Bài 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
1.Nguồn gốc của nhà nước :
1.1.Một số học thuyết phi Macxit về nhà nước:
Thuyết thần học:
Những người theo thuyết thần học cho rằng thượng đế là người sắp đặt mọi trật tự xã hội. Nhà nước
là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Vì vậy nhà nước là lực lượng siêu nhân và quyền
lực nhà nước là vĩnh cửu và sự tuân theo quyền lực nhà nước là vĩnh cửu, là tất yếu.
Thuyết gia trưởng:
Cho rằng nhà nước ra đời là kết quả phát triển của gia đình và quyền gia trưởng là hình thức tổ chức
tự nhiên của con người. Vì vậy nhà nước cũng như gia đình tồn tại trong mọi xã hội quyền lực. Nhà
nước cũng như quyền lực gia trưởng.
Thuyết khế ước xã hội:
Cho rằng sự ra đời của một nhà nước là kết quả của một khế ước với hợp đồng được ký kết giữa
những con người sống ở trạng thái tự nhiên. Vì vậy nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên
trong xã hội.
-Thuyết bạo lực:
-Thuyết tâm lý:
Nhìn chung do hạn chế về mặt lịch sử và nhận thức còn thấp kém và hạn chế bởi giai cấp, họ đã
cố tình giải thích sai lệch đi nguyên nhân đích thực làm phát sinh nhà nước, nhằm che đậy đi bản chất
nhà nước…
1.2. Học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc nhà nước
Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát triển, tiêu vong. Nhà nước là một lực lượng
nảy sinh từ xã hội. Nhà nước chỉ ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp không
thể điều hòa được, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định nhà nước sẽ tiêu vong (khi điều
kiện khách quan cho sự tồn tại của nhà nước mất đi).
1.2.1.Chế độ Cộng sản nguyên thủy và quyền lực thị tộc.
Là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của loài người. Ở đó không có giai cấp vì vậy chưa xuất hiện
nhà nước.
Cơ sở kinh tế:
Là sở hữu tập thể công xã đối với tư liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải. Vì vậy trong xã
Nhà nước là một bộ máy thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì quyền
lực và lợi ích của giai cấp thống trị (chính trị, kinh tế, tư tưởng,…).
Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, biểu hiện các mâu thuẫn đối kháng không thể điều
hòa được.
Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp, nó tồn tại để bảo vệ lợi
ích chủ yếu của giai cấp thống trị.
Thông qua nhà nước ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị được hợp pháp hóa thành ý chí của nhà
nước buộc các giai cấp khác phải tuân theo.
2.2.Vai trò của nhà nước:
Vai trò đối nội: giải quyết các công việc của xã hội phục vụ lợi ích chung của xã hội như: phát
triển kinh tế, đảm bỏa các chế độ phúc lợi xã hôị …
Vai trò đối ngoại: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trao đổi với các quốc gia khác ….
2.3. Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước.
1. Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt hầu như tách khỏi xã hội, quyền lực công
này là quyền lực chính trị chung.
2. Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính, lãnh thổ.
3. Nhà nước có chủ quyền quốc gia.
4. Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý bắt buộc đối với mọi thành viên
5. Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.
* Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ
cưỡng chế và thực thi các chức năng quản lý xã hội, nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích giai cấp
thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong Xã hội
chủ nghĩa.
3. Các kiểu lịch sử của nhà nước
3.1.Khái niệm kiểu nhà nước:
Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc điểm cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã
hội, điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế có giai cấp nhất
định.
3.2.Các kiểu nhà nước:
-Theo học thuyết Mác-LêNin nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ bản nhất của đời sống
chính trị-xã hội. Cùng xuất hiện, tồn tại và phát triển và cùng tiêu vong khi nhân loại tiến tới XHCS.
-Nguyên nhân xuất hiện nhà nước cũng là nguyên nhân xuất hiện pháp luật đó là chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất và sự phân hóa xã hội thành giai cấp.
-Chế độ Cộng sản nguyên thủy không có nhà nước vì vậy cũng không có pháp luật. Hành vi của con
người được điều chình bằng tập quán và tín điều tôn giáo.
-Khi xã hội phân hóa giai cấp quy tắc tập quán trở nên bất lực trong việc điều chỉnh hành vi của con
người, đòi hỏi phải có một quy tắc áp dụng bắt buộc đối với hành vi của con người.
Con đường hình thành pháp luật.
2.Bản chất của pháp luật.
2.1.Tính giai cấp của pháp luật
Pháp luật là con đẻ của xã hội có giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, thể hiện ý chí của giai
cấp vì vậy nó mang bản chất giai cấp sâu sắc.
-Pháp luật là sự biểu thị của giai cấp thống trị, nội dung ý chí đó được cụ thể hóa thành các văn bản
pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Là công cụ thống trị của giai cấp thống trị.
2.2.Giá trị xã hội của pháp luật.
-Trong xã hội các hành vi của con người được số đông chấp nhận phù hợp với số đông trong xã hội,
cách xử sự này được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật.
-Pháp luật là thước đo hành vi của con người. Là công cụ để nhận thức và điều chỉnh quan hệ xã hội
hướng chúng tới sự phá triển của quy luật khách quan.
2.3.Tính dân tộc
Pháp luật phản ánh được những phong tục tập quán đặc điểm lịch sử, điều kiện địa lý , trình độ văn hóa
của dân tộc.
2.4.Tính mở
Pháp luật phải là hệ thống mở tiếp nhận những thành tựu văn minh của nhân loại….
*Khái niệm pháp luật:
Pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng
biện pháp giáo dục và cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước.
3.Chức năng của pháp luật
-Quy phạm pháp luật: là quy phạm quy tắc xử sự trong các trường hợp cụ thể do nhà nước quy
định có tính bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện bởi đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống
luật.
-Chế định pháp luật: là tập hợp hai hay nhiều quy phạm pháp luật, điều chỉnh một nhóm quan hệ
xã hội có tính bắt buộc chung và liên kết mật thiết với nhau, các quy phạm này tạo ra quy phạm pháp
luật mà mình cần.
-Ngành luật: là tổng hợp các chế định pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hộicùng tính
chất mà có thể xếp thành từng nhóm để điều chỉnh của một ngành luật
Vd: ngành luật hôn nhân gia đình điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội như kết hôn ly hôn, vợ chồng,
-Hệ thống các ngành luật nước ta:
+Luật nhà nước, luật hôn nhân – gia đình.
+Luật hành chính, luật hình sự.
+Luật tài chính, luật tố tụng hình sự.
+Luật dân sự, luật tố tụng dân sự.
+Luật đất đai, luật kinh tế.
+Luật lao động.
Ngoài ra bên cạnh hệ thống pháp luật còn tồn tại hệ thống pháp luật quốc tế:
+Công pháp quốc tế.
+Tư pháp quốc tế.
2.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
Hiến pháp 1992 nước ta quy định các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý từ cao tới thấp
như sau:
-Hiến pháp là đạo lực cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống quy phạm pháp luật.
-Nghị quyết của Quốc hội.
-Các đạo luật , bộ luật.
-Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban trung ương Quốc hội.
-Nghị quyết, nghị định của chính phủ.
-Nghị quyết, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng cơ quan ngang bộ.
-Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.
-Quyết định chỉ thị của ủy ban nhân dân các cấp.
-Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được các quyền chủ thể và những nghĩa vụ pháp lý được
nhà nước thừa nhận (điều kiện cần ).
-Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình thực hiện
một cách độc lập các quyền của và nghĩa vụ pháp lý tham gia vào các quan hệ pháp luật.
b. Nội dung của quan hệ pháp luật:
Nội dung của quan hệ pháp luật là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ pháp luật.:
-Quyền chủ thể có một số đặc điểm, khả năng hành động bên kia thực hiện nghĩa vụ yêu cầu cơ
quan nhà nước cưỡng chế nếu bị vi phạm.
-Nghiã vụ pháp lý không phải là khả năng ứng xử mà là cần thiết phải xử sự của các chủ thể
quan hệ pháp luật. ví dụ mua bán phải trả tiền,
-Nghĩa vụ pháp lý có đặc điểm là bắt buộc phải xử sự nhất định như luật quy định nhằm thực
hiện quyền bên kia nếu không nhà nước phải cưỡng chế.
c. Khách thể của quan hệ pháp luật:
Khách thể của quan hệ pháp luật là cái mà chủ thể đó hướng tới, tác động đó là những giá trị về vật chật
(tài sản ) giá trị tinh thần ( danh dự, nhân phẩm )hoặc lợi ích về chính trị.
3.Sự kiện pháp lý.
Sự kiện pháp lý là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đời sống có liên quan tới sự
xuất hiện thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật.
-Chúng được quy định rõ ràng trong phần giả địnhcủa các quy phạm pháp luật.
-Căn cứ vào những quy định của quy phạm pháp luật, những sự kiện làm nảy sinh hiệu quả pháp
lý nhất định.
III. Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
Bài4: Vi phạm pháp luật – trách nhiệm pháp lý và vấn đề tăng cường pháp chế
I/ Vi phạm pháp lý và trách nhiiệm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái với pháp luật và có lỗi do
chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại tới các quan hệ xã hội dược pháp luật bảo vệ.
Hành vi của con người được pháp luật chia làm 2 loại:
+ Hành vi hợp pháp là những hành vi đúng pháp luật là nhừng điều pháp luật cho phépkhông làm
những điều pháp luật cấm.
+ Hành vi bất hợp pháp(hành vi vi phạm pháp luật) là hành vi không phù hợp với quy định pháp luật.
+ Trách nhiệm hình sự được tòa án áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội được quy định
trong bộ luật hình sự .
+ Trách nhiệm dân sự được tòa án áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật (cá nhân hay tổ
chức).Các chế tài trách nhiệm hình sự chủ yếu mang tính chất bồi hoàn thiệt hại .
+ Trách nhiệm hành chính chủ yếu được các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với cá nhân hay tổ
chức thực hiện vi phạm hành chính . Chế tài trách nhiệm hành chính (phạt tiền, cảnh cáo )so với chế tài
hình sự ít nghiêm khắc hơn.
+ Trách nhiệm kỷ luậtdo thủ trưởng các cơ quan giám đốc các xí nghiệp áp dụng đối với cán bộ, nhân
viên, người lao động nói chung khi họ vi phạm kỷ luật lao động.
+ Mô hình về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý.
/………………………………………………
III/ Pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.Khái niệm pháp chế XHCN:
-Pháp chế XHCN là một yêu cầu về sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều
chỉnh các quan hệ xã hội làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực
hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị tổ chức và đối với
công dân (xét về mặt bản chất và ý nghĩa xã hội).
-Xét về mặt hình thức: pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội.
Trong đó tất cả các cơ quan nhà nước , tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, tổ chức và
mọi công dân đều phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để.
2.Những yêu cầu( nguyên tắc) cơ bản của pháp chế XHCN
-Tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và pháp luật.
-Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc.
-Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động tích cực, chủ
động và có hiệu quả.
-Không tách rời pháp chế với văn hóa.
3.Vấn đề tăng cường pháp chế XHCN
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác pháp chế.
-Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN.
-Tăng cường công tá tổ chức và thực hiện pháp luật trong đời sống.
II.Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992 khóa VII và được Quốc hội khóa IX kỳ họp
thứ X ngày 25/12/2001 sửa đổi và bổ sung gồm 12 chương 147 điều.
1.Về chế độ chính trị (Điều 1-14)
Chế độ chính trị thực chất là chế độ thực hiện quyền lợi nhà nước. Chế độ chính trị thông qua hoạt động
của hệ thống chính trị đó là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
-Điều 4 Hiến pháp: “ĐCSVN đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộctheo chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội ” Đảng lãnh đạo thông qua hình thức đề ra chủ trương,
đường lối đào tạo càn bộ, giới thiệu đảng viên ưu tú vào các cơ quan nhà nước bằng giáo dục thuyết
phục.
-nhà nước Việt nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống, nhà nước thực hiện chính
sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các đồng bào, nghiêm cấm hành vi kỳ thị dân tộc (Điều 5).
-Quy định phương thức sử dụng, quyền lực của nhân dân thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấpdo nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.( Điều 6).
-Quy định chế độ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là bỏ phiếu kín (Điều 7).
-Khẳng định quyền dân tộc cơ bản: Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước độc lập có chủ quyền thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền và các vùng hải đảo (Điều1).
2.Chế độ kinh tế (15-29)
Hiến pháp 1992 khẳng định có 3 hình thức sở hữu:
-Sở hữu nhà nước(sở hữu toàn dân).
-Sở hữu tập thể.
-Sở hữu tư nhân.
Trên cơ sở các hình thức sở hữu ở nước ta trong thời kỳ qua độ lên CNXH thì xuất hiện các thành phần
kinh tế tương ứng:
-Kinh tế quốc doanh.
-Kinh tế tập thể.
-Kinh tế cá thể tiểu chủ.
-Kinh tế tư nhân.
-Kinh tế tư bản nhà nước.
I.Khái niệm luật hành chính:
1. Khái niệm luật hành chính và cơ quan hành chính nhà nước:
a.Khái niệm:
Luật hành chính bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình hoạt động, quản lý của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
-Khái niệm hoạt động hành chính nhà nước hay hoạt động quản lý nhà nước là khái niệm hoạt động
chấp hành và điều hành.
-Hành chính được hiểu là quản lý, lãnh đạo về hoạt động công vụ hàng ngày trong các công sở của bộ
máy nhà nước.
b.Cơ quan hành chính nhà nước:
-Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước hoạt động thường xuyên, liên
tục, có vị trí tương đối ổn định, đưa đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống.
-Cơ quan hành chính chia làm 2 loại:
+Chính phủ-bộ, ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền chung:
.Cơ quan nhà nước Trung ương ( chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ).
.Cơ quan nhà nước địa phương (ủy ban nhân dân, sở cục, chi cục ).
+Các vụ, sở, phòng ban là cơ quan chuyên môn.
c. Đối tượng điều chỉnh:
-Là những quan hệ xã hội mang tính chấp hành, điều hành phát sinh giữa chủ thể tham gia hoạt động
của nhà nước.
-Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi nhà nước hoặc nhân danh nhà nước mà đối tượng là
các hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
d.Phương pháp điều chỉnh:
Là xuất phát từ quyền uy phục tùng đó là phương pháp mệnh lệnh đơn phương, một bên nhân danh nhà
nước ra các quyết định hành chính có tính chất mệnh lệnh bắt buộc thi hành và một bên là đối tượng
quản lý có nghĩa vụ phục tùng mệnh lệnh đó.
e. Hệ thống luật hành chính:
Hệ thống luật hành chính bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nằm rải rác trong các văn bản khác
nhau quy định về nhiều lĩnh vực của tổ chức quản lý nhà nước. Những văn bản đó bao gồm nhiều nhóm
quy phạm chia thành 2 phần của luật hành chính:
-Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành.
-Chỉ bị xử phạt khi có vi phạm.
-Vi phạm hành chính chỉ bị xử lý một lần, kịp thời, công minh, nhanh chóng theo đúng luật định.
-Không xử lý hành chính trong các trường hợp cấp thiết, phòng vệ chính đáng, hoặc bất ngờ.
4.Các hình thức xử phạt hành chính
-Cảnh cáo.
-Phạt tiền.
-Tước quyền sử dụng giấy phép.
-Tịch thu tang vật.
-Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.
-Buộc khắc phục khác.
-Bồi thường thiệt hại.
-Buộc tiêu hủy vật phẩm độc hại.
Ngoài ra còn áp dụng xử phạt hành chính khác như giáo dục tại xã, phường, đưa vào cơ sở giáo dục,
giáo dưỡng, chữa bệnh, quản chế hành chính.
III.Viên chức, công chức, quyền hạn và trách nhiệm, khen thưởng và kỷ luật
1.Viên chức nhà nước:
Viên chức nhà nước là công dân Việt nam làm việc trong các cơ quan nhà nước do được tuyển dụng,
bầu hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ nhất định hoặc bằng hoạt động của chính mình góp phần vào thực
hiện một chức vụ nhất định và được trả lương theo chức vụ của họat động đó.
Viên chức nhà nước được chia thành 2 loại:
-Viên chức nhà nước là công chức.
-Viên chức nhà nước không là công chức như sĩ quan, hạ sĩ quan, bộ đội biên phòng, người giữ chức vụ
trong cơ quan quyền lực nhà nước, hành chính, xét xử, người hoạt động trong các đơn vị sản xuất kinh
doanhcủa bộ máy quản lý nhà nước.
2.Công chức nhà nước:
Công chức nhà nước là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên, lâu dài
trong công sở nhà nước từ trung ương đến địa phương (ở trong nước hay ngoài nước ) được xếp vào
ngạch công chức và được hưởng lương theo ngạch, bậc lương nhất định.
Bao gồm:
I.Khái niệm luật lao động, các quan hệ pháp luật lao động và hợp đồng lao động.
1.Khái niệm:
Luật lao động là tổng hợp những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ
lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao độngvà các quan hệ xã hội liên
quan trực tiếp với quan hệ lao động.
2. Đối tượng điều chỉnh:
Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là quan hệ lao động hay quan hệ về sử dụng lao động và quan hệ
liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
3.Các quan hệ pháp luật lao động:
a.Khái niệm và đặc điểm:
-Quan hệ pháp luật laô động ( hay cò gọi là quan hệ pháp lý về sử dụng lao động ) là quan hệ pháp lý
trong quá trình tuyển chọn và sử dụng lao động của người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế, tại các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.
-Đặc điểm:
+Quan hệ pháp luật lao động được thiết lập chủ yếu trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động.
+Khi tham gia quan hệ pháp luật lao động người lao động tự đặt hoạt động của mình vào sự quản lý của
người sử dụng lao động.
+Có sự tham gia của công đoàn với tư cách là đại diện cho tập thể người lao động.
b. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động
Bao gồm: các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ ( cá nhân, người sử dụng lao động, tổ
chức ).
*Quyền và nghĩa vụ của người lao động:
-Quyền: người lao động có quyền tự do giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, quyền
được đảm bảo tiền lương, tiền thưởng, quyền đảm bảo an toàn lao động, quyền được bảo hiểm xã hội
theo quy định của pháp luật, được nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật và theo sự thỏa thuận của các
bên .
-Nghĩa vụ: người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, chấp
hành các nội quy của đơn vị, thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động, chấp hành kỷ luật lao
động.
*Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
-giao kết giữa đại diện của một nhóm người lao động với người sử dụng lao động.
III. Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động
1.Quyền và nghĩa vụ của người lao động:
Khi tham gia quan hệ lao động người lao động có các quyền cơ bản sau:
-Được trả công theo số lượng và chất lượng lao động và hiệu quả lao động, tiền lương ngang nhau cho
công việc như nhau.
-Được bảo hộ lao động toàn diện, được làm việc trong điều kiện an toàn cho tính mạng và sức khỏe.
-Được gnhỉ ngơi theo chế độ của nhà nước quy định như nghỉ hàng năm, ngày lễ, nghỉ hàng tuần, mà
vẫn hưởng lương.
-Được hưởng chế độ bảo hiểm khi ốn đau, thai sản, giảm mất khả nămg làm việc, rủi ro hết tuổi lao
động hoặc mất việc làm.
-Được hưởng phúc lợi tập thể và các quyền lợi khác.
-Được đình công theo quy định của pháp luật.
b. Nghĩa vụ của người lao động:
- Làm tròn trách nhiệm theo đúng hợp đồng lao động đã ký kết.
- Chấp hành kỷ luật lao động và nội quy lao động
- Tuân thủ sự quản lý và điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động
2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
a. Quyền của người sử dụng lao động
- Quyền tuyển chọn bố trí và điều hành hoạt độngtheo nhu cầu sản xuất công tác
- Quyền được cử đại diện để thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc
trong ngành
- Quyền khen thưởng và kỷ luật vi phạm hợp đồng lao động theo pháp luật
- Quyền được chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nhất định
b. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động
- Thực hiện hợp đồng lao động thỏa ước lao động tập thể và các thỏa thuận khác với người lao động
- Đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và các điều kiện lao động khác
- Đảm bảo kỷ luật lao động
- Tôn trọng nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động đồng thời quan tâm đến đời sống của họ
và gia đình
hợp này nam phải đủ 50 tuổi nữ 45 tuổi ngoài ra khi về hưu sức khỏe phải suy giảm 61% trở lên
. Người lao động nặng nhọc độc hại thì không giới hạn về độ tuổi nhưng phải đủ điều kiện đóng bảo
hiểm xã hội từ 20 năm trỏ lên và suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
Lưu ý: Người lao động không đủ điều kiện hưởng chế độ lao động hàng tháng theo quy định tại khoản 1
và khoản 2 điều 145 Bộ luật lao động thì được hưởng trợ cấp 1 lần
+ Chế độ trợ cấp tử tuất
2. Vai trò quyền hạn của tổ chức công đoàn
a. Vai trò của tổ chức công đoàn :
*Khái niệm:
Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội và rộng lớn nhấtcủa giai cấp công nhân Việt nam và nhân dân
lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
-Tham gia quản lý nhà nước về lao động, quản lý sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ tập thể.
-Chăm lo cải thiện đời sống người làm việc, bảo vệ quyền và lợ ích hợp pháp của người lao động được
pháp luật quy định
b. Quyền hạn của tổ chức công đoàn trong quan hệ của người lao động và người sử dụng lao động (Điều
144 )
. Quyền tham gia quản lý xây dựng quy chế lao động trong đơn vị
. Cùng với người sử dụng lao động tổ chức công nhân viên chức
. Than gia cải thiện và nâng cao đời sống cho người lao động đảm bảo nguyên tắc, đúng quy định của
pháp luật và phù hợp với điều kiện đơn vị sử dụng lao động
. Quyền thay nặt người lao động kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động
. Quyền tham gia và quản lý sử dụng quỹ khen thưởng quỹ phúc lợi của cơ quan xí nghiệp.
.Quyền tham gia xử lý kỷ luật lao động và tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.
.Quyền đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể.
.Qquyền tổ chức đình công theo quy định của pháp luật .
Điều173 khoản 2
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ___________ .
1.LUẬT HÌNH SỰ.
1/khái niệm.
quyền áp dụng các biện pháp hình sự nhất định ( các chế tài hình sự ) đối với kẻ phạm tội mà không bị
một sự cản trở nào của cá nhân, xã hội.
3. Tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm
a.khái niệm:
Điều 8 luật hình sự nước CHXHCNVN đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau: tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người có năng lực hình sự thực hiện một cách
cố ý hay vô ý xâm phạm tới độc lập chủ quyền, xâm pạhm tới chế độ chính trị, chế dộ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền , lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm hại tới tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm
hại tới những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội xhủ nghĩa.
Từ định nghĩa đầy đủ có thể định nghĩa khái quát như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội,
có lỗi, trái pháp luật hình sự, và phải chịu trách nhiệm hình sự.
-Tính nguy hiểm cho xã hội về mặt khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể
cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính
Nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm
một hành vi sở dĩ bị quy định trong bộ luật hình sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì có
tính nguy hiểm cho xã hội
-Tính có lỗi của tội phạm: Một người được coi là có lỗi khi thực hiện một hành vi nếu hành vi đó là kết
quả của sự tự lựa chọn quyết định của chủ thể khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định một xử sự
khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Trong bộ luật hình sự Việt Nam tính có lỗi được nêu trong định
nghĩa về tội phạm là một dấu hiệu độc lập cùng với tính nguy hiểm trong xã hội nhưng không phải để
tách có lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính có lỗi. Luật hình sự Việt Nam
không chấp nhận việc quy tội khách quan
tức là quy trách nhiệm một người chỉ căn cứ vào việc người đó đã thực hiện một hành vi gây thiệt hại
cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ chúng ta áp dụng một hình phạt không phải để trừng trị một
hành vi mà để trừng trị người đã thực hiện tội phạm nhằm cải tạo giáo dục họ mục đích giáo dục cải tạo
này chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi. Đối với người không có lỗi hình
phạt không thể phát huy được tác dụng giáo dục đào tạo
-Tính trái pháp luật: Theo luật hình sự Việt Nam một hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội
phạm khi xâm hại tới các khách thể của luật hình sự bảo vệ.Như vậy tính được quy định trong bộ luật
-Lỗi vô ý do quá tự tin
-Lỗi vô ý do cẩu thả
+Mục đích:
-Là mốc trong ý thức của người phạm tội được đặt ra cho hành vi phạm tội phải đạt đến. Ví dụ
mục đích của anh A là đánh chết B,nhưng anh B chỉ bị thương
+Động cơ là yếu tố tinh thần người phạm tội.Ví dụ: Động cơ phòng vệ chính đáng là dấu hiệu định
khung được phản ánh trong chế tài,tội phạm giảm nhẹ của tội cố ý gây thương tích.
3. Hình phạt các loại hình phạt:
a.khái niệm:
-Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước do tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm
theo quy định của tội phạm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết
án. Nhằm mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
-Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ nó
có thể tước bỏ những quyền và lợi ích thiết thực của người bị kết án như quyền tự do, quyền chính trị,
quyền sở hữu thậm chí cả quyền sống. Ngoài ra hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu
quả pháp lý là án tích trong thời hạn do luật quy định.
-Hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng:
Mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quy định trong luật hình sự phụ thuộc vào tính chất và mức độ
nghiêm trọng của tội phạm. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do tòa án nhân dân nhân danh nhà nước
quy định áp dụng đối với người phạm tội. Hình phạt đã được tòa án tuyên đối với người phạm tội thể
hiện sự lên án của nhà nước đối với họ và hành vi do họ gây ra.
-Hình phạt chỉ cí thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội
Hình phạt chính là sự thực hiện quan hệ pháp luật hình sự nảy sinh giữa người có hành vi phạm tội và
nhà nước. Do vậy chỉ có thể áp dụng với người có hành vi phạm tội. Hình phạt không thể áp dụng đối
với các thành viên trong gia đình cũng như người thân khác của người phạm tội ngay cả trong trường
hợp người phạm tội lẩn tránh hình phạt. Hình phạt có liên quan đến tài sản cũng chỉ áp dụng đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu của người có hành vi phạm tội.
b. Các loại hình phạt:
*Các hình thức phạt chính:
-Cảnh cáo: là sự khiển trách công khai của nhà nước do tòa tuyen án với người bị kết án.
-Tước một số quyền công dân (đ34).
-Tịch thu tài sản (điều 40).
-Phạt tiền và trục xuất.
* Một số hình phạt tư pháp.
(1) Tịch thu tài sản, tang vật trực tiếp liên quan đến tội phạm (đ41).
(2) Trả lại tài sản ,sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại,hoặc xin lỗi công khai(đ 42).
(3) Bắt buộc chữa bệnh (đ 43).
4) TỘI PHẠM CỤ THỂ (trang 429 môn pháp luật).
(1)-Các tội phạm xâm hại an ninh quốc gia(đượ quy định từ điều 78 đến điều 91 và điều 92 là hình phạt
bổ xung).
(2)-Các tội phạm tính mạng ,sức khoẻ ,nhân phẩm ,danh dự của con người (được quy định từ điều 93-
>122).
(3) –Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân (được quy định từ điều 123 - 145)
-Các tôị phạm đến chế độ hôn nhân gia đình (Điều 146 – 152 )
-Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (điều 153-181).
-Các tội phạm về môi trường (điều 182- 191).
-Các tội về ma tuý (điều 192 – 201).
-Các tội xâm phạm đến an toàn công cộng (điều 202 – 256).
-Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (điều 257- 276).
-Các tội phạm về tham nhũng(điều 278- 284 ).
-Các tội phạm khác về chức vụ (điều 285-297).
-Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (điều 292-314).
-Các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm quân nhân (điều 315- 340).
-Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh(điều 341-344).
II.Luật Tố tụng hình sự
1.Khái niệm:
Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật , tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh caca quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án.
Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng
+Đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, cơ quan kiểm lâm khởi tố vụ án hình sự.
-Điều tra vụ án hình sự:
Là giai đoạn tố tụng hình sự trong đó cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do bộ luật tố tụng hình sự
quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của toá
án.
Nhiệm vụ của cơ quan điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, xác định thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án, xác định nguyên nhân,
điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan tổ chức áp dụng biện pháp ngăn ngừa.
Lưu ý:
Luật tố tụng hình sự quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 4 tháng kể từ ngày khởi tố vụ
án, nếu do tính chất phức tạp phải điều tra thêm trước khi hết hạn 10 ngày thì phải làm văn bản gửi viện
trưởng viện kiểm sát tỉnh hoặc quân khu cấp này có quyền ra hạn thêm 4 tháng đối với vụ án do cấp
dưới hoặc cấp mình điều tra.
Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền ra hạn thêm hai lần đối với vụ án cấp mình điều tra
và một lần đối với cấp dưới mình. Trường hợp đặc biệt nếu điều tra chưa kết thúc viện trưởng viện kiểm
sát nhân dân tối cao có quyền ra hạn thêm một lần nữa nhưng không quá 4 tháng . Như vậy nói chung
thời hạn điều tra tối đa cấp tỉnh , cấp quân khu là 16 tháng, đối với cấp huyện là 12 tháng.
-Truy tố vị can ra trước tòa: đây vừa là nghĩa vụ vừa la quyền của viện kiểm sát thực hiện quyền công tố
được nhà nước giao sau khi nhận được hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển sang . Trong thời hạn 30
ngày viện kiểm sát phải quyết định việc khởi tố hay không truy tố vị can.
Nếu truy tố thì ra quyết đình bằng văn bản cáo trạng, không truy tố thì có thể ra quyết định trả lại hồ sơ
để điều tra bổ xung, đình chỉ hay tạm đình chỉ.
-Xét xử sơ thẩm:
+Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự năm 1981 là tội không nghiêm trọng 5
năm tù, đến 1986 nâng lên là 7 năm tù giam , năm 2003 là 10 năm tù giam.
+Thẩm quyền của toà án nhân dân tỉnh và toà án quân sự quân khu là xét xử sơ thẩm những vụ án không
thuộc thẩm quyền cấp huyện và khu vực.
+toà án nhân dân tối cao và quân sự trung ương xét xử so thẩm đổng thời là chung thẩm những vụ án
đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp( bản án có hiệu lực ngay)
Lưu ý: thành phần hội đồng xét sử sơ thẩm có một thẩm phán và hai hội thẩm, trường hợp vụ án có tính
bản án có hiệu lực. Ngược lại việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến
hành bất cứ lúc nào kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
Lưu ý: Đối với bản án của cấp tỉnh và quân khu thì toà án nhân dân tối cao hoặc toà án quân sự trung
ương có quyền giám đốc thẩm ( thành phần xét xử gồm 3 thẩm phán ).
-Tái phẩm:
Là xét xử lại những bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực mà phát hiện ra những tình tiết mới, những
tình tiết này có thể làm thay đổi nội dung của bản án hoặc quyết định mà toà án không biết được khi ra
bản án quyết định đó.
+viện trưởng viện kiểm sát tối cao có quyền kháng nghị tất cả các bản án kháng nghị của toà án nhân
dân các cấp hoặc toà án quân sự các cấp.
+viện trưởng viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị tất cả các bản án đã có hiệu lực của
toà án quân sự các cấp.
+viện trưỏng viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp quân khu có quyền kháng nghị bản án của cấp huyện và cấp
khu vực ( viện trưởng không uỷ quyền cho cáp phó kháng nghị).
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
I.Khái niệm luật hôn nhân và gia dình
1. Khái niệm hôn nhân-gia đình
a. Hôn nhân là gì ?
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc bình đẳng và tự
nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc
dân chủ và hoà thuận.
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của hôn nhân XHCN như sau:
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Hôn nhân một vợ một chồng
(đặc điểm này là sự khác biệt cơ bản giữa hôn nhân XHCN với hôn nhân phong kiến).
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện, trên cơ sở tình yêu chân chính.
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt
đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, hoà thuận.
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên cơ sở quy định của pháp luật.
Theo quy định của luật hôn nhân gia đình Việt nam việc kết hôn hay ly hôn được tiến hành theo trình tự
2.Khái niệm luật hôn nhân và gia đình, những nguyên tắc chủ yếu
-Khái niệm:
Luật hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật việt nam tổng thể những quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thể chế hoá nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia
đình về nhân thân và tài sản.
Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam luật hôn nhân và gia đình có đối tượng
điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng:
-Đối tượng điều chỉnh: của luật hôn nhân và gia đình là quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa những người thân thích ruột thịt khác. Hay nói
cách khác đối tượng điều chỉnh của luật hôn nhân và gia đình là các quan hệ phát sinh giữa các thành
viên trong gia đình về lưọi ích nhân thân và tài sản.
+quan hệ nhân thân là quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong gia dình về lợi ích nhân thân. Đó là
những quan hệ như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự yêu thương chăm sóc giúp đỡ về việc xác định chỗ
ở chun, quan hệ giữa bố mẹ và con cái về việc xác lập chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành
niên.
+Quan hệ tài sản: là quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lơị ích tài sản. Đó là những
quan hệ như quan hệ cáp dưỡng giữa vợ và chồng, cha mẹ va con cái, giữa các thành viên trong gia
đình, quan hệ sở hữu giữa vợ với chồng.
-Phương pháp điều chỉnh: là những cách thức và biện pháp mà các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia
đình tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó. Phương pháp tác động của luật
hôn nhân gia đình có các đặc điểm:
+Trong quan hệ hôn nhân gia đình quyền đồng thời là nghĩa vụ của các chủ thể. Ví dụ luật hôn nhân và
gia đình quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu , quý trọng , chăm sóc giúp
đỡ nhau tiến bộ”, theo quy định đó nghĩa vụ của vợ chồng đồng thời là quyền chủ thể ….
-(2)Các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mìnhnphải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình:
-(3)Các chủ thể chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ bằng thoả thuận không được làm thay đổi những quyền
và mà pháp luật đã quy định .
-(4)Các quy phạm pháp luật HN và GĐ gắn bó mật thiết các quy phạm truyền thống ,phong tục tập quán
.Việc thực hiện luật HN và GĐ được đảm bảo bởi tính cưỡng chế của nhà nước trên tinh thần phát huy
tính tự giác thông qua giáo dục ,khuyến khích và hướng dẫn thực hiện .
vụ và quyền như nhau về mọi mặt trong gia đình, vợ chồng có quyền tự do lựa chọn ngành nghề chính
đáng tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Đồng thời xác lập chế độ tài sản của vợ
chồng như chế độ sở hữu, về chia tài sản khi ly hôn, về chế độ cấp dưỡng lẫn nhau,
4-Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cha mẹ và con cái
Đây là nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, được xác định theo tinh thần mới, một mặt bảo
vệ quyền lợi của cha mẹ, các con mặt khác giáo dục tinh thần trách nhiệm giữa họ với nhau “ cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành những người công dâncó ích cho xã hội, con cái có nghĩa vụ kinhs
trọng, chăm sóc cha mẹ.
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cha mẹ con cái trong luật hôn nhân gia đình được cụ thể hoas trong nhiều
chương luật nhiều điều khoản khác nhau. Ví dụ “ cấm mgược đãi hành hạ cha mẹ, vợ chồng,con cái” “
cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con” “ các con có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong
gia đình” . Mặt khác điều cần lưu ý là: quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và các con tồn tại không phụ
thuộc vào việc hôn nhân giữa cha mẹ có hợp pháp hay không, đang tồn tại hay đã chấm dứt.
Luật hôn nhân gia đình quy định: “ con ngoài giá thú được cha mẹ nhận hoặc toà án nhân dân cho nhận
cha mẹ có quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú”.
5-Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Luật hôn nhân gia đình quy định: “nhà nước và xã hội bảo vệ chức năng của người mẹ”. Luật còn quy
định hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ có thai, nuôi con còn bú với
mục đính là chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em, nhất là trẻ em không nơi nương tựa.
*Nói tóm lại các nguyên tắc của luật hôn nhân gia đình có nội dung phong phú liên hệ mật thiết với
nhau, bổ xung cho nhau. Tuân thủ các nguyên tắc là bắt buộc đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan
trong hoạt dộng nghiên cứu thực hiện và áp dụng pháp luật cũng như xây dựng pháp luật.
II. NỘI DUNG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
1. Các điều kiện kết hôn
-Phải đủ tuổi kết hôn: luật quy dịnh nam từ 20 tuổi trở lên, nữ là 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.
Như vậy muốn kết hôn những người kết hôn phải đạt độ tuổi nhất định. Độ tuổi tối thiểu đối với nam là
20 với nữ là 18. Đay là một điều kiện quan trọng để hôn nhân có giá trị pháp lý.
Luật hôn nhân gia đình quy định kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, căn cứ
vào các điều kiện kinh tế - xã hội của nhà nước ta. Quy định này thể hiện sự quan tâm của nhà nước ta
đối với sức khoẻ nam nữ nhằm đảm bảo cho con cái sinh ra được khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ.
người mắc bệnh tâm thần không thể thể hiện ý chí của họ một cách đúng đắn được vì thế không thể
đánh giá được sự tự nguyện của họ trong việc kết hôn. Những người mắc bệnh hoa liễu và di truyền khi
họ kết hôn sẽ lây cho vợ hoặc chồng có thể để lại di chứng cho con cái.
-Những người kết hôn với nhau không có quan hệ thân thuộc: Luật hôn nhân gia đình quy định cấm
giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, giữa những người khác có họ
trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ đẻ với con nuôi. Từ việc nghiên cứu trên cơ sở khoa học hiện đại và
khảo sát thực tế, các nhà khoa học kết luận rằng kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống thì
con cái do họ sinh ra thường bị bệnh tật và dị dạng.
Để đảm bảo cho con cái sinh ra khoẻ mạnh đảm bảo lợi ích gia đình và xã hội, luật hôn nhân gia đình
cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau.
-Phải được uỷ ban nhân dân cơ sở, nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận.
+Luật hôn nhân quy định: “ việc kết hôn do uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn nơi thường trú của một
trong hai người công nhận ghi vào sổ sách và giấy kết hôn theo nghi thức của nhà nước quy định.
+Việc kết hôn giữa các công dân Việt nam vớiư nhau ở nước ngoài do cơ quan đại diện ngoại giao nước
CHXHCNVN công nhận, mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý. Khi hai bên nam nữ
muốn kết hôn họ phải làm giấy khai sinh xin đăng ký kết hôn gửi tới uỷ ban nhân dân xã, uỷ ban nhân
dân xã sẽ tiến hành kiểm tra những lời khai của các bên, sau khi đièu tra nếu thấy các bên có đủ điều
kiện kết hôn thì sẽ tiến hành đăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn. Kể từ ngày uỷ ban nhân dân xã trao
giấy kết hôn hai bên mới phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Việc kết hôn phải do uỷ ban
nhân dân xã công nhận có ý nghĩa quan trọng. Đây là biện pháp để nhà nước kiểm tra việc tuân theo
pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cớ xác lập giữa hai bên đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ
chồng, quan hệ này được nhà nước bảo hộ.
• Hôn nhân trái pháp luật :
Về nguyên tắc toà án sẽ huỷ hôn nhân nếu khi kết hôn đã vi phạm một trong những điều kiện kết hôn
theo quy định của pháp luật. Huỷ hôn nhân trái pháp luật( hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn ) là biện
pháp xử lý những hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn. Đay là thể hiện thái độ của nhà nước đối với
những cuộc hôn nhân trái pháp luật. Những căn cứ để huỷ hôn nhân trái pháp luật:
-Chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật mà đã kết hôn.
-Thiếu sự tự nguyện của hai người kết hôn hoặc một trong hai người kết hôn.
-người đang có vợ chồng lại kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng.
hội trong việc nuôi dạy thế hệ trẻ, tương lai của đất nước.
-Vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia công tác, chính trị, kinh tế, văn
hoá xã hội, vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chỗ ở. Như vậy với tư cách là công dân, vợ chồng cũng
được thực hiện quyền đó. Quy định này nhằm đảm bảo cho vợ chồng đều có quyền bình đẳng ngang
nhau trong việc tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với nguyện vọng và năng lực của mình, nhằm
phát huy khả năng, nâng cao sự hiểu biết, trình độ. Khi vợ hoặc chồng thực hiện quyền của mình thì
người kia lại có nghĩa vụ là không được cản trở. Đây đảm bảo cho quyền tự do của con người, là biện
pháp giải phóng người phụ nữ khỏi những ràng buộc của tư tưởng phong kiến.
b. Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng
-Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng:
+Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất: Luật hôn nhân gia đình quy định “ tài sản
chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng làm ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập
hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
được cho chung”. Mặt khác những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế,
được cho được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng họ không tự nguyện sát nhập vào khối tài sản
chung.
Tài sản chung của vợ chồng được sở hữu hợp nhất thì theo nguyên tắc vợ chồng đều có quyền ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản chung hợp nhất.
_ Quyền của vợ chồng đối với tài sản riêng:
Luật quy định : Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài
sản được thừa kế riêng hay cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhâpj hay
không nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Như vậy luật hôn nhân gia đình đã ghi nhận vợ chồng có
quyền có tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân và xác định rõ nguồn gốc tài sản riêng là vợ chồng có
trước khi hôn nhân người có tài sản riêng có quyền định đoạt tài sản của mình không phụ thuộc vào ý
chí của người kia. VD: người chồng phải có nghĩa vụ chu cấp thì anh ta có thể lấy tài sản riêng để thực
hiện nghĩa vụ đó mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ.
_ Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng là nghĩa vụ chăm sóc nhau :
Do đó quyền và nghĩa vụ này phát sinh kể từ khi kết hôn cho đến khi chấm dứt hôn nhân trong một số
trường hợp đặc biệt thì quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng tồn tại cả khi vợ chồng đã ly
hôn với điều kiện là :
mẹ vẫn phải có nghĩa vụ nuôi con.
_Các con có nghĩa vụ ngang nhau trong việc cấp dưỡng cha mẹ.
_Các con cònn ở chung với chs mẹ dù thành niên hay chưa thành niên đều có tài sản.
_Cha mẹ có quyền quản lý tài sản của con chưa thành niên .Nếu con cái từ 16=>18 tuổi thì phải có sự
đồng ý của con cha mẹ mới được mua bán ,cầm cố tài sản của con do mình quản lý.