BỆNH HỌC THỰC HÀNH - SÁN KHÍ (Hernia - Hernie) pot - Pdf 17

BỆNH HỌC THỰC HÀNH - SÁN KHÍ
(Hernia - Hernie)

……… , tháng … năm …….

Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10) viết: 'Mạch túc quyết âm Can đi
qua bộ phận sinh dục, đến bụng dưới, đàn ông sinh chứng hội sán, đàn bà
bụng dưới sưng, chủ yếu là ở Can sinh ra".
Thiên ‘Cốt Không Luận’ (Tố Vấn 60) viết: “Nhâm mạch gây bệnh, ở
nam giới thì bên trong kết thành chứng Thất Sán, ở phụ nữ thì thành chứng
Đới Hạ”.
Sách ‘Nho Môn Sự Thân’ viết: "Các chứng sán đều thuộc về Can
kinh".
Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ viết về chứng sán: "Các chứng
sán là âm khí tích ở trong, lại bị hàn khí lấn vào, làm cho vinh vệ không điều
hòa, huyết khí hư nhược cho nên gió lạnh lọt vào trong bụng mà thành bệnh
sán".
Sách ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ viết: "Bệnh sán khí, có hàn chứng, cũng
có nhiệt chứng, tất nhiên trước vì phong thấp, hoặc ăn thức nóng lạnh, sống
làm cho tà tụ lại ở phần âm, đó là lúc đầu đều do hàn thấp sinh ra". Như thế
đủ thấy rằng tà khí phong, hàn, thấp, nhiệt, đều có thể phát ra bệnh sán khí.
Ngoài ra do khóc, giận dữ, khí mất sự thông lợi, khí hư hãm xuống, cũng có
thể gây nên bệnh.
Sách ‘Chứng Trị Chân Thuyên’ viết: "Cách chung, 7 chứng sán gây
bệnh nếu không phải là phong lao gây nên, thì cũng là do đi đường xa gian
khó, lội nước dầm băng".
Sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: "Chứng khí, sán khí, trên liền với thận
du, dưới vào bìu dái, mắc bệnh là do khóc, giận dữ sinh uất mà sưng lên,
hoặc làm việc nặng nhọc cưỡi ngựa, đến nỗi hòn dái sưng trướng".
Cũng có thể do tiên thiên mà thành. Sách ‘Nho Môn Sự Thân’ viết:
"Trẻ nhỏ cũng có bệnh này, tục gọi là tiên khí, là bệnh từ trong thai".
Sách ‘Châm Cứu Học Giảng Nghĩa’ (Sán Khí) viết: “Nguyên nhân
gây nên bệnh Sán Khí rất nhiều nhưng không ngoài sự xâm nhập của hàn,
nhiệt và thấp khí, khiến cho khí huyệt bị ủng trệ ở mạch Nhâm và kinh Can
gây ra bệnh”.

giận dữ, thì khí uất kết lên mà trướng, giận dữ, kêu khóc hết thì khí tản ra".
Chứng sán này do khí trệ sinh ra, trên lâm sàng thấy rất nhiều.
2 loại bệnh sán trên đây gọi là bệnh trong bìu dái. Hồ sán bắt đầu thấy
ở Nội Kinh, sách ‘Kim Quỹ Yếu Lược’ viết: “Chứng âm hồ sán khí, bên to,
bên nhỏ, khi lên, khi xuống”. Tức là chứng Thiên trụy, hoặc chứng Tiểu
trường sán khí.
Sán là do giận dữ kêu khóc mà sinh ra, hay gặp ở người lớn, thường
do quá lao lực, hoặc lúc gắng sức quá mà phát ra, sau khi thôi giận khóc,
hoặc nằm yên, bệnh nhẹ thì cũng có thể tự khỏi.
Trên đây ngoài chứng Huyết sán, Can sán ra, còn các chứng khác, dù
có quan hệ với sự uất trệ của khí huyết ở Can kinh, chứng Hàn sán là do âm
hàn ngưng kết, cho nên cứng như đá; Đồi sán là do thấp khí nặng, cho nên
sưng to nặng trĩu; Thủy sán là do thủy thấp tụ lại; Hồ sán thì thiên về khí hư,
mà khí sán thuộc về khí trệ.
Cũng nên xem xét thân thể người bệnh khỏe hay yếu, mạch thịnh hay
suy, hàn hoặc nhiệt, mới có thể chẩn đoán được bệnh tình mà tiến hành điều
trị.
Sách ‘Châm Cứu Học Giảng Nghĩa’ nêu ra ba trường hợp sán khí
thường gặp trên lâm sàng là:
+ Hàn Sán: Bìu dái lạnh đau, dịch hoàn cứng, co rút lên đến bụng
dưới, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Trầm Tế.
+ Thấp Nhiệt Sán: Bìu dái sưng nóng, dịch hoàn căng đau, kèm sốt, sợ
lạnh, nước tiểu vàng, táo bón, khát, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác.
+ Hồ Sán: Bụng dưới và bìu dái căng đau, nằm thì rút vào bụng, đứng
lên thì sa xuống. Lâu ngày thì không còn cảm giác đau rõ, làm cho một bên
bìu dái sưng to.
Điều Trị
Chứng sán khí, Trương Cảnh Nhạc cho hàn là gốc bệnh, thấp nhiệt là
ngọn, do Can khí không thông lợi, cho nên phép chữa chủ yếu là điều khí, sơ
Can. Thiên về thấp thì dùng lợi thấp để lý khí; thiên về nhiệt, thì dùng thanh

+ Hàn Thấp Nội Thịnh: Âm nang có khối u, sưng cứng mà lạnh, dịch
hoàn đau, thích ấm, sợ lạnh, bụng dưới trướng đau, rêu lưỡi trằng nhờn,
mạch Huyền Khẩn.
Điều trị: Ôn kinh, tán hàn. Dùng bài Đương Quy Tứ Nghịch Thang
gia giảm: Đương quy, Quế chi, Bạch thược, Tế tân, Ô dược, Tiểu hồi, Ngô
thù du, Cao lương khương, Cam thảo, Đại táo.
(Đương quy ôn bổ Can huyết; Quế chi ôn thông kinh mạch; Bạch
thược dưỡng huyết, hoà vinh. Hai huyệt phối hợp có tác dụng hỗ trợ việc sơ
thông kinh khí ở Quyết âm; Tế tân thông huyết mạch, tán hàn tà; Ô dược,
Tiểu hồi noãn Can, chỉ thống; Ngô thù du, Cao lương khương ôn trung, tán
hàn, chỉ thống; Đại táo, Chích thảo, bổ Tỳ, điều hoà các vị thuốc).
+ Can Uất Khí Trệ: Tinh thần uất ức, không thoải mái, dễ tức giận,
vùng gan đầy tức, bìu dái sưng, xệ xuống, rêu lưỡi trắng, mạch Huyền.
Điều trị: Sơ Can, lý khí. Dùng bài Tế Sinh Quất Hạch Hoàn gia giảm:
Quất hạch, Thanh bì, Xuyên luyện tử, Hậu phác, Nguyên hồ, Chỉ thực, Mộc
hương, Tiểu hồi, Ô dược, Lệ chi hạch, Đào nhân.
(Quất hạch hành khí, trị sán; Thanh bì sơ Can, lý khí; Hậu phác, Chỉ
thực phá khí tích trệ. Xuyên luyện tử, Mộc hương hành khí, chỉ thống;
Nguyên hồ, Đào nhân hoạt huyết, tán kết, Ô dược hành khí, chỉ thống; Tiểu
hồi, Lệ chi hạch lý khí, tán kết, tán hàn, chỉ thống).
Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm
+ Sâm Luyện Lệ Chi Thang (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí 1990, 6): Đảng
sâm, Xuyên luyện tử đều 9g, Trần bì, Cam thảo (chích), Sài hồ, Mộc qua
đều 5g, Thăng ma 7g, Phục linh 6g, Cát hạch, Lệ chi hạch đều 12g Sắc
uống. Dùng cho trẻ nhỏ 1~2 tuổi.
TD: Bổ trung, thăng hãm, tán hàn, lợi thấp, lý khí, chỉ thống. Trị trẻ
nhỏ bị sán khí.
Đã trị 102 ca, khỏi 42, chuyển biến tốt 40, không kết quả 20. Đạt tỉ lệ
80,2%. Trung bình uống 3~7 thang, đa số uống 15 thang thì khỏi. Có 8 ca bị
tái phát, còn lại đều khỏi.

lang, Ô dược, Xa tiền tử, Ngưu tất, Đương quy, Xích thược, Trạch tả đều 5g,
Cát hạch 3g, Trư linh, Phục linh đều 6g, Nhục quế (cho vào sau) 3g, Hắc sửu
(sao), Bạch sửu (sao) đều 3g. Sắc uống.
TD: Sơ Can, lý khí, ôn kinh, tán hàn, hoạt huyết, lợi thủy. Trị trẻ nhỏ
niêm mạc dịch hoàn có nước (thủy sán).
Thường uống 5~10 thang là khỏi.
+ Câu Sán Thang (Cát Lâm Trung Y Dược 1986, 2): Hương phụ, Mộc
hương đểu 15g, Sơn tra, Xuyên luyện tử đều 10g, Tam lăng, Nga truật (sao
dấm), Khương hoàng, Đởm nam tinh, Thần khúc, Cát hạch đều 5g, Hoàng
liên, Ngô thù du, Đào nhân, Chi tử, Lai phục tử đều 2,5g. Sắc uống.
TD: Sơ Can, lý khí, ôn kinh, tán hàn, tiêu viêm, tán kết. Trị phúc cổ
câu sán.
Đã trị 21 ca, đều khỏi.
+ Kiện Tỳ Hóa Đờm Thang (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại
Toàn): Đảng sâm, Bạch truật, Trạch tả, Cốc nha, Mạch nha, Bán hạ (chế)
đều 9g, Trần bì 4,5g, Cam thảo (chích) 3g, Mẫu lệ (nấu trước) 30g, Tiêu Dao
Hoàn 9g (uống với nước thuốc sắc).
TD: Kiện Tỳ, hóa đờm, sơ Can, lý khí, trị trẻ nhỏ dịch hoàn ứ nước
(thủy sán).
(Cốc nha, Trạch tả kiện Tỳ lợi thủy; Trần bì, Bán hạ hóa đờm; Mẫu lệ
thu liễm; Tiêu Dao Tán bổ khí huyết, trị bệnh ở Can Tỳ; Đảng sâm, Bạch
truật, Chích thảo ích khí, kiện Tỳ).
Đã trị 33 ca, khỏi hoàn toàn 100%. Uống 1~3 tháng, nhiều nhất là 6
tháng đều khỏi. Sau 6 tháng theo dõi không thấy một ca nào tái phát.
Thuốc Đắp Ngoài
+ Ngô thù du 6g, Mộc qua 10g, Tiểu hồi 12g, Xuyên luyện tử, Cát
hạch đều 20g. nghiền nát, chia làm 2 phần, bọc lại. Đem rang cho nóng lên,
chườm vào chỗ đau, nguội lại thay bao khác, cứ luân phiên thay đổi hai bao
trên. Ngày làm một lần, mỗi lần khoảng 1 giờ (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí
1990, 6).

(Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
+ Hồ Sán: Bổ khí, thăng hãm, chỉ thống. Châm bổ và cứu Quy lai,
Quan nguyên, Đại đôn, Tam giác cứu. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm một
lần. 7 ngày là một liệu trình.
(Dương minh kinh nhiều khí nhiều huyết, là nơi hội của tông cân. Quy
lai thuộc kinh túc Dương minh là huyệt dùng trị sán khí có hiệu quả cao.
Can kinh vận hành qua bộ phận sinh dục, vì vậy dùng huyệt Đại đôn là huyệt
thường dùng trị sán khí; Tam giác cứu là huyệt Ngoài kinh, là huyệt đặc hiệu
trị sán khí (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
. Quan nguyên, Khí môn, Tam giác cứu (Quan nguyên là nơi khí của
Tam tiêu xuất ra, vì vậy dùng để bổ nguyên khí, làm cho khí đủ thì sự thăng
đề trở lại bình thường. Hợp với huyệt Khí môn, Tam giác cứu làm cho khí
hư hãm ở dưới có thể phục hồi dần) (Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
Nhĩ Châm
Chọn huyệt Sinh dục ngoài, Thần môn, Giao cảm, Tiểu trường, Thận,
Can. Mỗi lần dùng 2~3 huyệt, kích thích mạnh. Lưu kim 10~20 phút. Cách
ngày châm một lần (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Tham Khảo
+ Dùng Ngải nhung cứu huyệt Tam giác cứu là chính. Phối hợp với
Quan nguyên, Khí hải, Khúc cốt, Khí xung, Xung môn. Mỗi lần dùng huyệt
chính còn các huyệt phối hợp thay đổi dùng. Mỗi huyệt cứu 5 tráng, mỗi
ngày hoặc 2~3 ngày cứu một lần. Đã trị 50 ca, cứu 1~7 lần đều khỏi (Ngải
Cứu Trị Sán Khí – Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1981, 16 (9): 429).
+ Châm kết hợp với uống thuốc trị sán khí. Đã trị Phúc ngoại sán 60
ca. trong đó Phúc cổ câu tà sán 41 ca, Trục sán 12, Cổ sán 5, Phục cổ câu
hoạt động tính sán 2. Huyệt dùng chính: Bá hội, Khí hải, Quan nguyên, Hội
âm, Thận du. Phối hợp với Trung cực, Khúc cốt, Đại hoành, Quy lai. Châm
thẳng, lưu kim 5~10 phút. Phối hợp dùng thuốc: Hoàng kỳ 30~60g, Tiểu hồi,
Quất hạch nhân, Thục địa, Đương quy, Bạch truật, Thăng ma đều 15g, Nhân
sâm, Cam thảo đều 10g.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status