêm30, rạng sáng 31/ 1/1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân). Quân ta mở cuộc
tấn công vào 37 trong số 44 tỉnh thành, 4 trong số 6 đô thị lớn, 64 trong số 242 quận lị, ở hầu khắp các “ấp
chiến lược”, các vùng nông thôn. Tại Sài Gòn, quân ta đánh vào các vị trí đầu não của địch như toà Đại sứ
Mĩ, Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất
=> Ý nghĩa: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 có ý nghĩa vô cùng to lớn, làm lung lay ý
chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “Phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược (tức thừa nhận thất bại
trong chiến lược Chiến tranh cục bộ ), chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận
đàm phán với ta ở Pa-ri để bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh.
*) Chiến đấu chống chiến lược VN hoá chiến tranh và Đông Dương hoá chiến tranh của Mĩ (1969-
1973).
- Thực chất là âm mưu Mĩ dùng người Việt để đánh người Việt, dùng người Đông Dương để đánh người
Đông Dương. Chúng sử dụng lực lượng chủ yếu là quân đội Sài Gòn kết hợp với hoả quân và không quân
Mĩ do cố vấn Mĩ làm chỉ huy, sử dụng lực lượng xung kích Đông Dương để mở rộng chiến tranh ra Đông
Dương.
-Chiến đấu chống chiến lược VN hoá chiến tranh và Đông Dương hoá chiến tranh: Ngày 6/6/1969, Chính
phủ CM lâm thời cộng hoà miền Nam VN ra đời. Trước tình hình cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
đang trên đà thắng lợi thì ngày 2/9/1969, Chủ tịch HCM đột ngột qua đời, để lại cho dân tộc ta bản di chúc
lịch sử. Nhân dân ta biến đau thương thành sức mạnh, quyết tâm ra sức đẩy mạnh kháng chiến chống Mĩ,
cứu nước. Trong 2 năm 1970-1971, quân và dân 3 nước VN, Lào, Cam-pu-chia có những thắng lợi có ý
nghĩa vô cùng quan trọng đối với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị.
Trong hai ngày 24 và 25 /4/1970, Hội nghị cấp cao ba nước VN, Lào, Cam-pu-chia họp để biểu thị
quyết tâm của nhân dân ba nước đoàn kết chiến đấu chống chiến tranh Mĩ mở rộng ra Đông Dương.
Từ ngày 30/4 đến 30/6/1970, quân đội VN có sự phối hợp với quân dân Cam-pu-chia đánh tan cuộc
hành quân xâm lược Cam-pu-chia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, giải phóng được nhiều vùng
đất đai rộng lớn với 4,5 triệu dân.
Từ ngày 12/2 đến ngày 23/3/1971, quân đội VN có sự phối hợp với quân dân Lào đã đánh tan cuộc
hành quân mang tên “Lam Sơn-719” nhằm chiếm dữ Đường 9-Nam Lào của 4,5 vạn quân Mĩ và quân đội
Sài Gòn, quét hết số quân Mĩ và quân đội Sài Gòn ra khỏi Đường 9-Nam Lào , giữ vững được hành lang
chiến lược của cách mạng Đông Dương.
Thắng lợi trên mặt trận quân đội đã hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, chống “bình
+Hoa Kì rút hết quân đội của mình và quân đồng minh, huỷ bỏ các căn cứ quân sự của Mĩ, cam kết
không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào các công việc nội bộ của miền Nam VN.
+Nhân dân miền Nam VN tự quyết tương lai chính trị của họ bằng cuộc tổng tuyển cử tự do, không
có sự can thiệp của nước ngoài.
+Các bên thừa nhận miền Nam Vn có 2 chính quyền, 2quân đội, 2 vùng kiểm soát tự do và 3 lực
lượng chính trị.
+Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.
+Hoa Kì cam kết góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh ở VN và ở Đông Dương.
=> Ý nghĩa: Hiệp định Pa-ri về VN (được Hội nghị 12 nước họp ngày 2/3/173 tại Pa-ri công nhận về mặt
pháp lí quốc tế) là kết quả của cuộc đấu tranh anh dũng và kiên cường của nhân dân ta ở hai miền đất
nước. Với Hiệp định Pa-ri, Mĩ buộc phải rút hết quân đội về nước và công nhận các quyền dân tộc cơ bản
của nhân dân ta. Đó là thắng lợi lịch sử hết sức quan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên giải
phóng toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.
Câu 15: Em hãy trình bày diễn biến, kết quả của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 và ý
nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lơi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước năm 1954 – 1975?
Trả lời:
a) Diễn biến: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 diễn ra trong gần 2 tháng từ ngày 4-3 đến ngày 2-
5, phát triển qua 3 chiến dịch lớn:
*Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3-1975)
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng:
- Thực hiện kế hoạch, ta tập trung lực lượng mạnh với vũ khí kĩ thuật hiện đại mở chiện dịch quy mô
lớn ở Tây Nguyên với trận then chốt mở màn Buôn Ma Thuột
- Ngày 4-3, ta đánh nghi binh ở Plâycu, Kom Tum. Ngày 10-3-1975, với lực lượng mạnh hơn địch,
quân ta tiến công Buôn Ma Thuột và giành thắng lợi nhanh chóng (11-3-1975)
- Ngày 12-3-1975 địch phản công tái chiến Buôn Ma Thuột nhưng thất bại. Hệ thống phòng thủ của
địch ở Tây Nguyên rung chuyển, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ rối loạn.
- Ngày 14/3/1975 địch bắt đầu rút lui khỏi Tây Nguyên, trên đường rút chạy, chúng bị quân ta truy
kích tiêu diệt.
- Đến ngày 24/3/1975 chiến dịch kết thúc, Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn dân được giải phóng
- Chiến dịch Tây Nguyên được thắng lợi đã chuyển cuộc kháng chiến của ta từ tiến công chiến lược,
chiến chống Mĩ cứu nước.
- Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịc sử 4000 năm của dân tộc.
- Mở ra một ki/ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỉ nguyên cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất và đi
lên Chủ nghĩa xã hội.
- Làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mĩ, tạo điều kiện thuận lợi cho phòng trào cách mạng thế giới phát
triển. Đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Cam-pu-chia và cách mạng Lào, tiến lên giải
phóng đất nước năm 1975.
d) Nguyên nhân thắng lợi:
- Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Thể hiện rõ đường lối quân sự đúng đắn.
- Phát huy được sức mạnh toàn dân. Tiêu biểu là sự đoàn kết của quân dân 2 miền Nam, Bắc.
Câu 16:
* Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã trải qua các bước:
- Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng lần thứ 24 ( họp tháng 9/1975) đề ra nhiệm vụ hoàn thành
thống nhất đất nước về mặt Nhà nước
- Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước về mặt Nhà nước họp tại Sài gòn ( Từ ngày 15 đến
ngày 21/11/1975) đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương thống nhất đất nước về mặt Nhà nước của Đảng
- Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung ( khóa VI) được tiến hành trong cả nước ngày 25/4/1976
- Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất họp kì đầu tiên tại Hà Nội ( từ ngày 24/6 đến ngày
3/7/1976) đã bầu các cơ quan, thông qua chính sách đối nội, đối ngoại của nươc Việt Nam thống nhất.
* Quyết định của kì họp đầu tiên Quốc hội khóa VI:
- Thông qua chính sách đối nội đối ngoại
- Quyết định lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( từ ngày 2/7/1976), Quốc huy mang dòng chữ
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Quốc kì là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài “ Tiến quân ca”
- Quyết định thủ đô là Hà Nội, thành phố Sài Gòn-Gia Định đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
- Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Bầu Ủy ban dự thảo Hiến pháp
- Ở địa phương, tổ chức thành ba cấp chính quyền: cấp tỉnh và cấp thành phố trực thuộc Trung ương, cấp
xã và tương đương, cấp huyện và tương đương.
Câu 17: Em hãy nêu rõ những thông tin về các kì Đại hội đại biểu toàn quốc từ lần thứ
I đến lần thứ VI của Đảng?
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV:
- Họp tại Hà Nội vào tháng 12-1976 đã đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước,
quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm (1967-1980)
- Tổng kết quà trình 21 năm xây dựng XHCN ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Nêu rõ sự tất
yếu và tầm quan trọng của việc cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội au khi kháng chiến chống Mĩ kết thúc
thắng lợi. Trong Đại hội này, Đảng quyết định khôi phục lại tên cũ là Đảng Cộng sản VN.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V:
- Họp vào tháng 3-1982 khẳng định tiếp tục đường lối xây dựng xã hội trong phạm cả nước do Đại hội IV
đề ra, nhưng có sự điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hoá cho từng chặng đường, giai đoạn đẻ phù hợp với hoàn
cảnh cụ thể .
- Đại hội V xác định thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trải qua nhiều chặng, gồm chặng đường
đầu tiên và nhuẽng chặng đường tiếp sau.
- Đại hội quyết định phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm (1981-1985)
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI: Tháng 12-1986
- Đổi mới đất nước đi lên chũ nghĩa xã hội chủ nghĩa không phải thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà
làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội,
những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.
- Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, từ KT, CT đến tổ chức, tư tưởng, văn hoá, đổi mới KT găn liền với
đổi mới chính trị nhưng trọng tâm là đổi mới về KT.