Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 1
KỸ THUẬT ĐA ANTEN
Đa anten là tên chung cho cho tập hợp những kỹ thuật dựa trên việc sử dụng nhiều
anten ở phía thu/phía phát, và ít nhiều kết hợp với kỹ thuật xử lý tín hiệu, thường được gọi
là MIMO. Kỹ thuật đa anten có thể được sử dụng để nâng cao hiệu năng hệ thống, bao
gồm làm tăng dung lượng hệ thống (số người dùng trong một ô tăng) và tăng vùng phủ
(mở rộng ô) cũng như là làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ.
Cấu hình đa anten
Một trong những đặc tính quan trọng trong cấu hình đa anten là khoảng cách giữa
các phần tử anten do quan hệ giữa khoảng cách các anten có mối quan hệ tương quan
tương hỗ giữa fading kênh vô tuyến tại các anten khác nhau (được xác định bởi tín hiệu tại
các anten). Các anten được đặt xa nhau để độ tương quan fading thấp. Ngược lại, các
anten được đặt gần nhau để độ tương quan fading cao, bản chất là các anten khác nhau sẽ
có fading tức thời tương tự nhau.
Khoảng cách thực tế cần thiết giữa các anten để độ tương quan cao/ thấp phụ thuộc
vào bước sóng, tương ứng là tần số sóng mang được sử dụng. Tuy nhiên, nó cũng phụ
thuộc vào kịch bản khi triển khai. Trường hợp các anten trạm gốc, môi trường macro-cell
(tức là ô lớn và vị trí anten trạm gốc phải cao), khoảng cách anten vào khoảng 10 bước
sóng thì mới đảm bảo độ tương quan thấp, trong khi đó thì khoảng cách anten cho máy
đầu cuối di động khoảng nửa bước sóng. Lý do khác nhau giữa trạm gốc với máy đầu cuối
di động là do trong kịch bản macro, phản xạ đa đường gây ra fading chủ yếu xuất hiện ở
những vùng gần xung quanh máy đầu cuối di động. Do đó, khi nhìn từ vị trí máy đầu cuối
thì ta thấy là những đường khác nhau đi đến trong một góc lớn, độ tương quan vẫn sẽ
thấp với khoảng cách anten tương ứng nhỏ. Còn nhìn ở vị trí trạm gốc, những đường khác
nhau sẽ đến trong một góc nhỏ hơn nhiều, nên khoảng cách anten phải đủ lớn để độ tương
quan thấp.
Trong kịch bản triển khai khác, ví dụ triển khai kịch bản micro-cell với các anten
trạm gốc thấp hơn nóc nhà và triển khai trong nhà. Môi trường trạm gốc lúc
trong hình 1.
Hình 1. Mô hình kênh MIMO với Nt anten phát và Nr anten thu
Ma trận kênh H cho mô hình MIMO được biểu diễn như sau:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 3
r
N
t
N
r
2N
r
là số liệu phát.
T
y,,y,yy
r
N21
là số liệu thu.
T
η,η,ηη
r
N21
là tạp âm Gaus trắng phức của N
r
máy thu.
T là ký hiệu phép toán chuyển vị.
Khi đó, quan hệ giữa tín hiệu đầu vào x với tín hiệu đầu ra y được xác định bởi
biểu thức sau:
r
N
2
hhh
hhh
y
y
y
(2)
Có thể viết lại quan hệ vào ra kênh ma trận NrxNt trong phương trình (2) như sau:
y= Hx+ (3)
3. Kênh SVD MIMO
3.1 Mô hình kênh SVD MIMO
Xét một hệ thống truyền dẫn vô tuyến bao gồm N
t
anten phát và N
r
anten thu như
trên hình 1.
Để tiện phân tích ta viết lại phương trình (3)
y= Hx+ (3)
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 4
Trong đó là vector AWGN phức có phân bố
),0(
. Khi khoảng cách giữa các anten lớn hơn nửa bước sóng
và môi trường nhiều tán xạ, ta có thể coi H có các hàng và các cột độc lập với nhau. Khi
này, phân chia giá trị đơn SVD cho ta:
H=UDV
H
(4)
Với U và V là các ma trận nhất phân có kích thước N
r
xN
r
và N
t
xN
t
Toán tử (.)H là chuyển vị Hermitian
Đối với ma trận nhất phân, ta có :UU
H
=I
Nr
và VV
H
=I
Nt
D là ma trận có kích thước N
r
x N
t
, gồm N
A
giá trị đơn không âm được ký hiệu
t
N
r
NH,H
t
N
r
N,HH
Q
H
H
(7)
Các cột của ma trận U là vector eigen của HH
H
còn các cột của ma trận V là vector
eigen của H
H
H. Số các giá trị eigen khác không của HH
H
chính bằng hạng của ma trận
này.
Nếu N
t
00λ00
000λ0
0000λ
D
1/2
r
N
1/2
2
1/2
1
(8)
Trong trường hợp này ma trận V chỉ có N
r
x
N
r
, nhưng ma trận D là ma trận N
t
x N
r
được tạo thành từ ma trận đường chéo N
t
x N
t
theo
sau là N
r
– N
t
hàng bằng không:
(9)
Trường hợp đặc biệt khi chỉ có một anten phát và N
r
anten thu.
Thao tác trên được gọi là phân chia giá trị đơn ma trận H. Kết quả phân chia cho ta
các đường chéo khác không với kích thước xác định theo (4).
Giả sử ta nhân trước x với V và y với U
H
ta được:
η
~
DxηUVxUDVUη)(HVxUy
~
yU
HHHHH
(10)
Trong đó : yUy
~
H
ηUη
~
H
Phương trình này dẫn đến mô hình SVD MIMO sau:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 6
c
Ν
trong máy thu nhưng trong miền
không gian.
Có thể coi N
A
luồng song song được truyền trong các kênh không gian trực giao.
Giống như đối với OFDM, có thể sử dụng mô hình kênh phađinh phẳng song song tương
đương để phân tích và mô phỏng kênh MIMO.
Hình 2. Phân chia kênh phađinh phẳng MIMO thành các kênh phađinh phẳng song song
tương đương dựa trên SVD
n được coi là độ lợi kênh và có thể được sử dụng để đánh giá BER tại phía thu.
Nếu ta sử dụng tách sóng nhất quán và coi rằng đã biết
i
thì SNR tại máy thu được xác
định như sau:
2
n
nn
2
n
n
2
n
σ
λE
σ
λx
γ (13)
0
nb
n
r
N
λ2E
QP
(15)
Trong đó
n
r
P
là xác suất lỗi bit của một kênh không gian.
Xác suất lỗi bit trung bình được tính như sau:
A
N
1n
n
r
P
Biểu thức (18) cho phép xây dựng hệ thống SVD MIMO tối ưu gồm N
A
kênh pha
đinh phẳng song song như trên hình (3)
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 8
Hình 3. Mô hình SVD MIMO tối ưu
Từ hình 3, thấy rằng tại máy phát SVD MIMO , trước hết luồng ký hiệu số liệu
được chia luồng không gian thành N
t
luồng . Sau đó, các luồng này được nhân với các cột
của ma trận V để nhận được các ký hiệu phát vào không gian. Tại máy thu SVD MIMO,
các ký hiệu thu được nhân với ma trận U
H
để tách ra các luồng không gian. SVD ta sẽ
được N
A
kênh không gian song song xác định theo công thức (4)
4. Đa anten thu
Kỹ thuật đa anten được sử dụng phổ biến nhất trong lịch sử và ít phức tạp nhất là
kỹ thuật đa anten thu. Nó thường được gọi là phân tập thu hoặc phân tập Rx mặc dù
không phải lúc nào mục đích của kỹ thuật này cũng là phân tập để chống lại fading kênh
vô tuyến.
4.1. Mô hình kênh phân tập anten thu
Trong mô hình kênh fadinh có 1 anten phát và N
r
anten thu, ma trận kênh như sau:
H = [h
2
(1),…, y
Nr
(1). Nếu các anten đủ cách xa
nhau, ta có thể coi độ lợi kênh h
m
độc lập Rayleigh với nhau và ta nhận được độ lợi phân
tập N
r
.
Đối với điều chế BPSK, xác suất lỗi được tính như sau:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 9
)γhQ(
2
(21)
Trong đó γ = 2Eb/N0 trong điều kiện kênh fadinh Rayleigh với độ lợi hm có phân
bố đồng nhất độc lập: N(0,σ2)
Nr
1m
2
m
2
hh (22)
Với ||h||
2
Nr
1m
2
2
(1)
m
h
r
N
1
h
r
N
1
(24)
Sẽ hội tụ vào 1 khi N
r
lớn (giả thiết rằng độ lợi kênh được chuẩn hóa đến phương
sai bằng 1)
4.2. Sơ đồ kết hợp chọn lọc SC
Sơ đồ này sử dụng bộ kết hợp đơn giản nhất, trong đó bộ kết hợp chỉ đơn giản ước
tính cường độ tín hiệu tức thời trong N
r
anten thu, sau đó chọn lựa anten có tín hiệu mạnh
nhất. Vì SC loại bỏ năng lượng hữu ích từ các luồng nên sơ đồ này rõ ràng không phải là
tối ưu, tuy nhiên do tính đơn giản của nó nên nó được sử dụng trong nhiều trường hợp khi
cần giảm bớt các yêu cầu phần cứng. Sơ đồ kết hợp chọn lọc được cho trên hình 4.
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 10
trong đó E
m
là năng lượng tín hiệu tức thời trên nhánh i, còn E
0
là năng lượng công suất
tín hiệu trên một nhánh và /2Nσ
0
0
m
là mật độ tạp âm song biên nhánh m.
Xác suất SNR trên mỗi nhánh nhỏ hơn hoặc bằng một giá trị
g
γ
cho trước như sau:
0
/γ
g
γ
gm
e1)γP(γ
(25)
Xác suất tất cả SNR trong tất cả các nhánh cùng nhỏ hơn
g
γ như sau:
r
N
0
/γ
g
P(ít nhất một nhánh
)(γP1)γ
g
r
Ng
(27)
Lấy vi phân ta có thể tìm được mật độ xác suất, lấy tích phân mật độ xác suất ta sẽ
tính được SNR trung bình
r
N
γ
như sau:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 11
r
N
1m
m
1
0
γγ (28)
Phương trinh cho thấy khi số anten thu N
r
*
1
(29)
Giả thiết là tín hiệu phát chỉ bị ảnh hưởng của fading không chọn lọc tần số và tạp
âm trắng, tức là không có hiện tượng tán thời kênh vô tuyến, tín hiệu thu ở các anten khác
nhau trong hình 6.1 được biểu diễn như sau:
η.xh
η
η
.x
(30)
Trong đó s là tín hiệu phát, vector
h
là độ lợi kênh phức và vector
n
là tạp âm gây
. Về mặt tạo búp sóng phía thu, lựa
chọn các trọng số anten theo (31) tương ứng với một búp phía thu có độ lợi lớn nhất theo
hướng của tín hiệu. Do đó, sử dụng đa anten thu có thể làm tăng tỷ số tín hiệu/tạp âm sau
bộ kết hợp tỷ lệ với số lượng anten thu.
MRC là một chiến lược kết hợp anten thích hợp khi tín hiệu thu chủ yếu bị ảnh
hưởng bởi tạp âm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tín hiệu thu bị ảnh hưởng chính của
nhiễu từ nhiều anten phát trong hệ thống hơn là tạp âm. Trong hoàn cảnh số lượng tín hiệu
nhiễu khá lớn xấp xỉ cường độ tín hiêu, MRC vẫn là một lựa chọn tốt. Lúc này, nhiễu tổng
sẽ xuất hiện tương đối giống tạp âm, không có hướng đến cụ thể. Tuy nhiên, trong những
hoàn cảnh chỉ có một nguồn nhiễu trội (tổng quát lên, số lượng nguồn nhiễu trội có giới
hạn), như được minh họa trong hình 6, hiệu năng sẽ được cải thiện nếu thay vì lựa chọn
trọng số anten để tối đa hóa tỷ số tín hiệu/ tạp âm sau khi kết hợp, thì các trọng số sẽ được
lựa chọn để triệt nhiễu. Về mặt tạo búp sóng thu, điều này tương ứng với việc làm yếu đi
búp sóng phía nhiễu và tập trung búp sóng theo hướng tín hiệu.
4.4. Kết hợp loại bỏ nhiễu IRC
Áp dụng việc kết hợp anten với mục tiêu là triệt nhiễu được gọi là Kết hợp loại bỏ
nhiễu IRC.
Trong trường hợp có một nguồn nhiễu trội như đã trình bày sơ lược trong hình 2.6,
biểu thức (30) có thể mở rộng:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 13
η.xh.xh
η
η
.x
h
h
.x
h
-1 giải pháp không tầm thường để biểu thị sự linh hoạt khi lựa
chọn vector trọng số. Sự linh hoạt này có thể được sử dụng để triệt nhiễu trội. Đặc biệt
hơn, trong trường hợp tổng quát với N
r
anten thu sẽ có khả năng (ít nhất là về mặt lý
thuyết) triệt tiêu hoàn toàn N
r
-1 nguồn nhiễu. Tuy nhiên với một lựa chọn trọng số anten
nào đó mà có thể triệt hoàn toàn một số nguồn nhiễu trội thì có thể làm tăng tạp âm sau
khi kết hợp anten.
1
h
2
h
1,1
h
2,1
h
1
x
Hình 6. Kịch bản đường xuống với một nguồn nhiễu trội
Vì vậy, cũng giống như cân bằng tuyến tính, khi lựa chọn trọng số anten
w
phải
đảm bảo tối thiểu hóa sai số trung bình quân phương:
vô tuyến (cân bằng ZF, MMSE )
Kết hợp anten thu tuyến tính là cách xử lý tuyến tính được áp dụng với tín hiệu thu
tại các anten khác nhau, tức là xử lý trong miền không gian với mục đích làm tối đa tỷ số
SNR sau bộ kết hợp (kết hợp dựa trên MRC), triệt các nguồn nhiễu cụ thể.
Do đó, trong trường hợp chung của kênh lựa chọn tần số và đa anten thu, cả hai
phương pháp xử lý/lọc tuyến tính không gian/thời gian đều được áp dụng như minh họa
trong hình 8, ở đó việc lọc tuyến tính có thể được coi là chung cho các trọng số anten
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 15
trong hình 4. Các bộ lọc được lựa chọn để làm giảm ảnh hưởng của tạp âm, nhiễu và méo
tín hiệu.
Đặc biệt trong trường hợp việc chèn thêm tiền tố chu kỳ được áp dụng ở phía phát
thì quá trình xử lý tuyến tính không gian/tần số được minh họa như hình 9
x
ˆ
Hình 8. Xử lý tuyến tính không gian/thời gian 2 chiều (2 anten thu)
1
y
Nr
y
Máy thu
Tx
Máy phát
DFT
Trạm gốc hoặc
máy đầu cuối
DFT
+
anten phát rất phù hợp với đường xuống, như là nhiều anten phát ở trạm gốc. Trong
trường hợp này, việc sử dụng nhiều anten phát đưa ra cơ hội phân tập và tạo búp mà
không cần thêm anten thu.Mặt khác, vì lý do độ phức tạp nên việc sử dụng nhiều anten
phát cho đường lên tức là ở máy đầu cuối không mấy hấp dẫn. Trường hợp này tốt hơn là
sử dụng đa anten thu ở trạm gốc.
5.1 Phân tập phát
Nếu không biết các kênh đường xuống của các anten phát khác nhau có khả dụng
không, kỹ thuật anten phát không thể thực hiện tạo búp sóng được mà chỉ thực hiện phân
tập. Để đạt được phân tập thì giữa các kênh của các anten khác nhau phải có độ tương
quan rất thấp.
Sơ đồ Alamouti hai anten phát với một anten thu
Sơ đồ Alamouti được thiết kế cho hai anten phát, tuy nhiên ở mức độ nhất định có
thể được tổng quát hóa cho nhiều hơn hai anten.
Với pha đinh phẳng, hai anten phát và một anten thu, có thể viết kênh thu đơn như
sau:
η(k)(k)
2
(k)x
2
h(k)
1
(k).x
1
hy(k)
(35)
Trong đó, h
n
= h
1
(k) =
h
1
(k+1), h
2
= h
2
(k) = h
2
(k+1), khi này có thể viết ma trận vào dạng sau:
*
1)η(k
η(k)
x
x
.
hh
hh
*
1)y(k
x-
2
x
*
1
x
1
jθ
e
1
β
1
h
2
jθ
e
2
β
2
h
2
h
1
x
~
2
x
ˆ
1
η
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 18
a. Mã hóa và chuỗi phát
Trong khoảng thời gian cho trước một ký hiệu, hai ký hiệu được truyền đồng thời
từ hai anten phát. Ký hiệu tín hiệu phát từ anten một là x
1
(k)=x
1
và tín hiệu phát từ anten
hai là x
2
(k)=x
2
. Trong thời gian ký hiệu tiếp theo, x
1
(k+1) =
*
2
x
được phát đi từ anten
một và x
2
(k+1)=
*
1
x được phát đi từ anten hai.
Ký hiệu h
1
(k) và h
212
ηx
2
hxh1)y(ky
(39)
Trong đó y
1
và y
2
là ký hiệu cho các tín hiệu thu tại thời điểm k và k+1,
1
η và
2
η là
các biến ngẫu nhiên phức thể hiện tạp âm có phân bố Gauss.
Từ (38), có thể viết lại phương trình (39) vào dạng sau:
η
Hx
y
(40)
Trong đó:
T
*
2
y
và
T
η
1
ηη
*
2
b. Sơ đồ kết hợp
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 19
Giả thiết rằng máy thu hoàn toàn biết được trạng thái kênh. Bộ kết hợp thực hiện
nhân bên trái vector thu y với ma trận chuyển vị Hermitian H
H
để được :
η
~
ηH
y
y
.
hh
hh
=
η
~
ηH
x
x
.
h-h
hh
.
hh
hh
H
2
1
*
1
*
2
21
1
*
2
2
*
1
2
1
2
2
2
1
(42)
Sử dụng khai triển (42), được các ước tính của các ký hiệu x
1
và x
2
như sau:
*
2
*
1
2
2
2
c.Quy tắc quyết định khả năng giống cực đại
Từ hai tín hiệu đầu ra bộ kết hợp, bộ tách sóng khả giống cực đại sẽ chọn ra hai tín
hiệu ước tính x
1
và x
2
sao cho:
)x,x
~
d()x,x
~
d(
k111
(44)
)x,x
~
d()x,x
~
d(
k222
(45)
d. SNR tổng hợp có thể được tính như sau (nếu coi rằng năng lượng tín hiệu phát
chia đều cho hai anten)
2
s
E
)σβ(β
)β(β
σ
β
2
2
1
2
n
(46)
Trong đó E
b
là năng lượng của tín hiệu phát,
/2
0
Nσ
2
với N
0
là công suất tạp
âm đơn biên.
Sơ đồ Alamouti hai anten phát và Nr anten thu
Bộ ước
tính kênh
Bộ ước
tính kênh
Bộ kết
hợp
Bộ tách sóng ML
Anten phát 1 Anten phát 2
~
2
x
~
12
h
22
h
12
h
22
h
1
x
ˆ
2
x
ˆ
1
η
1
η
2
η
2
η
Hình 11.Sơ đồ Alamouti hai anten phát và hai anten thu
Trong trường hợp này sử dụng hai anten phát và N
Anten phát 2 h
21
h
22
Bảng 2 .Định nghĩa các kênh giữa anten phát và anten thu
Anten thu 1 Anten thu 2
Thời gian k h
11
h
12
Thời gian k+1 h
21
h
22
Bảng 3. Ký hiệu các tín hiệu thu tại hai anten thu
Biểu thức cho các tín hiệu thu như sau:
(k)ηxhxhy(k)y
122111111
(47a)
1)(kηxhxhy1)(ky
1
*
1
21
*
2
1
=H
1
x+N
1
(48)
Trong đó:
T
*
211
yyY
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 22
T
h
*
h
hh
H
*
1121
11
1
21
Trong đó:
T
432
*
yyY
*
hh
hh
H
12
*
22
2212
2
2
H
22
H
22
H
2
NHxHHYH
(51)
Sau đó kết hợp hai phương trình (50) và (51) với nhau:
2
H
21
H
12
H
21
H
12
H
2
H
1
NHNH].HHHH[YHYH
~
xx
(52)
Trong đó:
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 23
1222
2212
H
2
h
*
h
h
*
h
H
Khai triển (52) ta được:
1)(k
*
ηh.xββββx
ˆ
2
222
12
1
211
11
2
2
22
2
21
2
12
2
112
(54)
Sau đó các tín hiệu kết hợp này được đưa đến bộ tách sóng khả giống cực đại, tại
đây ước tính cho x
1
được chọn dựa trên các tiêu chuẩn:
Chọn x
i
nếu và chỉ nếu:
2
2
22
2
21
2
12
2
11
(55)
Hay:
ki),
k
x,
1
x
~
(d)
i
x,
1
x
~
(d
22
(56)
Tương tự đối với x
β
γ
2
2
1m
2
1n
nm
2
1
m
2
1
n
2
nm
2
2
2
1m
2
1n
2
nm
của tín hiệu phát đi. Hình 12 minh họa với trường hợp 2 anten phát. Phân tập trễ có thể
được mở rộng với nhiều hơn 2 anten phát với trễ tương ứng khác nhau trên mỗi anten.
Phân tập trễ bản chất là không thể thấy được ở máy đầu cuối. Ở đó chỉ có thể thấy
được một kênh vô tuyến gây ra tán thời. Do đó, phân tập trễ có thể được đưa vào hệ thống
truyền thông di dộng một cách dễ dàng mà không cần bất kỳ một sự hỗ trợ đặc biệt nào
về chuẩn giao diện vô tuyến. Phân tập trễ cũng được áp dụng trong một số sơ đồ truyền
dẫn cơ bản, những sơ đồ này được thiết kế để lợi dụng fading chọn lọc tần số, bao gồm
WCDMA và CDMA2000.
Hình 12. Phân tập trễ 2 anten
Phân tập trễ vòng CDD
Phân tập trễ vòng CDD tương tự như phân tập trễ, khác ở chỗ là CDD hoạt động
theo khối và áp dụng dịch vòng thay vì trễ tuyến tính cho các anten khác nhau. Do đó
CDD được áp dụng cho những sơ đồ truyền dẫn dựa trên khối như OFDM và DFTS-
OFDM.
Trong trường hợp truyền dẫn OFDM, dịch vòng tín hiệu miền thời gian thì tương
ứng là dịch pha phụ thuộc tần số trước khi điều chế OFDM như được minh họa trong hình
6.8b. Giống như phân tập trễ, nó cũng tạo ra tính lựa chọn tần số giả ở máy thu.
Kỹ thuật đa Anten Lớp Cao học Kỹ thuật điện tử
Nhóm học viên: Ngô Thanh Tuấn – Cao Hữu Vinh Trang 25
0
a
1
a
2
a
3
a
0
mà ở đó việc điều chế các ký hiệu được ánh xạ sang miền thời gian và không gian (đa
anten phát) để đạt được phân tập. Mã hóa khối không gian - thời gian STBC phức tạp hơn
sơ đồ phân tập phát không gian- thời gian STTD, STBC là một phần của chuẩn 3G
CDMA từ phát hành đầu tiên của nó.
Như minh họa trong hình 2.14, STTD thực hiện theo từng cặp ký hiệu điều chế.
Các ký hiệu điều chế được phát trực tiếp trên anten đầu tiên. Tuy nhiên, trên anten thứ hai
thứ tự của các ký hiệu sẽ đảo lại, đồng thời đảo dấu và chuyển liên hợp phức.