Tài liệuMột số vấn đề
về nhà nước pháp quyền
Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1. Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng Nhà nước pháp
quyền
Cantơ và các nhà tư tưởng tiến bộ thế kỷ XVIII-XIX đã đưa ra quan niệm Nhà
nước pháp quyền nhằm chống lại Nhà nước chuyên chế, cực quyền phong kiến,
chống lại sự độc đoán, lạm quyền và nằm trong trào lưu chung của hệ tư tưởng
giải phóng.Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải thay đổi hệ thống
chính trị, mở rộng dân chủ dựa trên nguyên tắc tôn trọng tính tối cao của pháp luật
và pháp chế.Với tính cách là một hình thức chính trị pháp lý hợp lý, Nhà nước
pháp quyền là một trong những giá trị quý báu chung của toàn nhân loại, được xếp
ngang với những giá trị khác như nhân quyền, dân chủ và chế độ lập hiến.
Vấn đề Nhà nước pháp quyền được đề cập nhiều trong các tác phẩm kinh điển
về Nhà nước và pháp luật.
Từ thời cổ đại, người ta đã bắt đầu tìm kiếm nguyên tắc, hình thức và cơ cấu để
thiết lập quan hệ qua lại, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa pháp luật và
quyền lực.
Trào lưu của quan niệm ngày càng sâu sắc, sớm hình thành tư tưởng về sự hợp
lý và công bằng của việc tổ chức một hình thức chính trị của đời sống xã hội,
trong đó nhờ vào sự thừa nhận và ủng hộ của quyền lực, pháp luật trở thành sức
mạnh của quyền lực, còn sức mạnh của quyền lực được tổ chức có trật tự, thừa
luật pháp quyền (bất cứ đạo luật nào cũng bao hàm trong mình pháp luật, nói về
tính tối cao của luật trong một Nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó).
Theo ông, khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm về Nhà nước, bởi vì pháp
luật là tiêu chuẩn của sự công bằng, là quy phạm điều chỉnh mọi giao tiếp chính
trị.
Các nhà tư tưởng cổ đại không chỉ chú trọng tới tính tối cao của luật, của pháp
luật mà còn chú trọng tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quản lý Nhà nước. Cả hai
khía cạnh đều có ý nghĩa quan trọng, liên hệ mật thiết với nhau. Nếu không có tổ
chức quy củ của Nhà nước, không có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn; Không quy định trật tự trong mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan Nhà nước
thì không thể có tính tối cao của pháp luật. Mặt khác, bản thân tổ chức hệ thống
quyền lực của Nhà nước pháp quyền không thể tồn tại nếu không phù hợp với
pháp luật, nếu luật không được tuân thủ.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp
luật với hình thức pháp lý của tổ chức quyền lực chính trị.
Đó là hai yếu tố không thể thiếu và không thể tách rời của Nhà nước pháp quyền.
Bước phát triển đáng kể trong lý luận về Nhà nước pháp quyền được thể hiện
trong các học thuyết chính trị - pháp lý của các nhà tư tưởng La mã cổ đại, đặt biệt
của Xixêrông. Theo ông, Nhà nước là sự nghiệp và tài sản của nhân dân.
Xixêrông quan niệm rằng nhân dân không phải là sự tập hợp bất kỳ nào của
nhiều người, tập trung lại với nhau theo kiểu nào đó mà là sự tập hợp của nhiều
người gắn bó với nhau bằng sự thống nhất với nhau về pháp luật và lợi ích chung .
Như vậy, pháp luật là cội nguồn đẻ ra chế độ, tổ chức Nhà nước. Pháp luật ở
đây được hiểu là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con
người và của thế giới xung quanh con người như sự sáng tạo của lý trí thần thánh.
Pháp luật tự nhiên có trước Nhà nước và luật thành văn. Vì con người là sản phẩm
của tạo hóa, sản phẩm có lý trí nên pháp luật và sự công bằng là thuộc tính vốn có
của con người. Theo ông, một Nhà nước là Nhà nước pháp quyền không phải do
Nhà nước đó tuân thủ luật của mình mà là vì xét về cội nguồn và về bản chất, Nhà
nước chính là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân. Pháp luật của Nhà nước
công nhận tự do và các quyền tự nhiên của cá nhân. Nhà nước (có luật ngự trị) đối
lập với chuyên quyền, pháp chế đối lập với phi pháp của người nắm quyền. Theo
ông, nguyên tắc “cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm” chỉ đúng khi
áp dụng đối với công dân còn đối với người nắm quyền lực phải áp dụng nguyên
tắc ngược lại: "Cấm không được làm những gì mà luật không cho phép".
Quan niệm mới về phân quyền thể hiện đầy đủ trong các công trình của
Môngtexkiơ (Pháp) vào thế kỷ thứ XVIII. Theo ông, ở mỗi Nhà nước có ba loại
quyền :
- Quyền lập pháp;
- Quyền hành pháp;
- Quyền tư pháp.
Để tránh lạm quyền, ba quyền đó phải nằm trong tay ba cơ quan khác nhau,
chế ước lẫn nhau. Đó là điều kiện chủ yếu để đảm bảo tự do chính trị trong Nhà
nước. Tự do không phải làm những gì mà mình muốn và cũng không có nghĩa là
bị buộc làm những gì mà mình không muốn. Tự do có nghĩa là được làm tất cả
những gì mà luật cho phép.
Sau này, Mác cũng thể hiện quan điểm tương tự như vậy: Sự tự do được thừa
nhận về mặt pháp lý chỉ tồn tại trong Nhà nước dưới hình thức luật. Luật được
hiểu là luật pháp theo đúng nghĩa của nó chứ không phải sự làm luật tùy tiện.
Học thuyết của Lôccơ và Môngtexkiơ về phân quyền, về bảo đảm quyền tự do
của công dân ảnh hưởng rõ nét đến quan niệm lý luận về Nhà nước pháp quyền,
pháp luật nói chung và hiến pháp nói riêng của các Nhà nước tư sản sau này.
Chẳng hạn, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp 1789:
"Luật chỉ có thể cấm những hành vi có hại đối với xã hội. Tất cả những gì mà luật
không cấm, đều cho phép làm và không ai có thể bị buộc phải làm điều gì mà luật
không quy định”.
Canter (1724-1804) là người lập luận trên phương diện triết học về Nhà nước
pháp quyền như sau: Nhà nước là tập hợp nhiều người cùng phục tùng đạo luật
pháp quyền. “Hoạt động sao cho sự biểu thị tự do theo ý mình phù hợp với tự do
của người khác, phù hợp với luật chung”. Ông cũng là một trong những người tán
phong phú và là toàn bộ hệ thống pháp luật, một hệ thống bao hàm việc thừa nhận
mọi quyền khác, quyền của cá nhân, gia đình và xã hội. Hêghen đặt Nhà nước lên
cao nhất, trên cá nhân, trên cả xã hội. Nhà nước là thứ pháp luật cụ thể ở vị trí đỉnh
chóp của hình nón pháp luật. Ông thần thánh hóa Nhà nước pháp quyền, coi các
quyền cá nhân và xã hội phụ thuộc, phục tùng Nhà nước không phải với tính cách
là bộ máy bạo lực mà là một thứ pháp luật cao hơn.
Là nhà tư tưởng đầu thế kỷ thứ XIX, Hêghen cho rằng tư tưởng về tự do tồn tại
dưới hình thức quân chủ lập hiến dựa trên cơ sở của nguyên tắc phân quyền. Sự
phân quyền trong Nhà nước là sự bảo đảm cho tự do công cộng. Toàn bộ cấu trúc
về Nhà nước pháp quyền của Hêghen trực tiếp chống lại sự lạm quyền, chuyên
chế, chống lại mọi nguy cơ dùng vũ lực, bạo lực phi pháp. Về thực chất, Hêghen
dùng chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền chống lại chủ nghĩa cực quyền .
Nói về lịch sử tư tưởng Nhà nước pháp quyền không thể không nhắc đến các
quan niệm pháp luật thực chứng phát triển vào thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Đó là
quan niệm của Herber, Daisi, Ellinec, Laband …
Bản chất của các quan niệm này thể hiện ở chỗ phải tạo ra cấu trúc Nhà nước
bị kiềm chế, ràng buộc bởi pháp luật do chính Nhà nước tạo ra. Những người theo
thuyết này phủ định sự phân biệt luật với pháp luật và coi pháp luật là những quy
phạm (các quy phạm luật, dưới luật, luật tục, án lệ…) do Nhà nước đặt ra và bảo
vệ. Theo quan niệm pháp luật thực chứng, Nhà nước là cội nguồn sản sinh ra pháp
luật. Lệnh của vua là pháp luật, không có sự phân biệt giữa pháp luật với sự tùy
tiện, tự do và bạo lực. Sự tùy tiện, bạo lực khi được người nắm quyền bảo đảm sẽ
mặc nhiên trở thành pháp luật. Quyền và tự do cá nhân là lộc do chính quyền ban
phát, cho nên có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Do vậy, các quan niệm pháp luật
thực chứng phủ định Nhà nước pháp quyền. Nói đúng hơn, đó là quan niệm Nhà
nước phi pháp chế, trong đó Nhà nước không bị ràng buộc bởi luật, không có tiêu
chuẩn khách quan để xác định tính hợp pháp, tính chất pháp lý của các Nhà nước
đó, không phân biệt đâu là pháp luật, đâu là sự tuỳ tiện.
Lý luận kinh điển về Nhà nước pháp quyền phát triểm mạnh ở nước Đức vào
nửa đầu thế kỷ XIX. Robert Fon Mohn, Karl Teodor Valker là những người đầu
tiêu và nội dung đó.
Theo Stal, Nhà nước pháp quyền vừa là vật chất, vừa là hình thức. Với tính
cách là Nhà nước pháp quyền vật chất, nó thực hiện những tiêu chuẩn, nội dung
của sự ngự trị của đạo đức. Là Nhà nước pháp quyền hình thức, nó ngăn ngừa việc
dùng bạo lực để thực hiện những tiêu chuẩn đó.
Stal phủ định sự phân định rạch ròi giữa Nhà nước và xã hội, phủ định khả
năng kiểm tra của pháp luật tự nhiên lớn hơn pháp luật thực định nhằm bênh vực
chính sách can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực công cộng. Điều đó thể hiện và
phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản.
Theo Stal, các quan hệ xã hội hiện có với tính cách là các quan hệ pháp lý khởi
điểm được phản ảnh một cách đơn giản trong các văn bản pháp luật và hiệu lực
pháp lý của luật chỉ xuất phát từ đặc điểm và truyền thống. Ông không giải quyết
mâu thuẫn giữa pháp luật với tính cách là sự phản ảnh của bản chất sự việc mà với
pháp luật với tính cách là yếu tố sáng tạo, quy định tương lai của xã hội. Sự mâu
thuẫn tồn tại vì ông đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản trong sự can thiệp có
hiệu quả của Nhà nước đồng thời cũng biểu hiện lợi ích của tầng lớp quý tộc trong
việc bảo vệ các hình thức sở hữu tư bản chủ nghĩa, tránh sự can thiệp của Nhà
nước.
Lịch sử học thuyết về Nhà nước pháp quyền là kho tàng phong phú với
những mặt mạnh, mặt yếu cần được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra giải pháp thực tế
đúng đắn trong những điều kiện hiện nay.
2. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi cấp thiết ở
nước ta hiện nay.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay với đường lối phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước giữ vai trò hết
sức quan trọng trong điều tiết vĩ mô. Vì vậy việc xây dựng và củng cố Nhà nước
pháp quyền - Nhà nước của dân, do dân và vì dân như Hiến pháp 1992 đã quy
định là một trong những nhiệm vụ bức xúc, vô cùng quan trọng.
Nhà nước ta ra đời từ Cách mạng tháng 8/1945 được rèn luyện và trưởng thành
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, phát huy thành tựụ và ưu điểm của Nhà nước
trong hơn nửa thế kỷ qua, triệt để khắc phục khuyết điểm - đây là sự kế thừa, vận
dụng, phát huy học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật trong điều kiện mới của quốc gia, thời đại, phục vụ công cuộc đổi mới.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay phải xuất phát từ các căn
cứ cơ bản sau đây:
Một là, nắm vững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh cũng như cương lĩnh của Đảng về Nhà nước và pháp luật;
Hai là, phát huy truyền thống và kinh nghiệm quản lý của Nhà nước, "xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam với đặc điểm, truyền thống, tính cách và bản sắc dân
tộc Việt Nam, đồng thời tham khảo, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của thế
giới, song quyết không được rập khuân sao chép trong bất luận trường hơp nào,
giáo điều, rập khuân, sao chép đều phương hại đến lợi ích của đất nước, của dân
tộc"(1).
Ba là, xây dựng Nhà nước pháp quyền gắn liền với đổi mới đồng bộ hệ
thống chính trị.
Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến sự ngự trị của pháp luật trong đời
sống xã hội và chính trị với tư cách là ý chí của nhân dân, có giá trị phổ biến. Có
thể hiểu Nhà nước pháp quyền theo hai khía cạnh:
Về hình thức pháp lý, Nhà nước pháp quyền đồng nghĩa với sự ngự trị của
pháp luật, sự ràng buộc bởi pháp luật đối với Nhà nước và tất cả các thành viên
của xã hội. Đây chính là yêu cầu pháp chế trong xây dựng pháp luật và áp dụng
pháp luật.
Về nội dung pháp lý, trong Nhà nước pháp quyền bản thân pháp luật bảo đảm
yêu cầu khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Để đảm bảo cả hai khía cạnh trên, phải có hình thức tổ chức thích hợp của
quản lý Nhà nước và những cơ chế giám sát sự tuân thủ pháp luật một cách khoa
học và có hiệu quả, đòi hỏi phải có một hệ thống tài phán hoàn chỉnh.
Mỗi quan niệm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau ở mỗi thời kỳ. Nội dung
của từng quan niệm, quan điểm rất đa dạng nhưng hai yếu tố luôn xuyên suốt là:
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật trong những điều kiện
mới của đất nước, của thời đại, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa
đất nước.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
hiện nay phải dựa trên những căn cứ cơ bản sau đây:
Một là, phải nắm vững nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và cương lĩnh của Đảng về Nhà nước và pháp luật;
Hai là, phát huy truyền thống và kinh nghiệm quản lý đất nước của Nhà
nước ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ và kinh nghiệm
quản lý hiện đại của các nước trong khu vực và trên thế giới;
Ba là, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, với những đặc điểm, tình hình
và yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, gắn liền với đổi mới đồng bộ hệ thống
chính trị.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
không chỉ là một nguyện vọng, không còn đơn thuần là một chủ trương, một quyết
sách. Hiến pháp năm 1992 có ý nghĩa như một điều kiện tiên quyết để xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam phải thật sự chú trọng vai trò và
chức năng mới của Nhà nước. Trong quá trình đó, phải coi trọng tất cả các đặc
trưng của cả phạm vi kinh tế lẫn phạm vi xã hội khi nói về vai trò và chức năng
Nhà nước.
Vì vậy, Đảng đề ra nhiệm vụ xây dựng từng bước một Nhà nước pháp quyền
như là con đường cơ bản để khẳng định thiên chức Nhà nước của dân, như Tổng
bí thư Đỗ Mười từng nhấn mạnh: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng và văn minh”.
Như đã phân tích, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có nội dung cơ bản là
phản ánh mối quan hệ giữa quyền lực và pháp luật. Nhưng chỉ có quan niệm về
quyền lực và mối quan hệ của nó với pháp luật, tuy là hạt nhân của học thuyết về
Nhà nước pháp quyền vẫn chưa đủ trở thành học thuyết hoàn chỉnh về Nhà nước
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, lợi ích kinh tế nói chung rất đa
dạng, đòi hỏi phải có sự bình đẳng và công bằng. Thị trường đòi hỏi cơ chế tự điều
chỉnh từ phía các công cụ chính trị để thích nghi với nó. Sự điều chỉnh từ phía Nhà
nước chỉ có thể là sự tự điều chỉnh của nó cho phù hợp với các lợi ích kinh tế và
xã hội của các thành viên xã hội. Những yếu tố này tạo nên sự thống nhất của thị
trường, làm phong phú giao lưu kinh tế quốc tế. Nhà nước thực hiện vai trò điều
chỉnh này thông qua công cụ pháp luật, chẳng hạn như Luật chống độc quyền,
pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo vệ người sản xuất, kinh doanh
Để đảm bảo công bằng, ngoài công cụ pháp luật, Nhà nước và các thiết chế
khác của hệ thống chính trị phải năng động và mềm dẻo, có khả năng tự điều
chỉnh cao. Do vậy, trong hệ thống chính trị, ngoài Nhà nước là thiết chế trung tâm,
vai trò các tổ chức quần chúng rất được đề cao và phát huy tác dụng.
Quan hệ xã hội ngày nay rất đa dạng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, như chính trị, kinh tế, dân tộc, tôn giáo và nhiều mối quan hệ khác. Các quan
hệ đó càng phức tạp bao nhiêu thì khả năng quan hệ qua lại càng lớn bấy nhiêu.
Do vậy, các thiết chế chính trị cần phải kịp thời điều chhỉnh để hoàn thành sứ
mạng của mình .
Pháp luật của nước ta hiện nay phải là đại lượng có khả năng điều chỉnh và
phải trật tự hóa các các quan hệ xã hội. Pháp luật luôn luôn gắn liền với Nhà nước,
không bao giờ có thể tách rời chính trị, nó luôn là công cụ của chính trị.
Như vậy, sự công bằng và dân chủ là nội dung cơ bản của pháp luật, trở thành
nền tảng của hoạt động Nhà nước, của hệ thống pháp luật.
Pháp luật phải phù hợp với truyền thống, văn hoá dân tộc. Đó là cơ sở cho việc
khẳng định khả năng xây dựng một Nhà nước pháp quyền, khả năng chấp nhận và
phổ biến những giá trị của pháp luật.
Trong điều kiện nhiều thành phần kinh tế và lợi ích kinh tế được dùng làm nền
tảng để xác định tính công bằng thì trước hết phải xác định cơ sở pháp luật làm
nền tảng cho một Nhà nước của nhân dân.
Trong thực tế, đối với nhóm lợi ích này, pháp luật được coi là công bằng còn
đối với nhóm lợi ích khác thì không được cho là vậy. Chính vì vậy, việc xác định
Hai là, các quan hệ cơ bản phải được điều chỉnh bằng pháp luật, chứ không
phải chỉ bằng đạo lý. Pháp luật đóng vai trò là khuôn mẫu cho hành vi, là qui tắc
xử sự mang tính bắt buộc chung, tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho xử sự của
từng cá nhân, tổ chức trong toàn xã hội. Ở nghĩa này, Nhà nước không “làm ra”
luật mà chỉ hình thức hoá các quy tắc, các mô hình phổ biến của các hành vi xã
hội. Các thiết chế của Nhà nước phải là công cụ đắc lực để thực thi pháp luật.
Ba là, pháp luật phải giữ vị trí chủ đạo trong toàn xã hội, trong mọi xử sự
của các chủ thể quan hệ xã hội. Mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức phải tuyệt đối
tuân thủ tính thống nhất của pháp luật, trong đó tính tối cao của hiến pháp và luật
phải được đặc biệt coi trọng; Các văn bản dưới luật phải phục tùng chúng, phải
bảo đảm tính hợp pháp, tính hợp hiến và tính pháp chế.
Bốn là, không một tổ chức, cá nhân nào được đặt mình đứng ngoài pháp
luật hoặc thậm chí đứng trên pháp luật; Đảm bảo nguyên tắc: Mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật. Đồng thời với nguyên tắc này, Nhà nước tiến tới thực
hiện nguyên tắc: “Có thể làm tất cả những gì luật không cấm” đối với công dân, tất
nhiên phải trong khuôn khổ đạo đức xã hội, phải tôn trọng lợi ích của xã hội và
của người khác. Con người phải là mục tiêu cao nhất để pháp luật bảo vệ và có giá
trị cao nhất. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
Với những nguyên tắc trên, Nhà nước pháp quyền do đó phải là một Nhà nước
đích thực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trong đó, tất cả quyền lực
phải thực sự thuộc về nhân dân.
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA
NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN VÀ VÌ NHÂN DÂN - YÊU CẦU CẤP THIẾT
CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ
TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Cantơ và các nhà tư tưởng tiến bộ thế kỷ XVIII-XIX đã đưa ra quan niệm
Nhà nước pháp quyền nhằm chống lại Nhà nước chuyên chế, cực quyền phong
kiến, chống lại sự độc đoán, lạm quyền và nằm trong trào lưu chung của hệ tư
tưởng giải phóng.Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải thay đổi hệ
tưởng kết hợp sức mạnh với quyền lực trong việc tổ chức Nhà nước Ai Cập trên
những nguyên tắc dân chủ. Ông diễn đạt tư tưởng của mình rằng, phải giải phóng
tất cả mọi người bằng quyền lực pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp
luật.
Theo Aristôt, ở vương quốc Ai Cập cổ đại, nền dân chủ được hình thành
từ thời đại Sô-Lông. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của người cổ đại nhằm
chống lại quan niệm ấu trĩ, ngụy biện cho rằng sức mạnh đẻ ra pháp luật (tức lẽ
phải thuộc về kẻ mạnh ….)
Heraclit nói câu bất hủ: "Nhân dân phải đấu tranh bảo vệ Luật như bảo vệ
chốn nương thân của mình".
Còn Platon thì cho rằng, "chúng ta thừa nhận rằng những nơi mà luật được
định ra vì lợi ích của một số người thì ở đó không có chế độ Nhà nước. Chỉ có thể
gọi là Nhà nước nếu ở đó có sự công bằng".
Aristôt - cha đẻ của khoa học chính trị cổ đại - cho rằng nơi nào không có
sức mạnh của Luật thì nơi đó không có hình thức chế độ Nhà nước. Aristôt hiểu
luật là luật pháp quyền (bất cứ đạo luật nào cũng bao hàm trong mình pháp luật,
nói về tính tối cao của luật trong một Nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của
nó). Theo ông, khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm về Nhà nước, bởi vì
pháp luật là tiêu chuẩn của sự công bằng, là quy phạm điều chỉnh mọi giao tiếp
chính trị.
Các nhà tư tưởng cổ đại không chỉ chú trọng tới tính tối cao của luật, của
pháp luật mà còn chú trọng tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quản lý Nhà nước.
Cả hai khía cạnh đều có ý nghĩa quan trọng, liên hệ mật thiết với nhau. Nếu không
có tổ chức quy củ của Nhà nước, không có sự phân định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn; Không quy định trật tự trong mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan
Nhà nước thì không thể có tính tối cao của pháp luật. Mặt khác, bản thân tổ chức
hệ thống quyền lực của Nhà nước pháp quyền không thể tồn tại nếu không phù
hợp với pháp luật, nếu luật không được tuân thủ.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối cao của
pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức quyền lực chính trị.
đóng vai trò to lớn trong việc phê phán sự bất bình đẳng của chế độ phong kiến, sự
lạm quyền của quan lại phong kiến, khắc phục các quan điểm thần học về Nhà
nước và pháp luật, khẳng định tư tưởng bình đẳng và tự do của mọi người trong
đời sống xã hội, trong tổ chức Pháp luật - Nhà nước của các quan hệ chính trị.
Ý nghĩa quyết định của sự phát triển về lịch sử và lý luận của những quan
niệm mới về Nhà nước pháp quyền vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên
chủ nghĩa tư bản, là những vấn đề quyền lực chính trị dưới hình thức phân quyền
phù hợp với tương quan mới của các lực lượng chính trị, xã hội - giai cấp, đồng
thời loại trừ khả năng độc quyền hoá quyền lực trong tay một người hay một cơ
quan. Thế giới quan pháp lý của giai cấp tư sản đang lên đòi hỏi những quan niệm
mới về tự do của con người thông qua việc tôn trọng tính tối cao của pháp luật
trong mọi việc công, tư.
Lốccơ (nhà triết học pháp quyền người Anh thế kỷ XVII) lý giải về việc
phải thực hiện phân quyền dựa trên sự ngự trị của pháp luật thể hiện dưới hình
thức Nhà nước, trong đó Luật có tính tối cao - Luật phù hợp với pháp luật tự
nhiên, công nhận tự do và các quyền tự nhiên của cá nhân. Nhà nước (có luật ngự
trị) đối lập với chuyên quyền, pháp chế đối lập với phi pháp của người nắm quyền.
Theo ông, nguyên tắc “cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm” chỉ đúng
khi áp dụng đối với công dân còn đối với người nắm quyền lực phải áp dụng
nguyên tắc ngược lại: "Cấm không được làm những gì mà luật không cho phép".
Quan niệm mới về phân quyền thể hiện đầy đủ trong các công trình của
Môngtexkiơ (Pháp) vào thế kỷ thứ XVIII. Theo ông, ở mỗi Nhà nước có 3 loại
quyền :