TOM TAT CAC KY DAI HOI DCSVN - Pdf 17

Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) là đảng cầm quyền tại Việt Nam theo Hiến pháp,
đồng thời cũng là đảng duy nhất được phép hoạt động. Theo Cương lĩnh và Điều lệ
chính thức được công bố, Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Marx-Lenin
(Marxism-Leninism) và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của
Đảng. Trên thực tế, chủ nghĩa dân tộc, một số yếu tố tích cực của chủ nghĩa tư bản và cả
một vài yếu tố có tính truyền thống của ý thức hệ phong kiến cũng có những ảnh hưởng
nhất định. Tại Việt Nam, trong các ngữ cảnh không chính thức, các phương tiện truyền
thông, các nhà lãnh đạo, và đại bộ phận người dân thường dùng một từ "Đảng" (hoặc
"Đảng ta") để nói về Đảng Cộng sản Việt Nam.
[1][2]
Mục lục
• 1 Vai trò
• 2 Cương lĩnh chính trị
• 3 Lịch sử
o 3.1 Tình hình thế giới
o 3.2 Tình hình Việt Nam
o 3.3 Hình thành và các hoạt động đầu tiên
o 3.4 Cầm quyền tại miền Bắc
o 3.5 Sau thống nhất
• 4 Tổ chức
• 5 Các ban của Trung ương Đảng
• 6 Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ở các cấp
• 7 Đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương
• 8 Tư tưởng
• 9 Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương
• 10 Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời (tháng 2 năm 1930 - tháng 10
năm 1930)
• 11 Các Tổng Bí thư (tương đương với Bí thư Thứ nhất trong giai đoạn 1960 -
1976)
• 12 Các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc
• 13 Xem thêm

o Triều đình phong kiến.
o Chế độ thực dân Pháp.
[sửa] Hình thành và các hoạt động đầu tiên
Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản Việt Nam
họp từ ngày 6 tháng 1 năm 1930
[4]
đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng, trên
cơ sở thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương (Đông Dương Cộng sản Đảng và
An Nam Cộng sản Đảng; thành viên từ một nhóm thứ ba tên là Đông Dương Cộng sản
Liên đoàn không kịp có mặt). Hội nghị hợp nhất này diễn ra tại căn nhà của một công
nhân ở bán đảo Cửu Long (Kowloon) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930,
đúng vào dịp Tết năm Canh Ngọ. Tham dự Hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương Cộng
sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng
(Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm) và 3 đại biểu ở nước ngoài (có Nguyễn Ái Quốc, Hồ
Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, đại biểu của Quốc tế Cộng sản). Hội nghị quyết định thành lập
một tổ chức cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một số
văn kiện quan trọng như: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt,
Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, Đông Dương Cộng
sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông từ
ngày 14 đến 31 tháng 10 năm 1930, tên của đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông
Dương theo yêu cầu của Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản) và Trần Phú được bầu làm
Tổng Bí thư đầu tiên.
[5]
Vừa ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ
Tĩnh. Phong trào này bị thất bại và Đảng Cộng sản Đông Dương bị tổn thất nặng nề vì
khủng bố trắng của Pháp.
Năm 1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ I được bí mật tổ chức tại Ma Cao do Hà Huy
Tập chủ trì nhằm củng cố lại tổ chức đảng, thông qua các điều lệ, bầu Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I gồm 13 ủy viên.

cũng tách bộ phận của Lào và Campuchia (vốn cùng thuộc Đảng Cộng sản Đông
Dương) thành các bộ phận riêng.
Sau đại hội II, Đảng Cộng sản thực thi chiến dịch cải cách ruộng đất. Trong cuộc cải
cách, 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2
triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. Tuy nhiên, cuộc cải
cách đã đấu tố oan nhiều người, dẫn đến nhiều cái chết oan (số liệu cụ thể chưa được
xác định). Đến tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(họp từ 25/8 đến 24/9/1956) nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và thi hành
biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau:
Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư Đảng, hai ông Hoàng Quốc Việt và Lê Văn
Lương ra khỏi Bộ Chính trị, và Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội vào năm 1960 chính thức
hóa công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
lúc đó và đồng thời tiến hành cách mạng tại miền Nam.
[sửa] Sau thống nhất
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, được tổ chức vào năm 1976 sau khi chấm dứt
Chiến tranh Việt Nam, tên đảng được đổi lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng
cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó
khăn. Đại hội khởi xướng chính sách đổi mới, cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi
nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường, trong lúc vẫn giữ vị trí độc quyền.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 tiếp tục chính sách đổi mới, đồng thời cho
phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Sau đại hội, một số báo chí nước ngoài đã đăng tin
Đảng đang cân nhắc việc đổi tên, thành Đảng Nhân dân hay đổi lại thành Đảng Lao
động.
[6][7]
[sửa] Tổ chức
Bài chi tiết: Tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin với nguyên tắc tập

hành Trung ương Đảng với 150 thành viên do Đại hội Đảng bầu ra, họp ít nhất mỗi năm
hai lần, với Bộ Chính trị họp nhiều lần hơn và Ban Bí thư có trách nhiệm giám sát hoạt
động hằng ngày dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, ông Nông Đức Mạnh trở thành Tổng Bí thư mới.
Kết thúc nhiệm kỳ này, toàn Đảng có gần 3,1 triệu đảng viên, chiếm 3,73% dân số cả
nước.
Đại hội lần thứ X diễn ra từ 18 đến 25 tháng 4 năm 2006 với 1.176 đại biểu tham dự, sau
khi bốn đại biểu (trong đó có một bộ trưởng đã từ chức, một thứ trưởng bị bắt tạm giam)
đã được rút từ danh sách ban đầu. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X
với 160 thành viên, với Bộ Chính trị gồm 14 thành viên. Ông Nông Đức Mạnh được bầu
lại chức Tổng Bí thư.
[sửa] Các ban của Trung ương Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay theo QĐ45-QĐ/TW của Bộ Chính trị(hợp nhất các
ban của đảng, từ tháng 4/2007) có các ban sau đây mà chức năng chủ yếu là tham mưu
về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực được giao cho Ban Chấp hành Trung ương:
• Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương,
trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính
sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ của hệ thống chính trị; đồng thời là cơ
quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên của Trung
ương. Ban này quan trọng nhất nên đứng đầu là một ủy viên Bộ Chính trị
• Ban Tuyên giáo Trung ương. Ban được xác định là cơ quan tham mưu của Ban
Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư
trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, về chủ trương, quan điểm và
chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn
nghệ, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và một số lĩnh vực xã hội; đồng
thời là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về các lĩnh vực công tác này của Đảng.
• Ban Dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu về chủ trương, chính sách và
giải pháp lớn về công tác dân vận. Ban chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu cụ thể
hoá đường lối dân vận của Đảng (công tác Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, hội
quần chúng, tôn giáo, dân tộc); chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị nghị quyết đại

Điều 32 Điều lệ Đảng quy định nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm tra các cấp như sau:
1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu
chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng
viên.
2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc
tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật
trong Đảng.
3. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp
ủy thi hành kỷ luật.
4. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ
luật Đảng.
5. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.
Uỷ ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên báo cáo, cung cấp
tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra.
[sửa] Đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất
bản, về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với ban:
1. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam; là trung tâm
quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, trung, cao cấp; là
trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí
Minh.
2. Báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ
chức phát hành các loại ấn phẩm sau: Nhân dân hàng ngày, Nhân dân cuối tuần,
Nhân dân hàng tháng, Nhân dân điện tử tiếng Việt và tiếng Anh.
3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật là cơ quan xuất bản chính trị của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài nhiệm vụ xuất bản các ấn phẩm chính trị, cơ quan này còn tham gia nghiên
cứu các vấn đề lý luận chính trị, khoa học xã hội.

11/1940
Thôi giữ chức sau Hội nghị Trung ương về vấn
đề sửa sai cải cách ruộng đất
Hồ Chí Minh 10/1956 đến 9/1960
Tổng bí thư ĐCS Đông Dương (Kiêm chức Chủ
tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng)
Lê Duẩn 9/1960 đến 7/1986
9/1960-12/1976: Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động
Việt Nam
12/1976-7/1986: Tổng bí thư ĐCS Việt Nam
(đến lúc mất)
Trường Chinh 7/1986 đến 12/1986 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Văn
Linh
12/1986 đến 6/1991 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Đỗ Mười 6/1991 đến 12/1997 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Lê Khả Phiêu 12/1997 đến 4/2001 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Nông Đức Mạnh 4/2001 đến nay -
[sửa] Các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc
Đại hội
Đại biểu
toàn quốc
Thời gian Địa điểm
Số đại
biểu
Số đảng
viên
Sự kiện
Lần thứ
nhất

20/12/1976
Hà Nội 1008 1.550.000
Đại hội đầu tiên sau thống
nhất
Lần thứ
năm
27 - 31/
3/1982
Hà Nội 1033 1.727.000
Lần thứ sáu
15 -
18/12/1986
Hà Nội 1129 ~1.900.000
Khởi xướng chính sách
đổi mới
Lần thứ
bảy
24 - 27/
6/1991
Hà Nội 1176 2.155.022
Lần thứ
tám
28 - 01/
7/1996
Hà Nội 1198 2.130.000
Lần thứ
chín
19 - 22/
4/2001
Hà Nội 1168 2.479.719

Việt Nam Cộng hòa
Đảng Dân chủ Nam Việt
Nam · Đảng Cần lao Nhân
vị · Đảng Dân chủ Xã hội
Việt Nam · Mặt Trận Dân tộc
Giải phóng Miền Nam Việt
Nam · Đại Việt Quốc dân
đảng · Liên minh các lực
lượng Dân tộc, Dân chủ và
Hòa bình Việt Nam · Đảng
Nhân dân Cách mạng miền
Nam
Từ 1975 đến
1988
Đảng Cộng sản Việt Nam · Đảng Xã hội Việt Nam · Đảng Dân
chủ Việt Nam
Từ 1988 đến nay
Được công nhận ở quốc nội
Đảng Cộng sản Việt
Nam
Ngoài vòng pháp luật ở quốc nội
Đảng Thăng Tiến Việt
Nam · Đảng Dân chủ
Bách Việt · Đảng Dân chủ
thế kỷ 21 · Đảng Dân chủ
Nhân dân
Hải ngoại
Đảng Dân tộc Việt Nam ·
Việt Nam Canh tân Cách
mạng Đảng · Đại Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status