Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ
đều phải tham gia vào tiến trình hội nhập đó. Nước ta cũng đang bước vào thời
kỳ công ngiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp
văn minh, hiện đại.
Trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó, nền kinh tế vững mạnh của một đất
nước luôn giữ vững vai trò quan trọng hàng đầu và trong đó phải kể đến sự đóng
góp to lớn của các doanh nghiệp sản xuất vào sự phát triển chung của kinh tế xã
hội.
Như chúng ta đã biết, mỗi doanh nghiệp khác nhau có nguồn vốn khác
nhau và quá trình sử dụng cũng khác nhau để nhằm đem lại được lợi nhuận cao
nhất cho doanh nghiệp của mình. Do đó, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn cho
doanh nghiệp là một điều cần thiết không thể thiếu.
Thực hiện tốt công tác sử vốn hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt lợi
nhuận cao, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, phát triển, nâng cao đời
sống người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng cuả công tác sử vốn hiệu quả trong doanh
nghiệp, em đã lựa chọn đề tài : “ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Xí nghiệp Thuỷ lợi La Khê – Công ty Thủy lợi Sông Đáy ”.
Chuyên đề của em gồm có 3 chương :
Ch ương I : Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn vay trong các doanh
nghiệp hiện nay.
Ch ương II : Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Xí nghiệpTthuỷ lợi La Khê –
Công ty Thủy lợi Sông Đáy.
Ch ương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Xí
nghiệp Thuỷ lợi La Khê – Công ty Thủy lợi Sông Đáy.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
CHƯƠNG I
doanh cuả doanh nghiệp được thực hiện liên tục, chi phí mua công nghệ và máy
móc thiết bị mới để tái đầu tư sản xuất mở rộng.
Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất
khác nhau để từ đó tạo ra những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị
trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được
chi phí bỏ ra và có lãi. Số tiền ban đầu đã được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất
kinh doanh. Quá trình này diễn ra liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển
cuả doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi như là một loại hàng hoá nó
giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm
khác vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất
định. Giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ có sự tách rời
quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh
doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất
cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá tình sản
xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong qua trình sản xuất
riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thời
gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến chu
trình sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó đưa ra được một
định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái
quát về vốn như sau:
Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu (đây là
các khoản được tích tụ bởi lao động trong qúa khứ được biểu hiện bằng tiền),
tham gia liên tục vào qúa trình sản xuất kinh doanh với mục đích đem lại giá trị
thặng dư cho chủ sở hữu.
2. Phân loại vốn
Để có thể quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả bước đầu tiên mà người quản
lý doanh nghiệp phải thực hiện là phân loại vốn. Đây là công việc được các
Bộ phận quan trọng nhất trong các tài sản dài hạn sử dụng trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các tài sản cố định. Đó là những tư liệu
lao động chủ yếu sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản
xuất kinh doanh như : máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các
khoản chi phí đầu tư mua sắm các tài sản cố định vô hình,… TSCĐ được hình
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
4
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
thành bởi vốn cố định hay nói cách khác VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận
của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ. Việc quản lý VCĐ phải luôn gắn liền với
việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ cuả doanh nghiệp. Để phục vụ
công tác quản lý của doanh nghiệp người ta phân loại tài sản cố định của doanh
nghiệp theo những tiêu thức nhất định. Thông thường có những cách phân loại
chủ yếu sau đây:
a. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo phương thức này TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại: tài
sản cố định có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và tài sản cố định không có
hình thái vật chất(TSCĐ vô hình).
- TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
cụ thể, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái
ban đầu của nó như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị,…
- TSCĐ vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như
một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành,
bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả,…
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào tài
sản cố định hữu hình. Từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh cơ
cấu đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất.
b. Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng
Theo tiêu thức này TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành 3 loại:
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng tài sản cố định và
tính khấu hao TSCĐ chính xác.
d. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia TSCĐ thành các loại:
- TSCĐ đang sử dụng: đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp an
ninh, quốc phòng cuả doanh nghiệp.
- TSCĐ chưa cần sử dụng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản
xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song hiện tại chưa cần
sử dụng đang được dự trữ để sử dụng sau này.
- TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý: là những TSCĐ không cần thiết hay
không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần được
thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
6
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của
doanh nghiệp như thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng
chúng. Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ
của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau.
2.2. Vốn ngắn hạn
Vốn ngắn hạn trong doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư,
mua sắm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được tiến hành liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn nên đặc điểm vận động của vốn
ngắn hạn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản ngắn hạn . Trong các
doanh nghiệp người ta thường chia tài sản ngắn hạn thành hai loại: tài sản ngắn
hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông.
- Tài sản ngắn hạn sản xuất: bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, đang trong quá trình dự trữ sản
đông các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và thực hiện tốt công tác quản
lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Để quản lý, sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả cần tiến hành phân loại vốn
ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường có
những cách phân loại sau đây:
a. Phân loại theo vai trò từng loại vốn ngắn hạn trong quá trình sản
xuấ kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn ngắn hạn có thể chia thành ba loại:
- Vốn ngắn hạn trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: giá trị các khoản
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công
cụ, dụng cụ lao động nhỏ.
- Vốn ngắn hạn trong khâu sản xuất bao gồm: giá trị sản phẩm dở dang và
vốn chi phí trả trước.
- Vốn ngắn hạn trong khâu lưu thông bao gồm: các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các
khoản tạm ứng …).
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn ngắn hạn trong
từng khâu của quá trình kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn
ngắn hạn sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
8
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
b. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo tiêu thức này, vốn ngắn hạn được chia thành:
- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán
Vốn bằng tiền: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển …
Vốn trong thanh toán bao gồm: các khoản nợ phải thu cuả khách hàng, các
khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác
- Vốn vật tư hàng hoá: là những khoản vốn ngắn hạn có hình thái biểu hiện
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là số vốn ngắn hạn được hình thành từ
góp vốn liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên
doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hoá,…
Nguồn vốn đi vay bao gồm: vốn vay ngắn hạn của ngân hàng, vốn vay
dưới hình thức phát hành trái phiếu và các khoản vốn vay của các đối tượng khác.
Đây là một bộ phận rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Việc phân chia vốn ngắn hạn theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp
thấy được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn ngắn hạn trong kinh doanh của
mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của
nó. Do đó, doanh nghiệp cần xem xét nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử
dụng vốn của mình .
3. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một
lượng vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định, không có vốn sẽ không
có bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Sẽ là không tưởng nếu nghĩ rằng có
thể tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào mà không có vốn hoặc
không đủ vốn. Nói một cách khác vốn có vai trò đặc biệt quan trọng để bắt đầu,
duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập doanh nghiệp. Để bắt
đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp cần mua sắm máy
móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thuê công sở, mướn công nhân ,…
Vì vậy trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần tới một lượng vốn rất lớn và phải
huy động vốn.
Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các dự án
mang lại lợi nhuận. Không có vốn thì các dự án sản xuất kinh doanh , các cơ hội
kinh doanh mang nhiều lợi nhuận sẽ bị bỏ lỡ và sẽ chỉ là dự định, kế hoạch. Mỗi
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
10
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
cấu tối ưu ?
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
II. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là sự so sánh giữa chi phí sử dụng vốn và những lợi
ích mà đồng vốn đó mang lại cho doanh nghiệp. Thông qua sự so sánh đó ta có
thể thấy được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là cao hay thấp, tốt hay
xấu,…
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của
chủ sở hữu và tối thiểu hoá chi phí. Tuy nhiên, để sử dụng vốn một cách có hiệu
quả không phải doanh nghiệp nào cũng làm được, đặc biệt khi mà ở Việt Nam
các doanh nghiệp vẫn còn coi nhẹ vấn đề này. Khi bàn về vấn đề làm thế nào để
sử dụng vốn sao cho có hiệu quả, rất nhiều doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh
nghệp vừa và nhỏ) cho rằng bây giờ là chưa thích hợp hoặc không mấy quan tâm
tới vấn đề này. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp hoạt động có lãi nhưng không hề biết
doanh nghiệp mình sử dụng vốn có hiệu quả không ? Song khi mà nền kinh tế thị
trường ngày càng sôi động nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt thì các
doanh nghiệp cần phải quan tâm tới vấn đề này nhiều hơn . Khi đó doanh nghiệp
không chỉ quan tâm làm sao có thể sử dụng vốn có hiệu quả mà còn phải tìm cách
làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp cuả mình.
Mặt khác, để tiến hành hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có
các yếu tố lao động, vốn và công nghệ trong đó vốn đóng vai trò quan trọng nhất
và là yếu tố quyết định các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở phân
chia các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Còn tài sản chính là các hình
thái biểu hiện của vốn hay nói cách khác, tài sản biểu hiện việc các doanh nghiệp
doanh thu cần có bao nhiêu đồng vốn.
Hàm lượng vốn trong kỳ =
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Doanh thu(Doanh thu thuần) trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận vốn trong kỳ (Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn)
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
13
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
Tỷ suất lợi nhuận vốn trong kỳ =
Lợi nhuận thuần trong kỳ
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốn sản xuất
trong kỳ.
Doanh nghiệp là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển trong mối quan hệ
qua lại với môi trường xung quanh. Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định
tới hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp. Trong đó, thị trường vốn quyết định
tới việc huy động vốn của doanh nghịêp, thị trường hàng hoá quyết định đến việc
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Do đó, yếu tố kinh doanh quyết định rất lớn đến
hiệu quả sử dụng vốn cuả doanh nghiệp.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dài hạn
* Hiệu suất sử dụng vốn dài hạn
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn dài hạn, nó giúp cho các nhà
phân tích biết được đầu tư một đồng vốn dài hạn có thể tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu.
Hiệu suất sử dụng vốn dài hạn =
Doanh thu(Doanh thu thuần) trong kỳ
Vốn dài hạn bình quân trong kỳ
* Hàm lượng vốn dài hạn
Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn dài hạn .Chỉ
Chỉ tiêu này cho biết một đòng vốn ngắn hạn bỏ vào trong sản xuất kinh
doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả sử dụng
vốn ngắn hạn.
* Kỳ luân chuyển vốn ngắn hạn
K =
360
L
Trong đó:
K : kỳ luân chuyển vốn ngắn hạn
L : số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn ngắn hạn trong kỳ
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
15
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay vốn
ngắn hạn. Vòng quay cuả vốn ngắn hạn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng
được rút ngắn và chứng tỏ vốn ngắn hạn càng được sử dụng có hiệu quả.
* Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn
Hệ số này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao và ngược
lại.
Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn =
Vốn ngắn hạn
Doanh thu sau thuế
2.4. Một số chỉ tiêu khác
*Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý
sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợ dài hạn ,nợ ngắn hạn).
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng tài sản
Tổng số nợ phải trả
tổng tài sản của doanh nghiệp, tài sản sở hữu thực chất của doanh nghiệp là bao
nhiêu. Nếu tỷ số này càng tăng lên, mức độ đơn vị cần phải được thanh toán tăng
điều này gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Hệ số nợ =
Nợ phải trả
Tổng Nguồn vốn
Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một phần nhỏ vào
trên tổng số tài sản thì sự rủi ro trong kinh doanh được chuyển sang cho chủ nợ
gánh chịu một phần. Đồng thời khi hệ số nợ cao thì chủ doanh nghiệp càng có lợi
rõ rệt vì khi đó họ chỉ bỏ ra một lượng vốn nhỏ nhưng lại được sử dụng một
lượng tài sản lớn. Và khi kinh doanh vốn lớn hơn lãi suất tiền vay thì lợi nhuận
của họ gia tăng rất nhanh. Tuy nhiên khi hệ số nợ cao thì độ an toàn trong kinh
doanh càng kém vì chỉ cần một khoản nợ tới hạn trả, không trả được sẽ rất dễ làm
cho cán cân thanh toán mất cân bằng và xuất hiện nguy cơ phá sản.
* Tỷ suất tự tài trợ
Đây là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu
trong quá tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
17
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
Tỷ suất tự tài trợ =
Nguồn vốn chủ sở hữu
= 1- hệ số nợ
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhu cầu vốn tự có , có
tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó, không bị ràng buộc hoặc bị ép sức của các
khoản vay. Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ
nhìn vào tỷ số này để tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn
trả đúng hạn.
hoạch vĩ mô. Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều
chi phối các mảng hoạt động của doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài
chính, về quy chế đầu tư như các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các
quỹ, các văn bản về thuế,…đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghịêp.
c. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế , thu
nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái, đến các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn do nền kinh tế có lạm phát, sức mua
của đồng tiền giảm sút dẫn tới sự tăng giá của các loại vật tư hàng hóa ,…
Vì vậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh gía trị của các loại tài
sản đó thì sẽ làm cho vốn của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của
tiền tệ.
d. Những nhân tố khách quan khác
- Môi trường tự nhiên
Là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu, thời
tiết, môi trường. Khoa học càng phát triển thì con ngừơi càng nhận thức được
rằng họ là một bộ phận không thể tách rời của tự nhiên. Các điều kiện làm việc
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
19
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả
công việc. Tính thời vụ, thiên tai, hạn hán, lũ lụt , gây khó khăn rất lớn cho nhiều
doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị, văn hoá
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng. Do đó,
các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi trường văn hoá
lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được nâng cao.
- Môi trường khoa học công nghệ
Môi trường khoa học công nghệ là sự tác động cuả các yếu tố như trình độ
dụng vốn. Nhân tố này gồm rất nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối
cùng của hoạt động kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài. Bởi vậy, việc
xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng .
Thông thường, trên góc độ tổng quát, người ta xem xét những yếu tố sau:
a. Ngành nghề kinh doanh
Nhân tố này đã tạo ra những điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như
định hướng cho nó trong suốt quá trình tồn tại. Với một ngành nghề kinh doanh
đã được chọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên về
tài chính bao gồm:
- Cơ cấu vốn hợp lý.
- Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay đổi
số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu công ty.
- Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại so với
đối thủ cạnh tranh đến đâu.
- Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có đảm bảo lâu dài và an toàn
không.
Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tự xác định
được mức độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và phát triển thị trường
trong tương lai, sự đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh, để có kế hoạch
bố trí cho phù hợp.
b. Lao động
- Trình độ quản lý của lãnh đạo
Vai trò của người lãnh đạo trong sản xuất kinh doanh là rất quan trọng , thể
hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
21
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
xuất kinh doanh, nhằm giảm những chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt
những cơ hội kinh doanh, đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển.
- Trình độ tay nghề của người lao động
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
d. Mối quan hệ của doanh nghiệp
Mối quan hệ này được đặt trên hai phương diện là quan hệ giữa doanh
nghiệp với khách hàng, và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp với
nhà cung cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất ,
khả năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hoá tiêu thụ, là những vấn đề trực tiếp
tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với khách hàng và nhà cung cấp thì
nó sẽ bảo đảm tương lai lâu dài cho doanh nghiệp bởi đầu vào được đảm bảo đầy
đủ và sản phẩm làm ra được tiêu thụ hết.
Để được như vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch cụ thể để duy trì
những bạn hàng thân thiết lâu năm lại vừa tăng cường thêm những bạn hàng mới.
Biện pháp mà mỗi doanh nghiệp đề ra là không giống nhau mà còn phụ thuộc vào
tình hình hiện tại của từng doanh nghiệp. Nhưng chủ yếu là các biện pháp như là
đổi mới quy trình thanh toán thuận tiện, mở rộng mạng lưới bán hàng và thu mua
nguyên vật liệu, đa dạng hoá sản phẩm,…
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác tuỳ thuộc
vào ngành nghề kinh doanh cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét từng nguyên nhân đê hạn chế
một cách tối đa nhũng hậu quả xấu có thể xảy ra, đảm bảo cho việc tổ chức huy
động đầy đủ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh đồng thời làm cho hiệu quả sử
dụng vốn ngày càng tăng.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC
23
Chuyên đề tốt nghiệp Trường CĐ Kinh tế – Kỹ thuật Thương Mại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI XÍ NGHIỆP THỦY LỢI LA KHÊ-CÔNG TY THỦY LỢI SÔNG ĐÁY
I. GIỚI THIỆU VỀ XÍ NGHIỆP THỦY LỢI LA KHÊ – CÔNG TY THỦY LỢI SÔNG
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và mang lại nhiều thành công.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều hạn chế khi mới thành lập nhưng cùng với
sự sáng tạo, nắm bắt kịp thời, nhanh nhạy những thay đổi của thị trường của hội
đồng quản trị và các nhân viên Công ty đã không ngừng giúp Công ty đứng vững
mà còn ngày càng phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định mình.
2. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của Công ty
a. Chức năng
Công ty Thủy lợi Sông Đáy được thành lập với mục đích chủ yếu là
chuyên ngành tưới tiêu phục vụ cho nền sản xuất Nông Nghiệp.
b. Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và quy trình sản xuất kinh doanh ở
Công ty Thủy lợi Sông Đáy
Công ty Thủy lợi Sông Đáy là một doanh nghiệp Nhà Nước hoạt động
công ích, là đơn vị dịch vụ phục vụ trồng trọt, khai thác bảo vệ công trình thuỷ lợi
và tưới tiêu do đó quy trình sản xuất kinh doanh của Công ty khá đơn giản:
Úng – bơm ra
Hạn – bơm vào
c. Đặc diểm của Công ty
* Địa điểm Công ty
Công ty thủy lợi Sông Đáy nằm trên địa bàn xã Văn Khê, Hà Đông, Hà
Nội .
* Hình thức sở hữu vốn
Công ty Thủy lợi Sông Đáy thuộc hình thức sở hữu Nhà nước.
* Những thuận lợi và khó khăn của Công ty
- Thuận lợi
+ Về điều kiện giao thông khá thuận lợi, địa hình.
+ Về điều kiện giao thông khá thuận lợi, điạ hình ở khu vực này là đồng
bằng tương đối bằng phẳng có độ thấp nhất là +2 và độ cao nhất là +7, dốc từ Bắc
xuống Nam và từ Tây sang Đông. Diện tích toàn khu vực là 13,491 ha. Trong đó
diện tích tưới nước là 8,769 ha của 34 hợp tác xã và 3 đơn vị quốc doanh.
Nguyễn Thị Hồng Phương – 2CTC