nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 4/2003
9
Ths. Cao thÞ oanh *
ới vai trò là cơ sở pháp lí của trách
nhiệm hình sự, là căn cứ pháp lí để
định tội, từ trước đến nay cấu thành tội phạm
(CTTP) luôn là vấn đề được quan tâm
nghiên cứu. Theo quan điểm phổ biến hiện
nay, CTTP được hiểu là tổng hợp những dấu
hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội
phạm cụ thể được quy định trong luật hình
sự. Mặc dù có cùng bản chất pháp lí như vậy
nhưng trong các đạo luật hình sự, CTTP lại
được xây dựng dưới nhiều dạng khác nhau.
Sự khác biệt của chúng đòi hỏi thực hiện
việc phân loại một cách hợp lí, khoa học.
Cho đến nay, CTTP được phân loại theo
nhiều tiêu chí khác nhau như mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản
ánh, đặc điểm cấu trúc của CTTP hay cách
thức được nhà làm luật sử dụng quy định
CTTP trong luật hình sự. Việc phân loại
CTTP hay cụ thể hơn là việc xác định đúng
loại cấu thành tội phạm (đặc biệt là đối với
của CTTP cơ bản và những dấu hiệu bổ sung
phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng
lên (CTTP tăng nặng) hoặc giảm đi (CTTP
giảm nhẹ) của mỗi loại tội phạm. Như vậy,
có thể khẳng định rằng mọi CTTP tăng nặng
và CTTP giảm nhẹ đều phải có đầy đủ các
dấu hiệu của CTTP cơ bản. Nói cách khác,
tất cả những trường hợp không thoả mãn
V
* Giảng viên Khoa tư pháp
Trường đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
10 tạp chí luật học số 4/2003
CTTP c bn ca mt loi ti phm nht
nh thỡ dự cú nhng du hiu lm cho tớnh
nguy him cho xó hi tng lờn (tỡnh tit nh
khung tng nng) hay gim i (tỡnh tit nh
khung gim nh) cng khụng th tho món
CTTP tng nng hay CTTP gim nh ca
loi ti ú. Trng hp ny hnh vi c
thc hin cú th khụng phi l ti phm hoc
l mt ti phm khỏc (nu tho món du hiu
cu thnh ca loi ti phm khỏc). Vớ d:
Trng hp ln u tiờn li dng chc v,
quyn hn la o chim ot ti sn ca
ngi khỏc cú giỏ tr di 500.000 (khụng
phm hay trng hp thụng thng), õy l
tỡnh tit hnh vi vi phm tr thnh hnh vi
phm ti cũn tỡnh tit ó tỏi phm ch c
s dng chuyn hoỏ thnh tỏi phm nguy
him nu hnh vi trờn t thõn nú ó
cu thnh ti phm. Nh vy, thc cht õy
l trng hp ch ỏp ng c cỏc yờu cu
ca CTTP c bn m khụng cú thờm tỡnh tit
no cú th chuyn sang CTTP tng nng.
Da vo c im cu trỳc ca CTTP,
CTTP c chia thnh hai loi chớnh l
CTTP vt cht v CTTP hỡnh thc. CTTP
vt cht l CTTP cú cỏc du hiu ca mt
khỏch quan l hnh vi, hu qu v mi
quan h nhõn qu gia hnh vi v hu qu.
i vi du hiu hu qu (v cựng vi nú
l du hiu mi quan h nhõn qu) loi
CTTP ny li c quy nh theo hai mc
khỏc nhau:
1) Hu qu l du hiu bt buc xỏc
nh ti phm hon thnh. loi CTTP ny,
nh lm lut khụng trc tip a du hiu
hu qu vo trong CTTP m hu qu c
quy nh giỏn tip thụng qua cỏch quy nh
v hnh vi phm ti. Vớ d: CTTP ca ti
git ngi, mc dự u khụng cú hu qu
c quy nh trc tip trong CTTP nhng
loi CTTP ny khỏc cn bn vi CTTP hỡnh
thc vỡ trong cỏc CTTP hỡnh thc ch mụ t
du hiu hnh vi (vớ d: Hnh vi dựng v lc
Về mặt lí luận, vấn đề giai đoạn thực
hiện tội phạm chỉ được đặt ra đối với lỗi cố ý
trực tiếp, vì vậy, có thể khẳng định chính xác
hơn vế thứ nhất trong nội dung nghiên cứu
nói trên là mối quan hệ của loại CTTP vật
chất mà hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định
tội đối với những tội phạm được thực hiện
với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là loại CTTP trong
đó thái độ tâm lí của người phạm tội đối với
hành vi và đối với hậu quả thống nhất với
nhau (hậu quả xảy ra nằm trong dự kiến của
người phạm tội). Những CTTP loại này lại
có thể tồn tại dưới hai dạng sau đây:
1. CTTP mà hậu quả được quy định dưới
dạng tình tiết định lượng. Cách quy định này
được sử dụng trong trường hợp hành vi trong
mặt khách quan của CTTP chứa đựng khả
năng gây ra loại hậu quả có cùng tính chất
nhưng có thể ở các mức độ khác nhau và
giữa chúng tồn tại ranh giới quyết định vấn
đề hành vi được thực hiện có tính nguy hiểm
đáng kể cho xã hội hay không. Ví dụ: CTTP
cơ bản tội cố ý gây thương tích (khoản 1
Điều 104 BLHS) quy định trong trường hợp
thông thường tỉ lệ thương tật gây ra phải từ
11% trở lên. Đối với loại CTTP này vấn đề
các giai đoạn thực hiện tội phạm vẫn được
đặt ra nếu xác định được hậu quả mà người
phạm tội hướng tới phù hợp với hậu quả bắt
buộc để xác định trách nhiệm hình sự cho
trường hợp thông thường.
Ngoài loại CTTP vật chất mà hình thức
lỗi là cố ý như trên, BLHS còn quy định
những CTTP vật chất trong đó thái độ tâm lí
của người phạm tội đối với hành vi và đối
với hậu quả mà CTTP quy định mang tính
bắt buộc không thống nhất với nhau (hậu
quả xảy ra nằm ngoài dự kiến của người
phạm tội). Ví dụ: Trong một số CTTP của
các tội đua xe trái phép, gây rối trật tự công
cộng nhà làm luật quy định dấu hiệu “gây
hậu quả nghiêm trọng” là dấu hiệu bắt buộc
để các hành vi tương ứng là tội phạm. Ở các
CTTP này, người phạm tội không có ý thức
lựa chọn hậu quả được quy định trong CTTP
(khi khả năng đó xảy ra hành vi được thực
hiện có thể thoả mãn dấu hiệu cấu thành của
một tội cố ý khác). Đối với một số CTTP
trong loại CTTP này, trong đó bao gồm cả
những CTTP về các tội chúng tôi nêu trên,
trong các sách báo pháp lí hình sự hiện nay
đa số các ý kiến vẫn khẳng định hình thức
lỗi là cố ý. Theo quan điểm của chúng tôi,
dựa trên lí thuyết về lỗi, trong những trường
hợp này phải xác định hình thức lỗi của tội
phạm là vô ý (trong phạm vi bài viết này
chúng tôi không đề cập vấn đề lỗi đối với
những CTTP quy định dấu hiệu về nhân thân
là tình tiết định tội được quy định ở cùng
khung cơ bản của các điều luật tương ứng).
như trên, nhiều nhà khoa học pháp lí hình sự
còn xác nhận sự tồn tại của loại CTTP đặc
biệt: CTTP cắt xén.
(1)
Giống như đối với
CTTP hình thức, ở CTTP cắt xén nhà làm
luật cũng chỉ quy định dấu hiệu bắt buộc
trong mặt khách quan là dấu hiệu hành vi.
Tuy nhiên, điểm khác biệt ở loại CTTP này
là dấu hiệu hành vi được quy định dưới dạng
hoạt động nhằm thực hiện một mục đích
nhất định. Ví dụ: CTTP tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79
nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 4/2003
13BLHS). Với cách quy định này, hành vi
trong CTTP hàm chứa tất cả những hành vi
cụ thể nhằm đạt được mục đích mà điều luật
quy định (ví dụ: Đối với tội hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền nhân dân, tất cả mọi hành
vi phục vụ cho việc thành lập hoặc tham gia
tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
đều là hành vi trong mặt khách quan của tội
phạm). Như vậy, đối với loại CTTP này tội
phạm hoàn thành ngay từ khi một trong số
thể đối với thương tích là cố ý còn lỗi đối
với hậu quả chết người lại là vô ý; trong tội
cướp tài sản (Điều 133 BLHS) khách thể của
tội phạm bao gồm hai loại quan hệ xã hội
khác nhau là quan hệ sở hữu về tài sản và
quan hệ nhân thân; trong tội mua bán phụ nữ
(Điều 119 BLHS) hành vi khách quan của
CTTP được hợp thành bởi hai loại hành vi
gắn bó với nhau là hành vi mua và bán phụ
nữ. Việc xác định vấn đề giai đoạn thực hiện
tội phạm đối với các loại CTTP được phân
loại theo tiêu chí này đã được giải quyết
từng phần trong các mục trên.
Tóm lại, mặc dù phân loại CTTP là vấn
đề phức tạp và cho đến nay vẫn còn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau nhưng những
phân tích sơ bộ nêu trên cho thấy trong nhiều
trường hợp việc không thống nhất trong
quan điểm phân loại CTTP cũng như trong
việc xác định bản chất của CTTP cụ thể và
mối quan hệ của các loại CTTP được phân
chia theo cùng một tiêu chí có thể dẫn đến
hiện tượng không thống nhất khi xác định
vấn đề trách nhiệm hình sự. Vì vậy, tiếp tục
nghiên cứu về CTTP là một trong những
công việc cần thiết tạo cơ sở lí luận cho việc
xác định trách nhiệm hình sự trong những
trường hợp cụ thể./.
(1).Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật