L dịch thể có tỷ trọng cao v ở trạng thái sệt, lực đẩy nổi lmchomạt
khoan v cát đá không lắng chìm đợc dới đáy hố khoannên lấy
đợc dễ dng v do không vớng mạt khoan ở đáy lỗnên đẩy nhanh
tốc độ khoan nhất l khoan choòng. Khi mở rộng chân cọc nhất thiết
phải dùng vữa sét hoặc dung dịch khoan.
- Dung dịch vữa sét trong cọc khoan nhồi phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng phải lớn để tạo ra áp lực tác dụng lên vách lỗ khoan giữ ổn
định thnh vách dung dịch bentonite có tỷ trọng 1.05-1.25kg/cm
3
,
các dung dịch khác 1.15-1.35kg/cm
3
.
Chỉ tiêu nyđợc đo bằng tỷ trọng kế ở hiện trờng.
Để chống sự lắng đọng của mạt khoan, dung dịch có độ nhớt Marsh từ
1-20s đến 30-36s, đây l 1 đặc điểm biểu thị tính linh động dung dịch.
Chỉ tiêu nyđợc xác định bằng côn Marsh hoặc đo bằng thời gian
chảy của 500cm3 dung dịch qua phểu chuẩn.
ĐộpH củanớc cao hay thấp đều có khả năng ảnh hởng chất lợng
dung dịch vì gây ra phản ứng hoá học. Độ pH cho phép từ 7-9.5. Vùng
nớc lợ v nớc mặn dung dịch sẽ bị phân huỷphải xử lý trớc khi sử
dụng.
Độ phân tầng lớn sẽ gây ra kết tủa cơ học (tách nớc). Độ phân tầng 1
ngy đêm không lớn hơn 4-8%; đây l 1 đặc trngchotínhổnđịnhcấu
trúc của dung dịch.
Đo bằng trọng lợng nớc trên mặt dung dịch trong ống nghiệm sau 1
ngyđêm.
Độ thất thoát nớc biểu thị khả năng ổn định hmlợng nớc khi tiếp
xúc với đất đá. Trị số thất thoát cho phép khoảng 10-25cm
3
sau 30phút,
tạo lỗ theo công nghệ ny. Những năm gần đây, gu ngoạm đcợc chế tạo
đặc biệt nhằm lmchohm cứng hơn để phá đất đá v tạo lỗ. Nếu khối đá
kích cỡ nhỏ từ 10-50cm, dù kẹt dới chân ống vách cũng có thể ngoạm lên
đợc sau khi lừa khối đá vo trong ống 1 cách khéo léo (rút nhẹ v xoay
ống vách để lái khối đá vo bên trong).
-Nếu gặp khối đá lớn không đa đợc ống vo, có thể phá đá bằng phơng
pháp khác: dùng thuốc nổ nhng khống chế mức tối thiểu từ 30-100g cho
mỗi ngòi nổ rồi dùng gu ngoạm đo lên; trờng hợp không đợc gây nổ
phải dùng máy phá đá có lỡi đục tất cả nặng 4tấn hoặc có thể dùng hoá
chất.
- Nguyên tắc hạ ống vách ở nơi đất cứng: trớc khi hạ phải cho đầu khoan đi
tiền trạm 1 đoạn nếu cần còn phải đo rộng thêm ra khoảng 20cm để ống
vách bớt cản lực sẽ dễ dng tụt xuống. Đối với đất dính, việc đo tiền trạm
sẽ dễ dng v sâu hơn có khi đến 6m. Đối với đất rời dễ lún sụt, đất sét yếu
hoặc phù sa thì không những tránh đo tiền trạm m cònphảiđảm bảoổn
định của đất trong ống vách không bị trồi.
-Khi khoan v hạ ống vách thờng xảy ra các trờng hợp sau:
Trong lớp đất cát sỏi ngậm nớc, nếu đo tiền trạm cát sẽ đùn volm
cho đất xung quanh bị rời rã v tạo những khe rỗng bên ngoiốngvách.
Mặc nhiên, đờng kính cọc sẽ rộng hơn đờng kính danh định, ảnh
hởng tới khối lợng bêtông đúc cọc sau ny. Cho nên thờng phải bơm
thêm nớc vo lỗ khoan, tạo độ chênh mực nớc trong lỗ khoan cao
hơn mực nớc ngầm bên ngoi để khắc phục hiện tợng trên.
Nớc trong ống vách (nếu có) sẽ cản trở v lmgiảmnăngsuấtcủagu
ngoạm: tốc độ rơi tự do chậm hơn, động năng khi cắm vođấtgiảm
nhiều, không đủ sức ngoạm 1 khối lợng đất đầy gu. Do đó cần khắc
phục bằng cách ghép thêm 1 trọng lợng bổ sung vogungoạm phù
hợp với sức cẩu của máy. Hiện nay, những gu ngoạm có gắn máy chấn
động đã đợc sử dụng để lmviệcdới nớc rất hiệu quả.
4.2-Công nghệ dùng máy khoan vận hnh ngợc:
rung lắc (đá rắn), hoặc lỗ đáy ống của trục khoan có thể bị tắc đồng thời
không đủ thời gian hình thnh mng bùn v cũng có thể phá vỡ mng sét
đang lọt vo bít những lỗ rỗng trong các hạt đất.
- Nếu không đủ đảm bảo ổn định thnh vách đo, phải bổ sung vữa sét
bentonite hoặ dung dịch CMC, cần cho khoan tạo lỗ.
- Khi máy hoạt động sẽ không tránh khỏi hiện tợng văng ngang của đầu
khoan. Vì không dùng ống vách nên đờngkínhlỗkhoanthờng bị rộng
hơn so với đờng kính thiết kế, khối lợngbêtôngsẽtăngthêm. Trongđất
rời đờng kính lỗ khoan tất nhiên lớn hơn trong đất dính. Những đầu khoan
có lắp bộ ổn định sẽ tránh đợc hiện tợng ny.
4.3-Công nghệ khoan lỗ bằng đầu khoan đo đất:
- Đầu khoan đất kiểu gurấtđợc thông dụng để đo đất. Gucótrọnglợng
khá nặng v trang thiết bị các lỡi xén đất hoặc nhiều mũi dao dể phá vật
chớng ngại v mở rộng lỗ khoan, nhờ trọng lợng nym các mũi dao v
lỡi xén khi quay quanh trục khoan sẽ xén đất theo đờng cắt nhất định,
các mũi dao có thể tiện đứt rễ cây hoặc phá các tảng chớng ngại vật khác
nh bêtông, gạch vụn. Tuy nhiên, khi gặp các loại đá mồ côi thờng đầu
khoan khó giải quyết m phải dùng những biện pháp đã nêu trên.
- Mũi khoan chủ yếu để xén v cắt đất yếu thông thờng, nên khi gặp đất chặt
hoặc lẫn nhiều cuội sỏi, lỡi xén hay các mũi dao của gu khoan dex bị sứt
mẻ hoặc mau mòn, tuy rằng cũng đã bịt hợp kim rất cứng. Phải định kỳ
thay thế lớp bịt mũi dao khi quá mòn hoặc bị gẫy, nếu không năng suất
giảm, đồng thời trục khoan cũng dễ bị mi mòn vì lệch tâm.
- Khi khoan trên cạn, có thể không cần dung dịch khoan hoặc nớc, vách
khoan vẫn ổn địnhgu sẽ phát huy tonbộnăngsuấtnhng nếu khoan
với tốc độ nhanh thờng để lại vết lõm xoắn ốc trên vách lỗ khoan khó suy
ra thể tích bêtông cần theo dõi.
- Khi khoan nơi có nớc ngầm hoặc nớc mặt, tốt nhất l dùng dung dịch vữa
sét hoặc các loại bùn hoá học để giữa ổn định vách khoan. Nếu khoan trong
đất sét, á sét có thể chỉ dùng nớc bơm bổ sung vo lỗ, giữ cố định mực
vo lỗ khoan.
- Công nhân lm việc trong hố khoan phải đội mũ v đeo dây bảo hiểm để khi
bị thơng hoặc gặp hơi ngạt có thể kéo lên nhanh chóng để cấp cứu.
- Khi có ngời lmviệcdới đáy lỗ khoan, trên mặt đất phải bố trí ngời cảnh
giới, túc trực thờng xuyên, bảo đảm không cho 1 vật dụng nođểgầnlỗ
khoan. Phải giữ tuyệt đối an ton trong khi vận chuyển bất cứ 1 vật dụng
no xuống lỗ khoan do yêu cầu công việc.
-Cầnkiểmtrathờng xuyên để phát hiện hơi độc ở lỗ khoan, nhất l đi qua lớp
than bùn hoặc đất có lẫn chất hữu cơ; đặc biệt tại các vùng khai thác khí đốt
hoặc có đờng ống dẫn khí cũ mới đều xem xét. Đèn an tonv các máy dò
khí độc cũng phải luôn luôn mang theo khi kiểm tra v lmviệcdới lỗ
khoan cọc.
4.5-Thổi rửa lỗ khoan:
-Vệ sinh đáy v thnh lỗ khoan trớc khi đúc cọc l 1 việc rất quan trọng vì:
Các lớp mạt khoan, đất đá v dung dịch vữa sét sẽ lắng đọng tạo ra 1
lớp đệm yếu dới chân cọc khi chịu lực sẽ lún.
Nếu không đùn hết cặn lắng, khi đổ bêtông sẽ tạo ra những ổ mùn đất
lm giảm sức chịu tải của cọc.
Vì vậy, khi khoan xong cũng nh trớc kho đổ bêtông phải thổi rửa sạch lỗ
khoan.
-Phơng pháp thổi rửa tuỳ thiết bị v công nghệ khoan cọc, nhng thờng phải
tiến hnh theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Ngay sau khi kết thúc khoan tạo lỗ, phải đa hết các mạt
khoan v sỏi cát hạt thô ra ngoi. Đối với công nghệ dùng ống vách:
sau khi khoan xong 20-30 phútchờ lắng đọngdùng gungoạm lấy
lên v cuối cùng bơm hút nớc tới khi nớc xã không còn lẫn cát sỏi.
Đối với công nghệ khoan vận hnh ngợc: sau khi kết thúc công việc
khoan lỗ cho máy chạy không tải 10 phútmở bơm hút tới khi chỉ
còn nớc trắng thải ra ngoi. Đối với công nghệ dùng đầu khoan kiểu
thùng: sau 1 thời gian cặn lắng đọngdùng lỡi xén gạt vo thùng v