Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH - Pdf 17

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên
CNXH
I. Câu 5 : Tính tất yếu , đặc điểm cơ bản của thờI kì quá độ lên CNXH.Các kiểu quá
độ lên CNXH
Trả lờI :
*Tính tất yếu :
-Là một tất yếu lịch sử :
+ CNXH là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế _xã hộI cộng sản CN không thể tự
phát ra đờI trong lòng xã hộI cũ .
+ Xây dựng XHCN phảI thông qua quá trình đấu tranh gian khổ của sử dụng◊ giành
chính quyền nhà nước ◊giai cấp CN và nhân dân lao động xây dựng xã hộI mớI từ
hạ tầng cơ◊ cảI tạo xã hộI cũ ◊bộ máy nhà nước sở đến kiến trúc thượng tầng .
V.I.Lenin viết: " Cần phảI có một thờI kì quá độ khá lâu dài từ CNTB lên CNXH vì
cảI tổ sản xuất là việc khó khăn , vì cần phỉa có thờI gian mớI thực hiện được những
thay đổI căn bản trong mọI lĩnh vực của cuộc sống , & phảI trảI qua một cuộc đấu
tranh quyết liệt , lâu dài mớí có thể thắng được sức mạnh to lớn của những thói quen
quản lí theo kiểu tiểu tư sản & tư sản .BởI vậy , Cmac có nói đến cả một thờI kì
chuyên chính vô sản , thờI kì quá độ từ CNTB lên CNXH.
* Đặc điểm cơ bản :
Đặc điểm nổi bật của thờI kì quá độ lên CNXH là những nhân tố của xã hộI mớI
& tàn tích của xã hộI cũ tồn tạI đan xen lẫn nhau , đấu tranh vớI nhau trên mọI lĩnh
vực của đờI sống chính trị , văn hoá , xã hộI tư tưởng , tập quán trong xã hội.
Đặc điểm bản chất nhất của thờI kì quá độ là sự quá độ về chính trị, ở đó nhà
nước chuyên chính vô sản được thiết lập , củng cố & ngày càng thêm hoàn thiện .
nền kinh tế nhiều thành phần◊ Xét về kinh tế ngòài các thành phần kinh tế
XHCN còn có những thành phần kinh tế khác trong đó có cả thành phần kinh tế tư
bản.
1 cơ cấu xã hộI _giai cấp phức tạp◊ Nền kinh tế nhiều thành phần - trong đó có cả
những giai cấp mà lợI ích cơ bản của họ đốI lập nhau
Có sự khác biệt cơ bản giữa thành thị và nông◊ Xét về mặt xã hộI thôn , giữa các
miền đất nước , giữa lao động trí tuệ & lao động giản đơn .

Nam từ khi có Đảng. Từ Đại hội lần thứ II năm 1951, Đảng ta đã xác định rõ vị trí,
vai trò của “liên minh công nhân với nông dân và lao động trí thức”.
Tính tất yếu khách quan về sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH, không phải xuất phát
từ ý chí chủ quan của các nhà kinh điển hay của các ĐCS mà nó đặt trên cơ sở chín
muồi của những yếu tố, điều kiện khách quan.
Khi phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp trong CNTB, C.Mác chỉ ra, ngoài giai cấp
công nhân là giai cấp đang phát triển mạnh mẽ cùng với nền công nghiệp hiện đại
thì còn các giai cấp và tầng lớp lao động xã hội khác thống nhất với lợi ích cơ bản
của giai cấp công nhân và cùng đối lập với lợi ích cơ bản với giai cấp tư sản. Từ
những cuộc đấu tranh mang tính đối đầu đầu tiên của giai cấp công nhân với giai
cấp tư sản bị thất bại, theo Mác là do công nhân chiến đấu đơn độc, chưa liên hệ
được với nông dân nên trở thành “bài ca ai điếu”. Trong Cách mạng tháng Mười và
sau khi giai cấp công nhân đập tan chính quyền của giai cấp thống trị bóc lột, Lênin
khẳng định “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp
giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động với đông đảo những
tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức)”
Công cuộc xây dựng xã hội mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH là công việc
hoàn toàn mới, đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, lâu dài, diễn ra trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, vì sự nghiệp giải phóng không chỉ cho giai cấp công nhân, mà
cho toàn xã hội. Trong cơ cấu xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp
tầng lớp, trong đó nông dân còn chiếm đa số, tầng lớp trí thức có xu hướng ngày
càng phát triển. Mỗi giai cấp tầng lớp còn có những đặc điểm, vị trí kinh tế - xã hội,
vai trò khác nhau. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo tiên phong của mình, giai cấp
công nhân mà đứng đầu là ĐCS phải tổ chức tập hợp được mọi lực lượng xã hội,
trong đó chủ yếu là nông dân, trí thức. Muốn thế phải nắm bắt được đặc điểm, vai
trò, nhu cầu của các giai cấp tầng lớp.
Đối với giai cấp công nhân: do vị trí lịch sử quy định, là giai cấp ngày càng
đông đảo theo sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp trong nước cũng như trên
thế giới. Họ có những đặc điểm riêng có, ưu việt mà không có giai cấp nào có được.

chuyên môn của mình. Họ không phải là giai cấp mặc dù số lượng ngày càng đông,
mà chỉ là một tầng lớp vì họ không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất, họ chỉ sở hữu
trí tuệ, lại xuất thân từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội, không có hệ tư tưởng
độc lập. Dưới các chế độ thống trị trước đây, trí thức bao giờ cũng bị các giai cấp
thống trị nắm lấy, làm công cụ trong tay mình. Họ cũng là người bị bóc lột về cơ
bản, và cũng luôn có nguyện vọng được giải phóng. Cũng như giai cấp nông dân, họ
chưa bao giờ tự làm nổi cuộc cách mạng giải phóng mình thành công. Trong thời kỳ
quá độ lên CNXH, trí thức cũng đã được giải phống, càng có điều kiện để phát huy
vai trò của mình. Ở mọi quốc gia, trí thức là bộ phận tiêu biểu cho trí tuệ, văn hoá
của đất nước. Họ có vai trò nghiên cứu khoa học, phát minh sang chế, vận dụng,
ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến phù hợp để xây
dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Họ có nhiều ý kiến đóng góp vào việc
hoạch định đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước để phát triển
kinh tế, văn hoá, giáo dục, trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trí thức nói chung rất nhạy cảm về mặt chính
trị xã hội, nên khi đã thấy được vị trí vai trò tiên phong, lãnh đạo của giai cấp công
nhân thì họ sẵn sàng tự giác đứng về phía công nhân và dân tộc để thực hiện sự
nghiệp giải phóng xã hội chung, trong đó có bản thân mình.
Như vậy, cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đều là
những lực lượng lao động sản xuất, lực lượng chính trị - xã hội với những đặc điểm,
vai trò xác định. Họ là những giai cấp, tầng lớp đông đảo nhât trong thời kỳ quá độ
lên CNXH. Đặc biệt đối với các nước tiền tư bản, nông nghiệp lạc hậu quá độ bỏ
qua chế độ TBCN đi lên CNXH đây là lực lượng cách mạng chủ yếu. Với tư cách là
giai cấp lãnh đạo, giai cấp công nhân mà đứng đầu là Đảng cộng sản phải nắm bắt
được những yếu tố khách quan từ các giai cấp tầng lớp, để tổ chức thành liên minh
vững chắc, khi đó không chỉ giành được sự thắng lợi mà cũng “không có thế lực nào
phá vỡ nổi”
Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức,
không chi trong giai đoạn giành chính quyền, mà còn đặc biệt lưu ý trong giai đoạn
xây dựng CNXH “trong thời đại chuyên chính vô sản”. Trong cuộc cách mạng

không thể xây dựng được nền công nghiệp. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ về tính tất yếu
này: biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến. Tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện
trong hội nghị trung ương bảy( Khóa IX), trung ương bảy (Khóa X).
Tóm lại, khi liên minh công - nông - trí - thức được thiết lập, củng cố trên cơ sở
các điều kiện khách quan đó thì liên minh trở thành nền tảng chính trị - xã hội vững
chắc cho sự lãnh đạo của ĐCS, cho Nhà nước. Để tập hợp lực lượng rộng rãi quần
chúng nhân dân trong khối Đại đoàn kết toàn dân cũng phải lấy liên minh công -
nông - trí làm nòng cốt. Có liên minh cũng là điều kịên bảo đảm ổn định chính trị
cho công cuộc đổi mới, cải cách của CNXH.

II.
Tính tất yếu và nội dung của thời kỳ
quá độ từ CNTB lên CNXH.
III. 13/01/2010 // Chưa có phản hồi // Xem: 135 views // Chuyên mục: Tin Tức IT.
1. Tính tất yếu:
Để chuyển từ xã hội TBCN lên xã hội XHCN cần phải trải qua một thời kỳ quá độ
nhất định. Tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH được lý giải từ các căn cứ sau đây:
- Một là, CNTB và CNXH khác nhau về bản chất. CNTB được xây dựng trên cơ sở
chế độ tư hữu TBCN về các tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ áp bức và bóc lột.
CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, tồn
tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập thể; không còn các giai cấp đối kháng,
không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Muốn có xã hội như vậy cần phải có một thời
kỳ lịch sử nhất định.
- Hai là, CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có trình độ cao.
Quá trình phát triển của CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định cho
CNXH, nhưng muốn có cơ sở vật chất – kỹ thuật đó cần phải có thời gian tổ chức,
sắp xếp lại.
Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình CNH tiến lên CNXH , TKQĐ cho
việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH có thể kéo dài với nhiệm vụ

tế theo định hướng XHCN. Quá trình CNH,HĐH XHCN diễn ra ở các nước khác
nhau với những điều kiện lịch sử khác nhau có thể được tiến hành với những nội
dung cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau. Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế
độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN, nên trong thời gian qua, Đảng ta
chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền tảng để đi lên CNXH; bên cạnh đó là chủ
trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là để giải phóng sức
sản xuất, tiến tới một nền sản xuất lớn.
- Trong lĩnh vực chính trị: tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch
chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân chủ
XHCN ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân lao động, xây dựng các tổ chức chính trị – xã
hội thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động; xây dựng Đảng
ngày càng trong sạch, vững mạnh ngang tầm với các nhiệm vụ của mỗi thời kỳ lịch
sử.
- Trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa: tuyên truyền, phổ biến những tư tưởng khoa
học và cách mạng của giai cấp công nhân trong toàn xã hội; khắc phục những tư
tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình xây dựng CNXH; xây dựng
nền văn hóa mới XHCN, tiếp thu giá trị tinh hoa các nền văn hóa trên thế giới.
- Trong lĩnh vực xã hội: khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng
bước khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư
trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt
đẹp giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng: tự do của người này là điều kiện,
tiền đề cho sự tự do của người khác.
Tóm lại, TKQĐ lên CNXH là một thời kỳ lịch sử tất yếu trên con đường phát triển
của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó là thời kỳ lịch sử có đặc điểm
riêng với những nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đặc thù mà giai đoạn
xã hội XHCN trên con đường phát triển của hình thái kinh tế – xã hội CSCN chỉ có
thể đạt được trên cơ sở hoàn thành các nội dung đó.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế – xã hội của quá trình
sản xuất, nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực
lượng sản xuất. Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu
cực. Điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất
với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất
Nếu “phù hợp” sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại, “không phù hợp” sẽ có tác
dụng tiêu cực.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống
nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu
thuẫn.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn
biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế – xã hội của quá
trình sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất
đến những khác biệt và đối lập xung đột từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan
phải được giải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy
luật “từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”,
quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất xã
hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự, lại vừa có tính nhảy vọt với những
bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng cao hơn.
3. Sự vận dụng quy luật này ở nước ta
Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, nước ta đi lên CNXH.
Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kiềm hãm không chỉ trong trường
hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà ngay khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng
bộ và có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực tế lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém lại phát triển không đồng đều, cho
nên cần phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp đến cao,
từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Để xây dựng phương thức sản xuất XHCN, Đảng ta
chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm phát huy
mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để

Vương và cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, của Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận
động yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, v.v. đã có tác
dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập
tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất
bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối.
- Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc Cách mạng
Tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở
nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Chính
vào lúc đó, nhà yêu nước Nguyễn ái Quốc trên hành trình tìm đường cứu nước đã đến
với chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin bí quyết thần kỳ cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc ta. Từ đó, Người đã đề ra con đường duy nhất đúng đắn
cho cách mạng Việt Nam - con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chuyển
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai
cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước
ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con
đường cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai
cấp công nhân. Từ đó giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách
mạng Việt Nam.
- Giai cấp công nhân Việt Nam, mà tuyệt đại bộ phận là xuất thân từ nông dân lao
động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân
dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công
nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc
rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách
mạng ở nước ta.
39
2. Vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam
Lịch sử Việt Nam cũng chứng minh rằng, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời chưa
được bao lâu ngay cả khi nó chưa có Đảng mà đã tổ chức một cách tự phát nhiều cuộc
đấu tranh chống bọn tư bản thực dân và được nhân dân ủng hộ. Cuộc bãi công của

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 114.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 130
40
mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ lịch sử khó khăn, phức tạp nhất.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đội ngũ
công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc hoạt
động sản xuất trong ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc các doanh nghiệp nhà nước,
hợp tác xã, hay thuộc khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, tạo thành
một lực lượng giai cấp công nhân thống nhất đại diện cho phương thức sản xuất tiên
tiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bằng chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển
đất nước. Họ là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là cơ
sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước ta, là hạt nhân vững chắc trong liên
minh công nhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh hình thành, điều kiện kinh tế - xã hội quy định, giai cấp công
nhân Việt Nam còn có những nhược điểm (như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện
nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp ). Nhưng
điều đó không thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam. Để khắc phục những nhược điểm ấy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng ta, một Nghị quyết gắn trực tiếp vấn đề
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề xây dựng phát triển giai cấp công nhân đã
chỉ rõ phương hướng xây dựng giai cấp công nhân nước ta trong giai đoạn hiện nay
là: "Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ theo xu hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xây dựng giai cấp công nhân phát triển về số
lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ học vấn và
tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất,
chất lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình"1.
Công cuộc đổi mới đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status