Giáo trình kiến trúc dân dụng 11 - Pdf 17

51
độ lớn. Nếu nhà ít tầng có tải trọng không lớn lắm và đất có cường độ trung bình thì
thông dụng nhất là là loại móng có mặt cắt hình thang và hình giật cấp.
Loại móng băng với cột chôn sâu dùng khi lớp đất yếu quá dày và khi nhà cần
có cấu tạo tầng hầm.
Áp dụng cho các công trình nhiều tầng kiểu khung và công trình công nghiệp.  Móng bè: Khi tải trong của công trình quá lớn và bề rộng của các đáy móng
cột hoặc móng bằng gần sát nhau gây nên hiện tượng chống áp suất trong đất
nền thì có thể liên kết các móng với nhau thành một mảng gọi là móng bè.
Diên tích đáy móng bè bằng diện tích xây dựng Một số nhà nhiều tầng để
hạng chế có hiệu quả chấn động tương đối lớn hoặc sự lún không đều, với
yêu cầu móng có cường độ và độ cứng cao thì móng bè có thể có phạm vi áp
dụng rất lớn. Móng có thể thiết kế kiểu có dầm sườn với dầm sườn được bố
trí theo khoảng cách nhất định cho cả hai chiều hoặc không có dầm sườn.
 Móng cọc: Đối với nền đất yếu phải chiu tải trọng lớn của công trình mà
việc gia cố và cải tạo nền đất khó khăn làm tăng giá thành công trình, người
ta thường dùng móng cọc. Móng cọc gồm có cọc và đài cọc. Căn cứ vào đặc
tính làm việc của cọc trong đất người ta chia móng cọc ra làm hai loại: móng
cọc chống và móng cọc ma sát.
Móng cọc chống được dùng trong trường hợp dưới lớp đất yếu là lớp đất
rắn (đá) đầu dưới cọc đóng chặt vào lớp đất rắn và truyền tải trọng vào nó.
Nền móng cọc chống không bị lún hoặc lún không đáng kể. Trường hợp lớp
52
đất rắn ở quá sâu người ta dùng cọc ma sát thay cho cọc chống, cọc ma sát
truyền tải trọng công trình vào đất qua lực ma sát giữa đất và bề mặt của cọc.
Móng cọc trong nhiều trường hợp thuờng dùng tre gỗ vì dễ sản xuất và

nhà cấp IV
Đế móng thường đựơc xây 3 lớp gạch dày 210. Ở nơi khô ráo thì có thể dùng bê
tông gạch vỡ hoặc bê tông đá dăm dày 150-300mmm mác 50-100 (thường dày 200).
Đáy lót cát đầm chặt dày 50-100 hoặc bê tông gạch vỡ dày 100 mác 50.
Khi thiết kế móng ta cần có các số liệu :
 Chiều rộng đáy móng: B
m

 Chiều cao móng: H
m

 Chiều dày tường : b
t

b. Móng đá hộc: Móng đá hộc là loại phổ biến dung trong nhà dân dụng thấp
tầng nhất là những nơi có nhiều đá.
Do kích thước của đá không đều nhau cho nên bề dày của cổ móng ≥ 400mm.
Đối với móng cột bề dày của cổ móng ≥ 600mm. chiều rộng giật bậc bằng ½ chiều
cao bậc giật (b/h=1/2). chiều cao bậc giật thường lấy 350-600mm
Khi xây cần chú ý các mạch vữa ngang phải cùng nằm trên một mặt phẳng
ngang , tránh đá chèn nhau khi chịu lực, mạch vữa đứng không được trùng nhau để
tránh bị nứt theo chiều đứng,. Đá cong và dày không được dùng vì dễ bị gãy, gặp đá
lõm thì đặt chiều lõm xuống dưới để viên đá ổn định, mạch vữa không nên dày quá.
Với đá hộc mạch vữa xây là 30, vữa thường dùng vữa ximăng cát 1:4.
Lớp đệm thường là cát đầm chặt dày 5-10cm hoặc là lớp bê tông gạch vỡ ,bê
tông đá dăm 15-30cm tuỳ theo nền tình hình móng.
c. Móng bêtông: móng bê tông nói chung dùng xi măng làm vật liệu liên kết và
dùng những cốt liệu khác nhau như đá dăm, sỏi , cát , gạch vỡ tạo thành. Đối với
những ngôi nhà có tải trọng lớn hoặc móng sâu đều có thể dùng móng bê tông. Góc
cứng có thể đạt 45

 Tổ hợp nhiều công trình có độ cao khác nhau, chênh nhau >10m.
 Tải trọng công trình phân bố khác nhau
 Nền đất yếu có độ lún khác nhau
 Vị trí tiếp giáp giữa nhà cũ và nhà mới
Móng phải tách ra thành 2 phần riêng với chiều rộng của khe là 2-3m. Những
công trình có chiều dài lớn thì phải tách ra từng đoạn 20-30m.
Móng khe lún có 2 dạng chính:
 Kiểu thông thường (khi tải trọng nhỏ, móng có hình thức là móng lệch
tâm)
 Kiểu con sơn (ở vị trí giữa nhà cũ và nhà mới, móng mới và cũ tách rời
nhau).
b. Khe nhiệt độ (khe co dãn): Khe nhiệt độ là khe chống lại khả năng nứt nẻ do
ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ .
Khe nhiệt độ được thiết kế trong các trường hợp:
 Công trình xuất hiện nhiệt cục bộ hoặc sử dụng kết cấu không đồng nhất (
pha trộn kết cấu thép với bê tông hoặc thép đá)
 Điều kiện khí hậu chêch lệch giữa ngày và đêm lớn
 Có những vùng trên mặt bằng phát sinh nhiệt độ lớn (lò bánh mỳ, kho đông
lạnh )
55
Móng được làm chung không tách rời, còn từ cao độ măt nền trở lên các kết cấu
đứng đều tách rời thành từng phần riêng biệt. Độ rộng của khe là 2-3cm.
Khe co dãn và khe lún thường kết hợp với nhau.
Gồm có móng khe co dãn ở cột và móng khe co dãn ở tường.
c. Móng giật cấp: Khi làm nhà tên sườn dốc thì cao độ đáy móng không cùng
nằm rong một mặt phẳng mà nằm theo hình bậc thang. Độ dốc khác nhau thì thì giật cấp
khác nhau.
Trường hợp đất có độ sụt nhỏ, nếu độ cao giật cấp đé móng không nhỏ hơn
360mm và không lớn hơn 500 độ dài cấp giật lớn hơn 1000mm thì giật cấp thông
thường.Trường hợp đất có độ sụt nhỏ , nếu độ cao giật cấp đế móng ≥ 500mm thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status