Dùng Thuốc Trong Việc Điều Trị Viêm Phế Quản Mạn - Pdf 17

Dùng Thuốc Trong Việc Điều Trị Viêm Phế Quản Mạn
Viêm phế quản mạn có biểu hiện: ho và khạc đờm, mỗi năm ít nhất 3
tháng (nhưng không nhất thiết liên tục), kéo dài ít nhất 2 năm (nhưng không
phải do lao, do nấm phổi, apxe, giãn phế quản). Có những đợt cấp tính dẫn
đến hậu quả giãn phế quản, tắc nghẽn phế quản (gọi là viêm phế quản mạn
tính tắc nghẽn) làm giảm thông khí, giãn phế nang, thiểu năng hô hấp, tim
phổi mạn
Nguyên nhân chủ yếu gây tăng tiết ở phế quản là do Syntyal respiratory
virus (SRV), Myxovius in fluluenze (MVI), Mycoplama pneumoniae. Tuy nhiên
các vi khuẩn từ các ổ nhiễm khuẩn ở đường hô hấp trên, răng, miệng, xoang, có
thể gây bội nhiễm, tạo nên biến chứng thứ phát của một đợt tăng tiết phế quản cấp
tính của viêm phế quản mạn.
Các thuốc chữa triệu chứng
-Thuốc long đờm: Chất tiết ứ đọng ở phế quản làm trở ngại ở đường dẫn
khí. Thuốc long đờm tạo điều kiện để phản xạ ho tống chất tiết ra ngoài làm thông
đường dẫn khí. Nếu chất tiết ít nhưng đặc khó tống ra ngoài thì dùng thuốc làm
loãng chất tiết như natri benzoat, terpinhydrat. Nếu chất tiết nhiều, đặc, việc làm
loãng sẽ tăng thể tích gây khó khăn cho việc thông khí thì dùng các chất khử chứa
lưu huỳnh như acetylstein, carboxystein. Các chất này tác dụng lên pha gel của
chất tiết, làm đứt các cầu nối disulfure của các glycoprotein làm thay đổi cấu trúc
và hủy chất tiết. Có thể dùng thuốc làm giảm ho nhưng với liều thích hợp, vì liều
quá cao sẽ làm mất hết phản xạ ho, nghĩa là cho việc tống chất tiết bị trở ngại.
- Thuốc kháng viêm: Viêm làm cho việc thông khí bị trở ngại. Dùng
corticoid uống, xông hay hít, trường hợp nặng dùng dạng tiêm để kháng viêm. Lưu
ý: với dạng uống và tiêm chỉ dùng liều vừa đủ hiệu lực trong thời gian ngắn
(không quá 10 ngày) để tránh tác dụng phụ toàn thân (gây ứ nước, giảm khả năng
đề kháng). Với dạng hít thường ít khi gây tác dụng phụ toàn thân, có thể dùng kéo
dài hơn, tuy nhiên dùng kéo dài có thể gây bội nhiễm nấm nên sau mỗi lần dùng
cần súc miệng họng thật sạch.
- Thuốc chống tắc nghẽn phế quản: Dùng thuốc làm giãn phế quản nhằm
giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí.

sinh.
Tùy mức nguy hiểm và độ nặng do chủng vi khuẩn gây ra mà có thể dùng
kháng sinh thông thường hay kháng sinh mạnh, dùng một hay phối hợp 2 kháng
sinh. Mỗi đợt dùng nếu thể nhẹ 8-15 ngày, nếu thể nặng kéo dài 4-6 tuần.
+ Nếu mầm bệnh là S. pneumoniae (đây là vi khuẩn gram dương, kị khí) là
nguyên nhân chính gây viêm phổi đồng thời gây ra nhiều bệnh khác, nhất là viêm
màng não nhiễm khuẩn thì chọn theo thứ tự độ mạnh một trong 3 kháng sinh sau
tùy sự đáp ứng: benzylpenicilin, ceftriazon, và imipenem.
+ Nếu mầm bệnh là H . influenzae (vi khuẩn hình que, thuộc gram âm, hiếu
khi, nhưng cũng có thể sống trong môi trường kị khí): đây không phải là nguyên
nhân gây ra cúm, nhưng thường gây bội nhiễm khi bị cúm và chịu nhiều trách
nhiệm trong việc gây ra triệu chứng khi bị cúm. Sau S. pneumonia, nó là vi khuẩn
chủ yếu thứ hai gây viêm phổi. Dùng ampicilin (tiêm tĩnh mạch) hoặc dùng
augmentin (amoxicilin + acidclavulani) dùng uống. Acid clavulanic ức chế enzym
gây kháng thuốc và tăng hiệu lực của amoxicilin.
+ Nếu mầm bệnh là Branhamella (Mo raxella) catarrhalis: Là vi khuẩn gây
nên viêm phế quản, viêm phế quản-phổi, viêm thanh quản, viêm xoang. Với người
hút thuốc lá nó là tác nhân phối hợp quan trọng gây COPD. Dùng augmentin (như
với trường hợp H. Influenzae) phối hợp với erythromycin (truyền tĩnh mạch) hoặc
dùng augmentin (như trên) phối hợp với cefaclor (uống). Cefaclor thuộc nhóm
cephalsporin thế hệ 1.
+ Nếu mầm bệnh là Enterobacteriaceae; Dùng gentamycin (tiêm bắp) phối
hợp với norfloxacin (uống).
+ Nếu mầm bệnh là Pseudomonas aeruginosa: Đây là trực khuẩn mủ xanh,
thuộc Gram âm (-) hiếu khí, song có thể tùy nghi tồn tại tăng sinh trong điều kiện
kị khí. Nó có thể tăng sinh trong điều kiện yếm khí bằng cách sử dụng nitrat như là
chất nhận điện tử cuối cùng, nhưng ngay cả khi thiếu nitrat chúng cũng có thể lên
men arginin bằng cách phosphoryl hóa ở mức cơ chất. Vì thế nó có thể sống ở mọi
nơi kể cả ở dụng cụ y khoa, có thể nhiễm vào da hay các bề mặt các bộ phận khác
khác trong cơ thể động vật, người (kể cả trường hợp bị viêm phổi xơ nang, vi

được điều trị tích cực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status