Các giai đoạn phát triển của trẻ và cách nuôi dưỡng
Gửi lúc 14:58 - Mon, 13/10/2008
Từ khi hình thành đến khi trưởng thành (15 – 20 tuổi ) trẻ em trải qua 6 giai đoạn phát triển : Giai đoạn bào
thai; Giai đoạn sơ sinh; Giai đoạn nhũ nhi; Giai đoạn răng sữa; Giai đoạn thiếu niên. Giai đoạn dậy thì Các giai
đoạn có đặc điểm phát triển và nhu cầu nuôi dưỡng khác nhau.
Giai đoạn bào thai
Là từ lúc thụ thai đến khi trẻ chào đời, trung bình là 255 đến 285 ngày ( ta thường nói 9 tháng 10 ngày), tính
từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Để trẻ khỏe mạnh thông minh thì mẹ không được mắc bệnh và cần
tăng 10 -12 kg trong suốt thời gian mang thai. Nuôi dưỡng trẻ thông qua nuôi dưỡng bà mẹ. Bé khỏe mạnh là
bé khi sanh ra cân năng trung bình là 3000gr (2500 -3500gr), dài trung bình 50cm (48 -52cm) và không có dị
tật bẩm sinh.
Chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ trong giai đoạn này cần như sau:
Mẹ ăn 3 -5 bữa trong một ngày, ăn đủ các nhóm thức ăn. Không kiêng cữ một loại thực phẩm nào.
Từ tháng thứ 6 trở đi nên ăn thêm một bữa hoặc ăn thêm một chén trong một bữa.
Nên ăn nhiều thực phẩm có chất đạm tốt như thịt, cá trứng, sữa( 300ml/ngày)
Uống nhiều nước và ăn nhiều rau xanh tránh táo bón và cung cấp vitamin cho bào thai.
Giai đoạn sơ sinh: từ lúc sinh ra tới khi bé được 30 ngày.
Đặc điểm:
Cân nặng: Trẻ bình thường, mỗi ngày trung bình trẻ tăng 15gram, mỗi tháng trong quý đầu tăng ít nhất là
600gram. Trung bình khi 1 tháng trẻ nặng từ 3500 kg – 4500 kg.
Chiều cao: tăng khoảng 2cm( lúc 1 tháng trẻ cao từ 48 -52 cm)
Hệ tiêu hóa: Niêm mạc đường tiêu hóa chưa hoàn thiện. Chưa có men tiêu bột. Thức ăn duy nhất của bé là
sữa mẹ hoặc sữa thay thế. Trẻ biết bú mẹ ngay từ khi sinh ra.
Cách nuôi:
Trẻ có sữa mẹ: Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp tối ưu cho sự phát triển của trẻ, vì sữa mẹ là chất dinh
dưỡng duy nhất thỏa mãn nhu cầu phát triển và phù hợp với sinh lý của cơ thể trẻ.
Cách cho bú:
Bú mẹ ngay sau khi sanh ( 30 phút - 1 giờ ) để tận dụng nguồn sữa non và các chất kháng khuẩn.
Bú mẹ hoàn toàn trong 4 –6 tháng đầu: không cho trẻ uống nước, không rơ lưỡi, không uống nước trái cây.
Một lần bú cho trẻ bú hết một bên bầu vú, lần sau sẽ bú bên kia.
Trẻ không có sữa mẹ: là những trẻ không có mẹ ( con nuôi, mồ côi, mẹ bị bệnh nặng ) hoặc trẻ bị bệnh
khác ngoài sữa.
Sau 6 tháng ttrẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
Cách nuôi dưỡng:
Từ 2 tháng đến 4 tháng: chỉ cho trẻ bú mẹ hoặc bú bình (giống như giai đoạn sơ sinh)
Khi trẻ được 4 tháng tuổi, với trẻ bú mẹ thì : nếu trẻ tăng dưới 500gr trong một tháng thì phải cho trẻ tập ăn
dặm (bột), nếu trẻ tăng trên 500gr trong một tháng thì vẫn tiếp tục cho bú mẹ đến 6 tháng.
Tiếp tục bú mẹ theo nhu cầu của trẻ, bú càng nhiều càng tốt.
Khi bé được 4 – 6 tháng: Tập ăn dặm bằng bột loãng: Tập ăn từ ít (1 - 2 muỗng bột) đến nhiều (1/3 - 1/2
chén - 1 chén/ ngày); từ lỏng đến đặc ( từ bột 5% đến bột 10%); từ ít chất (bột gạo + một loại thực phẩm
khác như trứng hoặc sữa...) đến nhiều chất (bột + đạm: thịt , trứng, sữa, tàu hủ ... + dầu + lá rau xanh ...).
Ngay từ tuổi này trẻ cũng đã ăn được xác ( cái ) thức ăn , nếu chỉ cho trẻ ăn nước thì sẽ bị thiếu chất dinh
dưỡng ( sắt và Protein). Không nên nêm muối, đường, bột ngọt vào bột của trẻ.
Nếu trẻ nuôi bằng sữa bình thì ngày bú 6 cữ + 2 cữ bột
Đến khi 6 tháng, tất cả các trẻ phải được cho ăn dặm bằng bột đủ 4 nhóm thức ăn (bột + đạm + dầu + rau).
Ngày ăn 3-4 bữa bột (hoặc cháo)
Bú mẹ kéo dài đến 2 tuổi
Giai đoạn răng sữa: là giai đoạn từ lúc 1 tuổi tới khi bé được 6 tuổi ( giai đoạn nhà trẻ và mẫu
giáo)
Sự phát triển: tốc độ lớn châm hơn giai đoạn trước.
Cân nặng : Mỗi tháng tăng từ 100gram – 150gram, 4 tuổi nặng gấp 3 lúc sinh , đến 6 tuổi cân năng trung
bình từ 14 kg -24kg Tỷ lệ mỡ trong cơ thể thấp nhất so với các lứa tuổi nên nhìn trẻ có vẻ gầy ốm
Chiều cao: Mỗi tháng tăng từ 1cm – 1,5cm, 4 tuổi cao gấp đôi lúc sinh , đến 6 tuổi trẻ cao từ 105cm –115 cm
Vòng đầu bằng người lớn( 55cm), tổ chức não trưởng thành bằng 100% người lớn.
Hệ tiêu hóa: Đã hoàn thiện, Trẻ đã mọc đủ 8 răng hàm
Tò mò, hoạt động nhiều, ham học hỏi, thích tự làm việc.
Có những hoạt động giao tiếp, ham chơi hơn ăn
Cách nuôi:
Dưới 2 tuổi: Tiếp tục bú me cho đến khi 2 tuổiï và ăn 5 bữa bột hoặc cháo.
Lớn hơn 2 tuổi: ăn 3 bữa cùng gia đình với ưu tiên các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, như 1 chén cơm với
thịt, cá,... ,rau xanh với 2 - 3 bữa phụ ( Sữa, yaourt, bánh , cháo , bột )
Trẻ 12-20 tuổi: nhu cầu dinh dưỡng cao hơn người lớn.
Cần khuyến khích trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng : đa dạng thực phẩm nhưng cũng cần hạn chế những thức ăn
nhanh và thói quen vừa ăn vừa xem TV để tránh béo phì cho trẻ.
Kết luận
Mỗi một lứa tuổi có đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng, nếu áp dụng chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng đúng , trẻ
sẽ có một sức khoẻ tốt. Để xác định trẻ đã đủ chất dinh dưỡng hay chưa cách tốt nhất là theo dõi cân nặng
và khám sức của trẻ mỗi tháng để can thiệp kịp thời, tránh để hậu quả lâu dài.
Theo:
Nguyễn Thị Hoa - Trưởng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng I