QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC - Pdf 17

`CHUYÊN ĐỀ 6
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.Khái niệm quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước
a.Cơ quan hành chính nhà nước
- Khái niệm
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà
nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cơ
quan hành chính nhà nước mang đầy đủ đặc điểm của cơ quan nhà nước nói chung
tuy nhiên bên cạnh đó cơ quan hành chính nhà nước cũng có những đặc điểm riêng
biệt giúp phân biệt với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Việc tìm hiểu
khái niệm, đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước không chỉ giúp chúng ta có
thể nhận biết các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước mà còn giúp xác định
vai trò của cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể của pháp luật hành
chính và là chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính.
Để hiểu được khái niệm cơ quan hành chính nhà nước, trước hết chúng ta
cần tìm hiểu khái niệm cơ quan nhà nước.
Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những
nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những
quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực
hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Các cơ quan nhà nước có mối
quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà
1
nước. Nếu căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của
các cơ quan nhà nước thì bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay gồm có bốn hệ
thống cơ quan, đó là: hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống các cơ
quan hành chính nhà nước, hệ thống các cơ quan xét xử và hệ thống các cơ quan
kiểm sát. Trong đó, các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, các bộ,
các ủy ban nhà nước, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, cơ quan hành chính nhà nước còn có
những đặc điểm riêng như sau:
+ Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chính
nhà nước. Để thực hiện chức năng này, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiên
hoạt động chấp hành – điều hành (những hoạt động được tiến hành trên cơ sơ luật
và để thi hành luật). Như vậy hoạt động chấp hành – điều hành (hoạt động quản lý
hành chính nhà nước) là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính
nhà nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý
hành chính nhà nước nhưng đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà
chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của
cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của
tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan
hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất
cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… Và việc thực hiện hoạt động đó là
nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nước.
3
+ Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương
đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ
chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và
hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước.
+ Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy
định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó
là những quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp
hành – điều hành. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng của cơ quan hành chính
nhà nước đó là chức năng quản lý hành chính nhà nước. Và để thực hiện chức năng
quản lý hành chính nhà nước được hiệu quả thì cần phải phân định thẩm quyền rõ
ràng, tránh sự chồng chéo giữa các cơ quan do đó pháp luật phải quy định cụ thể
thẩm quyền của từng cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Ví
dụ như UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền quản lý hành chính tại địa phương của
mình, không được phép xâm phạm vào thẩm quyền của các UBND cấp xã khác

quan trọng trong bộ máy nhà nước mà còn là chủ thể quản lý hành chính nhà nước
quan trọng nhất. Để cơ quan hành chính nhà nước có thể phát huy vai trò của mình
trong quản lý hành chính nhà nước đòi hỏi phải tiến hành cải cách bộ máy hành
chính – một nội dung quan trọng của cải cách hành chính.
Cơ quan hành chính Nhà nước là tên gọi chung của toàn bộ ngành hành
pháp ở Việt Nam. Cơ quan hành chính Nhà nước được tổ chức theo các ngành và
các cấp từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ Việt Nam.
+ Cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp trung ương bao gồm chính phủ, các Bộ và
cơ quan ngang Bộ.
5
Hiện nay Việt Nam có 18 Bộ:
1. Bộ Quốc phòng
2. Bộ Công an
3. Bộ Ngoại giao
4. Bộ Xây dựng
5. Bộ Tư pháp
6. Bộ Tài chính
7. Bộ Công thương
8. Bộ Giao thông Vận tải
9. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
10. Bộ Thông tin và Truyền thông
11. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo
13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
14. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
15. Bộ Y tế
16. Bộ Nội vụ
17. Bộ Khoa học và Công nghệ
18. Bộ Tài nguyên và Môi trường
Và 4 cơ quan ngang Bộ:

• Sở Tài chính
• Sở Công thương
• Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
• Sở Giao thông Vận tải (hay Sở Giao thông-Công chính ở các thành phố trực
thuộc trung ương)
• Sở Xây dựng
• Sở Tài nguyên và Môi trường
• Sở Thông tin và Truyền thông
• Sở Lao động-Thương binh và Xã hội
• Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
• Sở Khoa học và Công nghệ
• Sở Giáo dục và Đào tạo
• Sở Y tế
• Thanh tra tỉnh
• Văn phòng Ủy ban Nhân dân
• Các cơ quan chuyên môn được tổ chức theo đặc thù riêng của từng tỉnh,
chẳng hạn như Sở Ngoại vụ không phải tỉnh nào cũng có.
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện (không phải là cơ
quan hành chính Nhà nước) được tổ chức theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP. Bao
gồm: Các cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở các quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh
• Phòng Nội vụ
• Phòng Tư pháp
• Phòng Tài chính-Kế hoạch
• Phòng Tài nguyên và Môi trường
7
• Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
• Phòng Văn hoá và Thông tin
• Phòng Giáo dục và Đào tạo
• Phòng Y tế

8
Loại thứ nhất gồm Chính phủ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ (những cơ quan này
do Quốc hội trực tiếp biểu quyết quyết định), Uỷ ban nhân dân các cấp (được thành
lập ở các đơn vị hành chính - lãnh thổ). Loại thứ hai gồm cơ quan thuộc Chính
phủ, Tổng cục, Cục, Vụ, Viện, Sở, phòng, ban. Các cơ quan thành lập trên cơ sở
Hiến pháp có vị trí pháp lý khá ổn định. Các cơ quan thành lập trên cơ sở các đạo
luật và các văn bản dưới luật thường ít ổn định, nhưng có tính năng động hơn, phù
hợp với những thay đổi của sự quản lý hành chính nhà nước.
Hai là, theo trình tự thành lập.
Theo trình tự thành lập có cơ quan hành chính nhà nước được thành lập do
được bầu ra (Uỷ ban nhân dân các cấp - Điều 123 Hiến pháp 1992), và được lập ra
(Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ). Trình tự thành lập cơ quan rất phức tạp
kết hợp cả bầu, bổ nhiệm, đề nghị danh sách để phê chuẩn (xem khoản 7, 8 Điều
84 Hiến pháp 1992).
Có cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp
thành lập (Chính phủ, Bộ và cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp), do
Chính phủ thành lập (một số tổng cục, viện, học viện cơ quan thuộc Chính phủ),
do Uỷ ban nhân dân thành lập (Sở, Phòng, Ban ).
Ba là, theo vị trí trong hệ thống bộ máy hành chính.
Theo đó, các cơ quan hành chính nhà nước chia thành: cơ quan hành chính
cao nhất đứng đầu hệ thống hành pháp là Chính phủ, (Điều 109 Hiến pháp 1992 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2001, về sau gọi là Hiến pháp 1992); các cơ quan hành
chính nhà nước của Chính phủ ở Trung ương (các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng
cục ), các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Uỷ ban nhân dân, sở,
phòng, ban - cơ quan chuyên môn của UBND).
9
Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và cơ quan hành chính nhà nước của
Chính phủ ở trung ương (các Bộ) có nhiệm vụ quản lý các ngành, lĩnh vực trên
phạm vi cả nước, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (UBND, các cơ
quan chuyên môn của UBND) - có nhiệm vụ quản lý trong phạm vi một đơn vị

lãnh đạo về nguyên tắc quyết định mọi vấn đề thuộc thẩm quyền cơ quan, quyết
định của thủ trưởng cơ quan là quyết định của cơ quan. Những người là cấp phó
thủ trưởng, người đứng đầu các bộ phận cơ quan chỉ là người giúp thủ trưởng cơ
quan, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp của thủ trưởng cơ quan. Chế
độ này được áp dụng đối với các cơ quan như Bộ, Tổng cục, Sở, phòng, ban. Trong
quá trình giải quyết công việc những cơ quan này có thể sử dụng hình thức làm
việc tập thể để thảo luận những vấn đề quan trọng, nhưng quyết định của thủ
trưởng cơ quan là quyết định cao nhất.
Trong khoa học pháp lý còn có quan niệm khác về cơ quan hành chính nhà
nước, thuật ngữ "hành chính" được hiểu là quản lý. Vì vậy, trong hệ thống cơ quan
quản lý nhà nước còn gồm cả ban lãnh đạo xí nghiệp, công ty. Chúng tôi cho rằng,
cơ quan quản lý nhà nước không bao gồm cả những cơ quan ấy, nếu xếp chung vào
hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thì không phù hợp với những quy định
của Hiến pháp 1992. Thực ra, đó chỉ là tổ chức thực hiện chức năng hành chính
doanh nghiệp.
c. Tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước
11
Tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước là các khoản thu và chi
bằng tiền của nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý hành chính của các cơ quan ấy.
d. Quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước
2.Xác định nguồn lực tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước
a.Xác định nhiệm vụ chi tài chính trong các cơ quan hành chính nhà
nước
Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương gồm :
Thứ nhất, chi đầu tư phát triển:
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả
năng thu hồi vốn do trung ương quản lý;
- Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính
của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực

của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
Thứ hai, chi thường xuyên:
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông
tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các
hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý;
- Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương);
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội ở địa phương;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý;
- Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
Thứ ba, chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư quy định tại
khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước;
Thứ tư, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh
Thứ năm, chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
b.Cấp dự toán và quản lý tài chính theo cấp dự toán
Cấp dự toán
Cấp dự toán là việc phân chia các cơ quan hành chính nhà nước thành các
đơn vị dự toán với các cấp khác nhau. Theo Theo Quyết định số 90/2007 QĐ-
BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành "Quy định về mã số các
đơn vị có quan hệ với ngân sách" thì đơn vị dự toán có các cấp như sau:
13
- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm
do Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao, thực hiện phân bổ, giao dự
toán ngân sách cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc.
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị

phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn,
định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Đối với chi trả nợ,
phải căn cứ vào các nghĩa vụ trả nợ của năm dự toán.
4. Việc quyết định chính sách, chế độ, nhiệm vụ quan trọng, phê duyệt chương
trình, dự án do ngân sách nhà nước bảo đảm phải phù hợp với khả năng ngân sách
hàng năm và kế hoạch tài chính 5 năm.
5. Dự toán ngân sách nhà nước được tổ chức xây dựng, tổng hợp từ cơ quan thu,
đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm đúng thời gian vá biểu mẫu quy định
Điều 38.
1. Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lập kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau.
2. Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về
yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước; thông báo số kiểm tra
dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và tổng số thu,
chi, một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
3. Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính,
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hướng đẫn việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa
phương.
Điều 39.
1. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức
lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan
quản lý cấp trên; cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp báo cáo cơ quan tài
chính cùng cấp.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập dự toán ngân sách địa phương báo cáo Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến, gửi Bộ Tài chính và các cơ
quan có liên quan để tổng hợp, lập dự toán ngân sách nhà nước trình Chính phủ.
Điều 40.
15

Điều 42. Dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương
do Chính phủ trình Quốc hội phải kèm theo các tài liệu sau đây:
1. Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm trước, các căn cứ xây dựng dự toán
ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, những nội dung cơ bản và
giải pháp nhằm thực hiện dự toán ngân sách nhà nước;
2. Các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, trong đó nêu rõ 'các mục tiêu, chương
trình quan trọng của nền kinh tế quốc dân và các chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước có liên quan đến ngân sách nhà nước;
16
3. Các nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, kèm theo các giải pháp nhằm huy động
nguồn thu cho ngân sách nhà nước;
4. Bội chi ngân sách nhà nước và các nguồn bù đắp; tỷ lệ bội chi so với tổng sản
phẩm trong nước;
5. Báo cáo các khoản nợ của Nhà nước, trong đó nêu rõ số nợ đến hạn phải trả, số
nợ quá hạn phải trả, số lãi phải trả trong năm, số nợ sẽ phát sinh thêm do phải vay
để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, khả năng trả nợ trong năm và số nợ đến cuối
năm;
6. Các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm ổn định tài chính và ngân sách nhà
nước;
7. Danh mục, tiến độ thực hiện và mức dự toán đầu tư năm kế hoạch đối với các dự
án, các công trình quan trọng quốc gia thuộc nguồn ngân sách nhà nước đã được
Quốc hội quyết định;
8. Dự toán chi của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương theo từng lĩnh vực; nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân
chia đối với các khoản thu phân chia và số bổ sung từ ngân sách trung ương cho
ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
9. Các tài liệu khác nhằm thuyết minh rõ dự toán thu, chi ngân sách nhà nước và
phương án phân bổ ngân sách trung ương.

Điều 43. Dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương

mình chưa được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân lập lại dự toán
ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình, trình Hội đồng
nhân dân vào thời gian do Hội đồng nhân dân quyết định, song không được chậm
hơn thời hạn Chính phủ quy định.

Điều 46. Trong quá trình thảo luận, quyết định dự toán ngân sách và phân bổ ngân
sách tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, khi quyết định tăng các khoản chi hoặc bổ
sung khoản chi mới, Quốc hội, Hội đồng nhân dân đồng thời xem xét và quyết
định các giải pháp để bảo đảm cân đối ngân sách.

Điều 47. Thủ tướng Chính phủ có quyền yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh điều
chỉnh lại dự toán ngân sách, nếu việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp
với quyết định của Quốc hội.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều
chỉnh lại dự toán ngân sách, nếu việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp
với quyết định của Hội đồng nhân dân cấp trên.

Điều 48. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng nhân dân về dự toán ngân
sách và phân bổ ngân sách, Chính phủ quyết định các giải pháp tổ chức, điều hành
ngân sách nhà nước và ngân sách trung ương, Uỷ ban nhân dân quyết định các giải
pháp tổ chức, điều hành ngân sách địa phương và ngân sách cấp mình.

Điều 49. Việc điều chỉnh dự toán ngân sách được thực hiện theo quy định sau:
1. Trường hợp có biến động lớn về ngân sách so với dự toán đã phân bổ cần phải
điều chỉnh tổng thể, Chính phủ lập dự toán điều chỉnh ngân sách nhà nước trình
Quốc hội, Uỷ ban nhân dân lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trình Hội
đồng nhân dân theo quy trình lập, quyết định ngân sách quy định tại Luật này;
18
2. Trường hợp có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh hoặc vì lý do khách
quan cần phải điều chỉnh nhiệm vụ thu, chi của một số cơ quan, đơn vị, địa

thường ít được quan tâm, nên ngân sách thiếu thực tế, dễ bị điều chỉnh và tạo ra kết
quả ngoại ý. Phân bổ ngân sách theo các khoản mục đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ
bản là không khuyến khích đơn vị tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu
ràng buộc chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở đầu ra do
sử dụng ngân sách đó.
19
- Soạn lập ngân sách thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội trung hạn với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo
nên dẫn đến các kết quả ngân sách nghèo nàn.
Do ngân sách soạn lập theo chu kỳ hàng năm, nên nó không được đánh giá, xem
xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh tế xã hội
dài hạn. Nguồn lực của ngân sách phân bổ mang tính dàn trải; thiếu vắng hệ thống
các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu. Cách phân bổ ngân sách
hiện nay không dựa trên nền tảng lí luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, thiếu chiến lược rõ ràng, không cho phép đạt được các mục tiêu mong
muốn của Chính phủ ra.
Ngân sách soạn lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc vừa không
tiên đoán hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán. Ngân sách năm
sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không xét tới việc có nên
tiếp tục duy trì hoạt động đang được cung cấp tài chính hay không. Ngân sách chi
thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng rẽ
làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Tính minh bạch và trách nhiệm không
thực hiện nghiêm túc, một số khoản mục chi được đưa vào thực hiện nhưng không
công bố, đồng thời hạn chế sự tham gia của xã hội trong quy trình ngân sách.
c. Ưu việt của phương pháp quản lý tài chính theo xu hướng mới: Xây
dựng dự toán theo kết quả đầu ra
Trước sức ép về phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu của xã hội về
nâng cao chất lượng hàng hóa công, đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới phương thức
quản lý ngân sách theo đầu ra.
Lập ngân sách theo đầu ra là một hoạt động quản lý ngân sách dựa vào cơ sở tiếp

triển kinh tế – xã hội;
° Ngân sách hợp nhất chặt chẽ giữa chi thường xuyên và chi đầu tư;
° Ngân sách lập dựa trên cơ sở nguồn lực không thay đổi trong trung hạn và do
vậy, đòi hỏi phải có cam kết chặt chẽ;
° Phân bổ ngân sách dựa theo thứ tự ưu tiên chiến lược;
° Phi tập trung hóa trong quản lý ngân sách, người quản lý được trao quyền chủ
động trong chi tiêu.
Sự khác nhau giữa quản lý ngân sách theo đầu vào và quản lý ngân sách theo
đầu ra
- Khác nhau về quy trình chiến lược:
(1). Quy trình chiến lược quản lý ngân sách theo đầu vào:
Sơ đồ trên cho thấy, ngân sách được lập theo quy trình từ việc tính toán các yếu
đầu vào: các khoản mục chi (tiền lương, công cụ, hàng hóa ) để hướng tới các đầu
ra và kết quả. Sự tính toán ngân sách chủ yếu dựa trên dự toán thực hiện của năm
trước và do vậy, không biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào với đầu ra và
kết quả.
(2). Quy trình chiến lược quản lý NSĐR:
Quản lý NSĐR đi từ việc đánh giá kết quả mong muốn, xác định đầu ra và qua đó
hướng tới tính toán các yếu tố đầu vào để lập dự toán và phân bổ nguồn lực tài
chính.
- Khác nhau về nội dung quản lý chi tiêu công:
21
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THEO
KHOẢN MỤC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THEO ĐẦU
RA
Ngân sách được đo lường trong giới hạn
đầu vào, tức là ngân sách được quyết
định bằng tổng các yếu tố đầu vào được
mua sắm.

quả đầu ra trong quá trình lập kế hoạch
ngân sách.
Các cơ quan nhà nuớc quản lý ngân sách
được cung cấp thông tin đầu ra và báo
cáo kết quả thực tế đạt được. Chính phủ
có được thông tin đầu ra của các đơn vị,
cơ quan và đánh giá kết quả mong muốn
.
Sự đánh giá chủ yếu dựa vào so sánh
mức độ chi tiêu trong mỗi khoản mục
đầu vào giữa kế hoạch với thực hiện
hoặc gữa năm này với năm khác.
Sự đánh giá dựa vào tính hiệu quả và
hiệu lực của hàng hóa công được cung
cấp và so sánh với mục tiêu chính sách .
Quyền tự chủ của người quản lý trong
quản lý chi tiêu ngân sách rất thấp.
Người quản lý được trao quyền tự chủ
cao trong quản lý chi tiêu ngân sách
Quản lý ngân sách theo đầu ra trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Quản lý ngân sách theo đầu ra yêu cầu phải thay đổi phương thức soạn lập ngân
sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn ((MTEF: Medium-Term Expenditure
22
Framework) nhằm kết nối chính sách, lập kế hoạch và lập ngân sách phù hợp với
năng lực của quốc gia.
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là một phương pháp soạn lập NSNN được xác định
trong một giai đoạn dài hơn, trong đó nó giới hạn nguồn lực tổng thể từ trên xuống
và kết hợp với các dự toán kinh phí từ dưới lên hợp thành chính sách chi tiêu được
phân bổ phù hợp với các ưu tiên chiến lược đã được Chính phủ chấp nhận.
MTEF được xây dựng dựa trên nhận thức nguồn lực tài chính của quốc gia có giới

d) Vai trò của phương thức lập ngân sách theo đầu ra
23
- Quản lý NSĐR góp phần đổi mới chính sách quản lý nguồn lực của khu vực
công nhằm thiết lập 3 vấn đề cơ bản trong quản lý chi tiêu công, đó là: tôn trọng kỷ
luật tài chính tổng thể; phân bổ có hiệu quả nguồn lực tài chính theo các mục tiêu
ưu tiên chiến lược trong giới hạn nguồn lực cho phép; nâng cao hiệu quả hoạt động
về cung cấp hàng hóa công.
- Quản lý NSĐR tăng cường các nguyên tắc quản lý tài chính của khu vực công
với mục tiêu là cải thiện sự phân phối và quản lý nguồn lực, việc thực hiện cung
ứng hàng hóa công và tính minh bạch, trách nhiệm. Quản lý NSĐR cho phép chính
phủ và cơ quan đặt đúng quy trình thông tin cần thiết nhằm:
° Xác định cái gì sẽ đạt được ( kết quả mong muốn).
° Xác định, chi tiết và đo lường (chi phí và số lượng) cái gì:
+ nên được làm (các đầu ra được sản xuất/ hoặc mua sắm).
+ sẽ được làm (các đầu ra sẽ được sản xuất/ hoặc mua sắm).
° Minh họa và kiểm tra mối liên hệ giữa cái gì được sản xuất/ mua sắm (các đầu ra)
và cái gì sẽ đạt được ( các kết quả) so với cái gì nên đạt được (các kết quả mong
muốn).
° Nguồn lực tài trợ cho các đầu ra cần thiết để đạt được các kết quả mong muốn.
- Quản lý NSĐR đặt chính phủ và các cơ quan vào vị trí để đảm bảo rằng:
° Các đầu ra theo yêu cầu để được tài trợ mà nó được xác định thông qua những
mối liên hệ được miêu tả với các kết quả;
° Các đầu ra theo yêu cầu được tài trợ ở những mức độ khối lượng, giá cả và chất
lượng cụ thể;
° Các đầu ra hướng tới mục tiêu và được cung cấp trong khuôn khổ thời gian
yêu cầu.
e. Phương pháp lập dự toán thu chi tài chính
Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá khả năng và nhu cầu
các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu chi ngân sách hàng năm một cách
đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Có ba phương pháp lập dự toán ngân

của phương pháp này là:
25

Trích đoạn Quyết toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status