Lịch sử văn minh Ấn Độ CHƯƠNG III (B) potx - Pdf 17

Will Durant
Lịch sử văn minh Ấn Độ
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG III (B)
III. HOÀNG KIM THỜI ĐẠI
Các cuộc xâm lăng – Các vua Kushan – Đế quốc Gupta – Pháp
Hiển qua Ấn Độ - Văn học phục hưng – Hung Nô vô Ấn Độ -
Harsha đại độ - Huyền Trang qua Ấn Độ thỉnh kinh

Suốt một thời gian gần sáu trăm năm từ khi vua Açoka băng cho tới khi Đế
quốc Gupta thành lập, các kí tái và tài liệu Ấn Độ rất hiếm, thành thử cả một
đoạn sử còn chìm trong bóng tối. Như vậy không có nghĩa rằng thời đó là
thời các nhà cầm quyền theo chính sách ngu dân; nhiều trường Đại học như
trường Taxila vẫn tiếp tục hoạt động, trong khi ở Tây Bắc Ấn Độ, ảnh
hưởng của Ba Tư về kiến trúc, của Hi Lạp về điêu khắc, gây nên được một
nền văn minh phồn thịnh theo dấu vết của vua Alexandre. Hai thế kỉ thứ II
và thứ I trước Công nguyên, các dân tộc Syrie, Hi Lạp, Scythe tràn vào miền
Pendjab, làm chủ miền này và tạo nên nền văn minh Hi Lạp – Bactriane
[1]
tồn tại ba trăm năm. Ở thế kỉ thứ I kỉ nguyên mà chúng ta có óc hẹp hòi gọi
là kỉ nguyên Ki Tô, một bộ lạc ở Trung Á, bộ lạc Kushan, cùng một huyết
thống với dân tộc Thổ (Turc), xâm chiếm Kaboul, rồi từ đô thị đó, thống ngự
lần lần tất cả miền Tây Bắc Ấn Độ và một phần lớn Trung Á. Dưới triều vua
Kanishka, ông vua hùng cường nhất của họ, nghệ thuật và khoa học rất tấn
bộ, ngành điêu khắc Hi lạp – Phật giáo sản xuất được vài công trình đẹp
nhất; ngành kiến trúc cũng tạo được những đền đài rực rỡ ở Peshawar,
Talixa và Mathura. Charaka có công lớn với Y khoa, còn Nagarjuna và
Ashvaghosha đặt cơ sở cho phái Mahayama (Đại thặng hoặc Đại thừa), nhờ

mà số người hành hương đó còn ít hơn số các thương nhân, sứ thần từ đông
hoặc từ tây vượt các dãy núi cao để vô Ấn Độ, có người từ La Mã tới, làm
cho Ấn được cái lợi tiếp xúc với các phong tục và tư tưởng ngoại quốc. Sau
khi liều mạng vượt qua được các tỉnh phía Tây Trung Hoa, nhà sư Pháp
Hiển ngạc nhiên rằng ở Ấn Độ, người ta yên ổn đi khắp nơi được, không gặp
một tên trộm cướp, không bị ngăn cản, ức hiếp. Ông cho chép trong tập nhật
kí rằng ông mất sáu năm mới tới Ấn Độ, ở Ấn sáu năm nữa, rồi mất ba năm
nữa để trở về Trung Hoa theo đường biển, đi ngang qua Tích Lan và Java.
Ông thán phục sự giàu có, thịnh vượng, đức hạnh và hạnh phúc của dân Ấn,
thán phục sự tự do mà họ được hưởng về phương diện xã hội và tôn giáo.
Ông ngạc nhiên về sự rộng lớn, đông đúc của các đô thị, nhất là đâu đâu
cũng có những nhà thương thí và mọi cơ quan từ thiện
[3].[4] Bức tranh ông
lưu lại về Ấn Độ thực là nên thơ, trừ chuyện chặt bàn tay mặt:

Dân trong xứ đông mà sung sướng, không phải theo một nghi thức hành
chánh nào cả mà cũng chẳng phải tuân một vị phán quan nào; chỉ những
người cày cấy đất của nhà vua là phải nộp cho Quốc gia một phần lợi tức
thôi. Muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở. Nhà vua trị dân mà không bao
giờ xử trảm ai, cũng không phải dùng đến thể hình. Tội nhân chỉ phải đóng
một số tiền phạt, ngay như tái phạm tội phản nghịch mà cũng chỉ bị chặt bàn
tay mặt thôi… Trong khắp nước, không một người nào giết một sinh vật nào,
và họ không ăn tỏi, ăn hành. Chỉ trừ những người Chadala… Xứ đó không
nuôi heo, gà mái, cũng không bán gia súc, ở chợ không thấy bán thịt, quầy
rượu.

Pháp Hiển còn nhận thấy rằng các tu sĩ Bà La Môn, từ thời Açoka không
còn các vua triều đại Maurya hậu đãi nữa, lại bắt đầu giàu có, hống hách trở
lại dưới triều đại Gupta. Họ phục hồi lại truyền thống văn học thời tiền -
Thích Ca và đương làm cho tiếng Sanscrit thành một thứ “thế giới ngữ” cho

ngày ngắn quá, Ngài tận tuỵ với việc nước tới nỗi quên ngủ”. Mới đầu ông
theo giáo phái Shiva, sau cải giáo, theo đạo Phật, thành một Açoka, cũng mộ
đạo và có công với đạo như Açoka. Ông cấm dân chúng ăn thịt, dựng trong
lãnh thổ của ông những tha-la cho khách bộ hành nghỉ chân, và cất trên bờ
sông Gange mấy ngàn điện Phật nhỏ gọi là “tope”.

Huyền Trang, nhà sư đi thỉnh kinh nổi tiếng nhất của Trung Hoa, bảo rằng
Harsha cứ năm năm lại tổ chức một đại lễ để bố thí. Ông mời đại diện tất cả
các tôn giáo, gọi tất cả những người nghèo khổ trong nước lại. Ông có thói
quen, trong quốc khố còn chứa bao nhiêu tiền thuế dành dụm từ đại lễ lần
trước (nghĩa là năm năm trước), lần này đem ra bố thí hết. Huyền Trang
ngạc nhiên thấy biết bao nhiêu vàng bạc, tiền và nữ trang, tơ lụa gấm vóc
chất đống trong một khoảng rộng, chung quanh có cả trăm cái lều chứa cả
ngàn người. Ba ngày đầu cúng bái, tụng kinh, ngày thứ tư bắt đầu bố thí.
Theo lời vị cao tăng đó – có vẻ không tưởng tượng nổi – hàng vạn tăng được
cấp thức ăn thức uống, rồi được tặng mỗi người một viên ngọc trai, y phục,
hoa, dầu thơm và trăm đồng tiền. Các tu sĩ Bà La Môn cũng được hậu tặng
gần như vậy, rồi tới các tu sĩ Jaïn, rồi tới các tu sĩ khác, sau cùng tới lượt các
người nghèo không theo một tôn giáo nào, những trẻ mồ côi trong nước. Có
khi bố thí tới ba bốn tháng mới hết. Sau cùng chính nhà vua Harsha cởi hết y
phục rực rỡ, lột hết vàng bạc châu báo đeo trong mình để phân phát.

Theo kí sự của Huyền Trang thì dân Ấn thời đó mộ đạo một cách hoan hỉ, ai
thấy cũng thích. Danh tiếng Ấn Độ thời đó vang lừng ở ngoại quốc, chẳng
vậy mà một nhà vọng tộc Trung Hoa từ bỏ cảnh phú quí, mạo hiểm qua các
tỉnh miền Tây Trung Hoa, thời đó còn bán khai, qua Tachkent và
Samarcande (một thành phố rất phồn thịnh), vượt dãy núi Hymalaya để tới
Ấn Độ siêng năng học trong ba năm ở tu viện Nalanda (Na-Lan-Đà). Ông
vừa là một nhà quí phái, vừa nổi danh học rộng biết nhiều, nên tới đâu cũng
được các vua chúa tiếp rước long trọng.

IV. LỊCH SỬ RAJPUTANA

Các “võ sĩ” Ấn Độ - Thời đại các hiệp sĩ – Thành Chitor thất thủ

Trong suốt thời đại u ám đó, chỉ có công nghiệp anh hùng của miền
Rajputana là chiếu bừng lên một lát. Miền đó gồm những tiểu quốc tên rất
du dương: Mewar, Marwar, Amber, Bikaner vân vân… Dân chúng, một nửa
là người bản xứ, một nửa là hậu duệ các dân tộc xâm lăng Scythe hay Hung
Nô, đã dựng nên một nền văn minh phong kiến, các “rajah” (tiểu vương Ấn
Độ) của họ hiếu chiến và chỉ nghĩ tới nghệ thuật hưởng thụ chứ không nghĩ
tới bồi dưỡng nghệ thuật. Mới đầu họ chịu phục tòng các vua Maurya và
Gupta, rồi sau biết bảo vệ sự độc lập của họ, và của toàn thể Ấn Độ khi các
rợ Hồi giáo vô cõi. Các thị tộc của họ chiến đấu rất anh dũng, ít miền khác
nào bằng
[7]. Theo Tod, sử gia tán dương họ, thì mỗi người đàn ông là một
Kshatriya bất khuất và mỗi đàn bà là một nữ kiệt. Tên của dân tộc họ,
Rajput, có nghĩa là “con vua”, và đôi khi họ gọi xứ họ là Rajasthan, tức “xứ
của vua chúa”.

Tất cả cái điên khùng và tất cả cái thi vị của thời hiệp sĩ Trung cổ châu Âu –
can đảm, trung tín, mê nhan sắc phụ nữ, tranh nhau, chém giết nhau, đầu
độc, ám sát nhau – tất cả những cái đó đều có đủ trong lịch sử của xứ anh
dũng Rajputana. Sử gia Tod bảo: “Các thủ lãnh Rajpute có đủ các đức hiệp
sĩ châu Âu mà trí tuệ còn hơn nhiều”. Phụ nữ của họ rất khả ái, đàn ông sẵn
sàng hi sinh cho đàn bà mà đàn bà cho sự tự hỏa thiêu để chết theo chồng là
một phép lịch sự chứ không có gì đáng khen. Một số ít phụ nữ có văn hóa
cao, vài rajah là thi sĩ hoặc nhà bác học nổi danh, thỉnh thoảng vẽ những bức
hoạ rất đẹp bằng màu pha nước theo kiểu Ba Tư thời Trung cổ. Trong bốn
thế kỉ họ gom góp được không biết bao nhiêu vàng bạc châu báo tới nỗi có
thể trong một ngày tiêu một số tiền bằng bốn trăm triệu quan hiện nay

V. THỜI CỰC THỊNH CỦA PHƯƠNG NAM

Các vương quốc miền Deccan – Vijayanagar - Krishna Raya – Một Mẫu
quốc thời Trung cổ - Luật pháp – Nghệ thuật – Tôn giáo – Hí kịch

Bọn xâm lăng Hồi càng tiến sâu vô thì văn hóa Ấn Độ càng lùi xuống
phương Nam, thành thử tới cuối thời Trung cổ, chỉ ở miền Deccan là còn
thấy những nét cao nhã nhất của nền văn minh Ấn Độ. Trong một thời gian,
bộ lạc Chalyuka còn duy trì được nền độc lập của vương quốc vắt ngang qua
Trung Ấn, từ bờ biển bên đây qua bờ biển bên kia, dưới triều Pulakeshin II,
vương quốc đó khá vinh quang và hùng cường để thắng được Harsha, làm
cho Huyền Trang phải phục và sứ thần Ba Tư Chosroès II phải tỏ lòng tôn
kính. Chính dưới triều đại đó, trong vương quốc của Pulakeshin, xuất hiện
những bức hoạ quan trọng nhất của Ấn Độ, tức những bích họa Ajanta. Ngai
vàng của Pulakeshin bị vua Pallava lật đổ, và ông vua này thống trị Trung
Ấn trong một thời gian ngắn. Ở cực Nam, và từ thế kỉ thứ I, các bộ lạc
Pandya đã thành lập một vương quốc gần Madura, Tinnevelly và vài phần
của Travancore, họ xây cất ở Madura một đền thờ vĩ đại và vô số công trình
kiến trúc nhỏ hơn, làm cho Madura thành một trong những đô thị đẹp nhất
thời Trung cổ Ấn Độ. Nhưng rồi họ bị các bộ lạc Chola đánh tan, sau bị bọn
Hồi xâm chiếm. Người Chola cai trị cả hai miền từ Madura tới Mabras, phía
Tây tiến tới Mysore. Họ đã xuất hiện từ thời Thượng cổ vì trong các sắc lệnh
của Açoka có nói tới họ, nhưng tới thế kỉ thứ IX chúng ta không biết gì về
họ cả, thế kỉ này họ mới thịnh lên, mở màn cho một loạt xâm lăng và tất cả
các tiểu vương Nam Ấn, cả Tích Lan nữa, phải triều cống họ. Rồi họ suy lần
và phải lệ thuộc quốc gia lớn nhất miền Nam, Vijayanagar
[10].

Vijayanagar – tên này vừa là tên một vương quốc, vừa là tên một kinh đô –
gợi cho ta niềm hoài cảm về sự phù du của vinh quang và tính mau quên của

cây số cho cống nước qua. Abdu-r-Rajzzad thăm kinh đô đó năm 1443, bảo
“khắp thế giới, chưa trông thấy mà cũng chưa nghe thấy nói có một thành
phố nào được như vậy”.

Paes bảo “sự cung cấp thực phẩm ở đây hoàn hảo nhất thế giới, thứ gì cũng
có”. Cũng theo ông ta, thành phố có trên một trăm nghìn nóc nhà nghĩa là
dân cư tới nửa triệu. Ông ta ngạc nhiên thấy trong một lâu đài nọ có một
phòng cất toàn bằng ngà, “rực rỡ, đẹp đẽ lạ thường, khó mà thấy một phòng
thứ hai như vậy”. Khi vua Hồi giáo
[14] ở Delhi là Firoz Shah cưới con gái
của vua Vijayanagar – lễ cưới cử hành tại kinh đô Vijayanagar – thì khắp
con đường dài mười cây số trải toàn là nhung, sa tanh, nỉ thêu kim tuyến và
các thứ hàng quí khác. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng anh chàng nào đi xa về
cũng nói khoác.

Đám thần dân ở dưới gồm nông nô và lao động sống lúc nhúc trong cảnh
nghèo khổ, mê tín; nhưng luật lệ rất nghiêm khắc tới tàn nhẫn nên họ không
dám gian manh, tương đối lương thiện trong thương mại. Hình phạt có nhiều
đẳng: bị chặt chân, chặt tay, bị voi giày, bị chặt đầu, hoặc bị đóng cọc vào
đít lên tới ruột khi còn sống hoặc bị móc sắt vào cằm rồi treo lên cho tới khi
chết; bọn cướp đường bị trừng trị theo lối đó. Mãi dâm không bị cấm, và
triều đình đặt ra qui chế, kiểm soát để thu thuế. Abdu-r-Razzad bảo: “Trước
sở đúc tiền là toà thị chánh, viên thị trưởng có 12.000 cảnh sát mà tiền lương
đều do thuế mãi dâm đài thọ. Những hồng lâu đó trang hoàng rực rỡ, ả nào ả
nấy rất đẹp, có tài tán tỉnh đưa tình làm cho quan viên mê mệt, không bút
nào kể xiết”. Xét chung thì đàn bà phục tòng chồng, khi chồng chết thì tuẫn
tiết, có khi tự thiêu sống nữa.

Dưới triều các Raya, vua Vijayanagar, văn học thịnh vượng; tác phẩm viết
bằng tiếng sanscrit, ngôn ngữ cổ điển, và tiếng Telugu, thổ ngữ miền Nam.


Ấn Độ suy nhược – Mahmud de Ghazni – Triều đại Hồi ở Delhi – Công
trình văn hóa – Chế độ tàn nhẫn của họ - Bài học của lịch sử Ấn Độ

Suốt lịch sử nhân loại có lẽ không có trang nào đẫm máu bằng trang sử Hồi
xâm chiếm Ấn Độ. Đọc nó ta đâm ra chán nản vì thấy rằng văn minh là cái
gì rất mong manh, cái thế thái bình bấp bênh, trật tự mà lại tự do, văn vẻ đó
có thể bị phá huỷ bất kì lúc nào, do những kẻ dã man ở ngoài vô, có khi do
những quân dã man sinh ra ở ngay trong xứ nữa. Người Ấn Độ đã phí sức
trong các cuộc tranh biện và nội chiến, họ đã theo đạo Phật và đạo Jaïn, mà
những đạo đó không hợp với sự tranh đấu dũng cảm cần thiết cho đời sống;
họ lơ là với việc phòng vệ biên cương và kinh đô, bảo vệ của cải và tự do, và
các dân tộc Scythe, Hung Nô, A Phú Hãn, Thổ rình rập ở chung quanh, lúc
nào thấy tinh thần quốc gia của Ấn giảm xuống là xông vô liền. Trong bốn
trăm năm (600-1000), Ấn Độ là cái mồi nhử họ, và sau cùng cuộc xâm lăng
xảy ra.

Lần tấn công đầu tiên chỉ là một cuộc nhập khẩu ngắn ngủi do Multan chỉ
huy, đánh thốc vào miền Tây Pendjab rồi rút về (664 sau Công nguyên).
Trong ba trăm năm, tiếp theo nhiều cuộc nhập khẩu khác, hậu quả là người
Hồi chiếm được thung lũng Indus, gần đúng vào lúc người Ả Rập thua ở
Poitiers (732 sau Công nguyên), hết làm chủ châu Âu. Nhưng cuối thế kỉ thứ
X, người Hồi mới thực sự xâm chiếm Ấn Độ.

Năm 997, một thủ lãnh Thổ tên là Mahmud làm vua tiểu quốc Ghazni, ở
miền Đông A Phú Hãn. Hỡi ơi, ông ta thấy rằng vương quốc của mình trẻ
trung quá mà lại nghèo, còn Ấn Độ ở bên kia biên giới thì đã già cỗi mà lại
giàu, thế là lòng tham của ông nổi lên. Viện cái cớ thiêng liêng là để diệt
thói sùng bái ngẫu tượng ở Ấn
[16], ông ta dắt một đạo quân thờ cái “đạo”

Ghuri ở A Phú Hãn
[20] xâm lăng Ấn Độ, chiếm Delhi, đốt phá các đền đài,
chiếm của cải rồi lập một triều đại Hồi ở Delhi, làm cho suốt ba thế kỉ dân
Bắc Ấn chịu một chế độ độc tài của ngoại nhân, thỉnh thoảng phẫn uất quá,
phải nổi loạn ám sát. Vua Hồi khát máu đầu tiên là Kutb-d-Din Aibak đáng
làm “kiểu mẫu” cho cả loạt: cuồng tín, dữ như beo, tàn nhẫn. Một sử gia Hồi
bảo: “Ông ta phân phát của cải tới mấy trăm ngàn, nhưng những kẻ bị ông
giết cũng tới mấy trăm ngàn”. Sau một lần thắng trận, ông “bắt năm chục
ngàn người nô lệ, cánh đồng đen nghịt người Ấn”, mà hồi nhỏ chính ông ta
đã bị bán làm nô lệ đấy. Một vua Hồi khác, Balban, trừng trị tụi côn đồ hoặc
phiến loạn, bằng cách cho voi giày hoặc lột da, hoặc vùi vào đống rơm cho
chết ngạt, hoặc treo cổ lên ở cửa thành Delhi. Khi một số người Mông Cổ lại
làm ăn ở Delhi, cải đạo theo Hồi giáo, muốn nổi loạn, vua Hồi Alau-d-Din
(người đã hạ thành Chitor), trong một ngày giết hết các đàn ông Mông Cổ -
từ mười lăm tới ba chục ngàn mạng. Vua Hồi Muhammad-bin-Tughlak, kẻ
đã giết cha để đoạt ngôi, thành một nhà bác học nổi danh và một nhà văn có
tài; mặc dầu nghiên cứu toán, vật lí và triết học Hi Lạp, ông ta còn tàn bạo
hơn hết thảy các vua trước. Một người cháu ông nổi loạn, ông bắt vợ con
người đó phải ăn thịt chồng và cha. Ông phá giá tiền tệ, cướp bóc, giết chóc,
làm cho trong xứ điêu tàn tới nỗi dân phải trốn vào rừng ở. Ông giết không
biết bao nhiêu người Ấn, và chính một sử gia Hồi đã phải bảo rằng “trước
lều và trong sân hoàng cung luôn luôn có hàng đống xác người, bọn đao phủ
phải lôi kéo, đâm chém nạn nhân suốt ngày tới mệt đừ ra”. Muốn dời đô lại
Delautabad, ông bắt tất cả dân cư ở Delhi đi theo ông và Delhi thành một
hoang địa, hay tin một người mù còn ở lại Delhi, ông ta bảo lính lôi xềnh
xệch người đó tới kinh đô mới, và tới nơi kẻ khốn nạn chỉ còn có mỗi một
giò. Ông ta phàn nàn rằng dân không yêu ông, không nhận đúng đức công
bằng sắt đá của ông. Ông ta thống trị Ấn Độ một phần tư thế kỉ và chết trên
giường bệnh. Người nối ngôi ông, Firoz Shah, chiếm xứ Bengale, ra lệnh hễ
ai cắt được một đầu người Ấn thì được thưởng và ông đã thưởng 180.000

chắc giữ được thủ cấp, vàng bạc hoặc một vật thừa nào của mình… Đánh
đập, bêu chợ, nhốt khám, cột chân cột tay, mọi phương tiện đều được dùng
để bắt họ phải nộp thuế”. Một viên cố vấn trách chính sách đó tàn nhẫn,
Alau-d-Din bảo: “Khanh là một nhà bác học đấy nhưng thiếu kinh nghiệm,
ta vô học nhưng ta biết rõ công việc của ta. Khanh nên tin chắc rằng khi nào
tụi Ấn nghèo mạt thì chúng mới hoá nhu thuận. Vì vậy ta đã ra lệnh để cho
chúng có đủ sữa, lúa ăn đợi tới mùa sau, chứ không được dư để chứa trong
kho mà làm giàu”.

Đó là vài nét chính về lịch sử Ấn Độ thời đó. Bị các chia rẽ nội bộ làm cho
suy nhược, dân tộc Ấn không chống nổi bọn xâm lăng, bị bọn xâm lăng làm
cho nghèo mạt, họ không còn đủ sức chống cự lại nữa và tìm nguồn an ủi
trong những thuyết siêu nhiên, họ bảo làm chủ hay làm nô lệ thì cũng chỉ là
ảo tưởng, cái gì cũng hư vô hết, đời người ngắn ngủi quá, hơi đâu mà nghĩ
tới chuyện bảo vệ tự do của mình hoặc của dân tộc. Bi kịch đó để lại cho ta
một bài học chua chát: phải luôn luôn cảnh giới mới bảo vệ được nền văn
minh. Một dân tộc nên yêu hoà bình, nhưng cũng phải luôn luôn giữ gìn cho
thuốc súng được khô.

[1] Nước Bactrane ở miền Tây Vực xưa.
[2] Theo truyền thuyết Ấn Độ, Rama là hậu thân của thần Vichnou.
[3] Như vậy là các tổ chức từ thiện ở Ấn Độ xuất hiện ba trăm năm trước
nhà thương thí đầu tiên thành lập ở Âu, tức nhà thương Maison-Dieu xây cất
ở Paris thế kỉ thứ VII sau Công nguyên.

[14] Sultan (ND).
[15] Trận này xảy ra năm 1565. (ND).
[16] Chúng ta nên nhớ Hồi giáo không thờ thần nào khác, ngoài thần Allah,
tức như Thượng đế của họ, và thù các tôn giáo khác. (ND).
[17] Myrte. (ND).
[18] Tiền cổ Ả Rập. (ND).
[19] Naphte: dầu hoả ở trong mỏ, chưa lọc. (ND).
[20] Bộ lạc Ghuri cũng của người Thổ. Nguyên văn: “the Ghuri, a Turkish
tribe of Afghanistan”. (Goldfish)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status