CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA BÉ VÀ CÁCH NUÔI DƯỠNG - Pdf 17

CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA BÉ VÀ CÁCH NUÔI DƯỠNG
Nguyễn Thị Hoa - Trưởng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng I
Từ khi hình thành đến khi trưởng thành (15 – 20 tuổi ) trẻ em trải qua 6 giai đoạn phát triển : Giai đoạn bào thai; Giai đoạn sơ
sinh; Giai đoạn nhũ nhi; Giai đoạn răng sữa; Giai đoạn thiếu niên. Giai đoạn dậy thì Các giai đoạn có đặc điểm phát triển và nhu
cầu nuôi dưỡng khác nhau.
Giai đoạn bào thai
Là từ lúc thụ thai đến khi trẻ chào đời, trung bình là 255 đến 285 ngày ( ta thường nói 9 tháng 10 ngày), tính từ ngày đầu tiên
của kỳ kinh cuối cùng. Để trẻ khỏe mạnh thông minh thì mẹ không được mắc bệnh và cần tăng 10 -12 kg trong suốt thời gian
mang thai. Nuôi dưỡng trẻ thông qua nuôi dưỡng bà mẹ. Bé khỏe mạnh là bé khi sanh ra cân năng trung bình là 3000gr (2500
-3500gr), dài trung bình 50cm (48 -52cm) và không có dị tật bẩm sinh.
Chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ trong giai đoạn này cần như sau:
 Mẹ ăn 3 -5 bữa trong một ngày, ăn đủ các nhóm thức ăn. Không kiêng cữ một loại thực phẩm nào.
 Từ tháng thứ 6 trở đi nên ăn thêm một bữa hoặc ăn thêm một chén trong một bữa.
 Nên ăn nhiều thực phẩm có chất đạm tốt như thịt, cá trứng, sữa( 300ml/ngày)
 Uống nhiều nước và ăn nhiều rau xanh tránh táo bón và cung cấp vitamin cho bào thai.
Giai đoạn sơ sinh: từ lúc sinh ra tới khi bé được 30 ngày.
Đặc điểm:
 Cân nặng: Trẻ bình thường, mỗi ngày trung bình trẻ tăng 15gram, mỗi tháng trong quý đầu tăng ít nhất là 600gram.
Trung bình khi 1 tháng trẻ nặng từ 3500 kg – 4500 kg.
 Chiều cao: tăng khoảng 2cm( lúc 1 tháng trẻ cao từ 48 -52 cm)
 Hệ tiêu hóa: Niêm mạc đường tiêu hóa chưa hoàn thiện. Chưa có men tiêu bột. Thức ăn duy nhất của bé là sữa mẹ
hoặc sữa thay thế. Trẻ biết bú mẹ ngay từ khi sinh ra.
Cách nuôi:
Trẻ có sữa mẹ: Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp tối ưu cho sự phát triển của trẻ, vì sữa mẹ là chất dinh dưỡng duy nhất
thỏa mãn nhu cầu phát triển và phù hợp với sinh lý của cơ thể trẻ.
Cách cho bú:
 Bú mẹ ngay sau khi sanh ( 30 phút - 1 giờ ) để tận dụng nguồn sữa non và các chất kháng khuẩn.
 Bú mẹ hoàn toàn trong 4 –6 tháng đầu: không cho trẻ uống nước, không rơ lưỡi, không uống nước trái cây.
 Một lần bú cho trẻ bú hết một bên bầu vú, lần sau sẽ bú bên kia.
Trẻ không có sữa mẹ: là những trẻ không có mẹ ( con nuôi, mồ côi, mẹ bị bệnh nặng ) hoặc trẻ bị bệnh nặng không thể bú mẹ
mà không có mẹ để vắt sữa cho con. Hạn chế tối đa trường hợp này vì sự bất lợi của nuôi con bằng sữa nhân tạo: dễ mắc các

 Khi trẻ được 4 tháng tuổi, với trẻ bú mẹ thì : nếu trẻ tăng dưới 500gr trong một tháng thì phải cho trẻ tập ăn dặm
(bột), nếu trẻ tăng trên 500gr trong một tháng thì vẫn tiếp tục cho bú mẹ đến 6 tháng.
 Tiếp tục bú mẹ theo nhu cầu của trẻ, bú càng nhiều càng tốt.
 Khi bé được 4 – 6 tháng : Tập ăn dặm bằng bột loãng: Tập ăn từ ít (1 - 2 muỗng bột) đến nhiều (1/3 - 1/2 chén - 1
chén/ ngày); từ lỏng đến đặc ( từ bột 5% đến bột 10%); từ ít chất (bột gạo + một loại thực phẩm khác như trứng
hoặc sữa ) đến nhiều chất (bột + đạm: thịt , trứng, sữa, tàu hủ + dầu + lá rau xanh ). Ngay từ tuổi này trẻ
cũng đã ăn được xác ( cái ) thức ăn , nếu chỉ cho trẻ ăn nước thì sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng ( sắt và Protein). Không
nên nêm muối, đường, bột ngọt vào bột của trẻ.
 Nếu trẻ nuôi bằng sữa bình thì ngày bú 6 cữ + 2 cữ bột
 Đến khi 6 tháng, tất cả các trẻ phải được cho ăn dặm bằng bột đủ 4 nhóm thức ăn (bột + đạm + dầu + rau). Ngày ăn
3-4 bữa bột ( hoặc cháo)
 Bú mẹ kéo dài đến 2 tuổi
Giai đoạn răng sữa: là giai đoạn từ lúc 1 tuổi tới khi bé được 6 tuổi ( giai đoạn nhà trẻ và mẫu giáo)
Sự phát triển: tốc độ lớn châm hơn giai đoạn trước.
 Cân nặng : Mỗi tháng tăng từ 100gram – 150gram, 4 tuổi nặng gấp 3 lúc sinh , đến 6 tuổi cân năng trung bình từ 14
kg -24kg Tỷ lệ mỡ trong cơ thể thấp nhất so với các lứa tuổi nên nhìn trẻ có vẻ gầy ốm
 Chiều cao: Mỗi tháng tăng từ 1cm – 1,5cm, 4 tuổi cao gấp đôi lúc sinh , đến 6 tuổi trẻ cao từ 105cm –115 cm
 Vòng đầu bằng người lớn( 55cm), tổ chức não trưởng thành bằng 100% người lớn.
 Hệ tiêu hóa: Đã hoàn thiện, Trẻ đã mọc đủ 8 răng hàm
 Tò mò, hoạt động nhiều, ham học hỏi, thích tự làm việc.
 Có những hoạt động giao tiếp, ham chơi hơn ăn
Cách nuôi:
 Dưới 2 tuổi: Tiếp tục bú me cho đến khi 2 tuổiï và ăn 5 bữa bột hoặc cháo.
 Lớn hơn 2 tuổi: ăn 3 bữa cùng gia đình với ưu tiên các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, như 1 chén cơm với thịt, cá,
,rau xanh với 2 - 3 bữa phụ ( Sữa, yaourt, bánh , cháo , bột )
 Mỗi bữa 1 chén bột/ cháo ( dưới 2 tuổi) hoặc cơm ( trên 2 tuổi) phải đủ chất dinh dưỡng
 Các bữa ăn cách nhau mỗi 3 giờ
 Các thức ăn phải được nấu nhừ nhuyễn để dễ tiêu hóa
 Các bữa ăn phải có chén riêng, mẹ nên khuyến khích trẻ ăn
 Chỉ nên cho ăn cơm khi trẻ đủ 8 răng hàm ( thường là 24 tháng tuổi)

để can thiệp kịp thời, tránh để hậu quả lâu dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status