Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông - Pdf 33

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
“Nước - hai tỷ người đang khát’’ chủ đề mà Liên Hợp Quốc đưa ra nhân
ngày môi trường thế giới năm 2003 đã cho thấy sự cấp bách của vấn đề nước
sạch hiện nay. Năm 2005 này, chủ đề ngày nước thế giới được chọn là “Nước
cho cuộc sống’’. Đồng thời, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng chọn thập kỉ
2005-2015 là thập kỉ của nước nhằm nâng cao nhận thức của con người đối với
vai trò của nước sạch. Vấn đề nước sạch là một vấn đề mang tính toàn cầu.
Ô nhiễm nước và vệ sinh môi trường hiện nay đang thực sự trở thành vấn
đề đáng báo động. Nguồn nước trong lành đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm do
các hoạt động của con người và khai thác quá mức. Thiếu nước và nước dùng
không đảm bảo chất lượng đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và
sức khỏe của con người.
Tại Việt Nam, vấn đề này đã được Đảng và Chính phủ sớm quan tâm.
Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào tuần lễ nước sạch và
vệ sinh môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Từ đó tỉ
lệ tiếp cận nước sạch của người dân tăng lên đáng kể (từ 18,4% năm 1992 lên
đến 51% năm 2002 ở khu vực nông thôn). Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cùng
với việc tăng tỉ lệ tiếp cận nước sạch của người dân thì liệu chất lượng nước
sạch có đảm bảo hay không, khi mà có đến 80% các nhà máy cấp nước hiện nay
cùng với hệ thống ống dẫn đã cũ kĩ, lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng. Công
tác bảo dưỡng, nâng cấp chúng còn có nhiều hạn chế. Bởi vậy việc đánh giá chất
lượng nước cấp hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhà máy nước thị xã Hà Đông là một nhà máy được xây dựng từ những
năm 1950, từ đó đến nay nhà máy đã qua nhiều lần cải tạo, nâng cấp. Qua đó
công suất của nhà máy được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên vấn đề cải tiến công
nghệ, quản lí giám sát cũng như kiểm tra đánh giá chất lượng nước cần được
quan tâm nhiều hơn.
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông’’ nhằm đưa ra những ưu, nhược
điểm trong dây chuyền công nghệ, quản lí phân phối cũng như chất lượng nước

1.2.Vai trò của nước sạch và ảnh hưởng của chất lượng nước đến sức khỏe
con người
1.2.1. Vai trò của nước sạch.
Nước là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên
trái đất “ Là khoáng sản quý hơn mọi loại khoáng sản ’’, là nhu cầu thiết yếu của
cuộc sống. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về nước sạch càng tăng, mỗi ngày
trung bình mỗi người cần 3-5 lít nước để đảm bảo cho cơ thể hoạt động bình
thường. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì nước chiếm đến 70% trọng
lượng cơ thể con người, nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi
chất, là dung môi hòa tan các chất dinh dưỡng, là môi trường cho các phản ứng
sinh hóa xảy ra bên trong cơ thể.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nước không chỉ duy trì cho cơ thể con người hoạt động bình thường mà
còn cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Mỗi ngày mỗi người cần 250 lít nước cho các sinh hoạt như tắm giặt , nấu
nướng,...Để sản xuất một tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước
và 1 tấn bột cần 1000 tấn nước.
Nước chưa qua xử lí mà cung cấp cho nồi hơi làm giảm tuổi thọ của nồi
hơi, tăng giá thành sản xuất. Nước cung cấp cho các bệnh viện phải đảm bảo yêu
cầu vệ sinh, tránh gây nên sự nhiễm trùng, lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức
khỏe người bệnh.
Hằng năm tổng lượng nước cần sử dụng trên thế giới ước tính khoảng
3.240 km
3
, trong đó 69% là dành cho nông nghiệp, 23% cho công nghiệp, và 8%
cho sinh hoạt.
1.2.2.Ảnh hưởng của chất lượng nước sạch đối với sức khỏe con người:
Với vai trò đặc biệt như vậy, nước sẽ ảnh hưởng và tác động rất lớn đến
đời sống của con người và sinh vật. Theo thống kê, ước tính cứ 8s có một trẻ em

chịu khi uống, gây rối loạn sinh lí của cơ thể.
Nhiệt độ bình thường của nước là từ 18 đến 20 độ, một số suối nước nóng
có tác dụng tốt đối với cơ thể con người. Nếu nhiệt độ quá cao sẽ làm vi sinh vật
phát triển mạnh, đồng thời làm nước bốc mùi khó chịu, làm tăng nhanh quá trình
ăn mòn vật liệu.
1.2.2.2. Phương diện hóa học.
Nước trong thành phần không hoàn toàn tinh khiết mà có chứa rất nhiều
tạp chất hóa học, các chất khoáng hòa tan như :kim loại nặng (Fe, Mn, Cd, ...);
các anion NO
3
-
, PO
4
3-
, SO
4
2-
,...); Và các chất khí như CH
4
, H
2
S .Với một nồng
độ thích hợp các chất trên có tác dụng tốt đối với cơ thể, tuy nhiên khi các chất
này có nồng độ quá cao có thể ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe của con ngườivà
gây ra một số bệnh.
Nếu uống nước tinh khiết, nước cất thì sẽ làm cho giác mạc bị nhầy mất
muối, gây ra hiện tượng trương nguyên sinh chất tế bào. Nước uống phải có độ
Ph nằm trong khoảng 6,5 đến 8,5, độ cứng của nước quá lớn ảnh hưởng tới sản
xuất, gây lắng cặn trong nồi hơi, lãng phí xà phòng, chất tẩy rửa, nấu thức ăn
khó nhừ.

về đường ruột do dùng nguồn nước bị nhiễm bẩn. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm
sinh học là do rác, phân, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các bệnh viện. Trung
bình mỗi ngày chất thải từ bệnh viện là 212 tấn, từ sinh hoạt là 8.941 tấn.
1.3. Tình hình nước sạch hiện nay ở Việt Nam .
Việt Nam là nước có lượng mưa trung bình vào loại cao trên thế giới, vào
khoảng 2000 mm/năm, bằng 2,6 lần lượng tổng lượng mưa trên các lục địa.
Tổng lượng mưa trên toàn lãnh thổ là 650 km3/năm, tuy nhiên lượng mưa phân
bố không đều theo mùa, 70-80% tổng lượng dòng chảy tập trung vào mùa mưa
lũ, trong đó 6-9 tháng trong năm là mùa cạn ít nước, 3 tháng cạn nhất có lượng
nước chỉ chiếm tỉ lệ 5-10% tổng lượng cả năm.
Ngoài ra sự phân bố theo lãnh thổ cũng không đều, Bắc Giang 4000-5000
mm/năm; Hoàng Liên Sơn, Móng Cái, Phú Quốc 3000-4000 mm/ năm; Ninh
Thuận, Bình Thuận 600-700 mm/năm. Tinh hình thiếu nước trở nên nghiêm
trọng vào mùa khô , hạn hán thường xảy ra ở các tỉnh miền trung gây rất nhiều
khó khăn cho cuộc sống người dân, nhiều nơi phải đi bộ hàng chục cây số mới
lấy được nước. Tại thành phố Buôn Mê Thuật hiện nay đã có 11/27 giếng khoan
cung cấp cho thành phố phải ngừng hoạt động do thiếu mạch nước ngầm. Ba
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trạm bơm nước mặt cũng chỉ hoạt động được 10-30% công suất. Đặc biệt là tại
Ninh Thuận, hiện nguồn nước sinh hoạt duy nhất của xã Nhị Hà là con suối
nước nóng duy nhất xuất hiện khi lòng suối bị khô cạn, đây chỉ là một mạch
nước nhỏ đường kính 40 cm, sâu khoảng 30 cm, thời gian phun đầy một gánh
nước khoảng 5- 10 phút, nơi đây luôn có 7-10 người chờ lấy nước (theo
VnExpress).
Ngoài lượng nước mưa, nước ta còn nhận thêm lưu lượng nước từ Nam
Trung Quốc và Lào với khối lượng khoảng 550 km
3
/năm. Trữ lượng nước ngầm
rất lớn có khả năng khai thác được 10 triệu m

với một tốc độ nhanh trong khi đó cơ sở hạ tầng không theo kịp, và cùng với
công nghệ lạc hậu là các chất thải từ các nhà máy công nghiệp, từ sinh hoạt,...
thải trực tiếp vào nguồn nước mà chưa qua xử lí gây ô nhiễm nặng nề cho nguồn
nước, việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, ý thức
người dân cũng là những nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm nước.
Tại các dòng sông lớn như sông Hồng, Sông Cưủ Long hàm lượng chất
rắn lơ lửng cao gấp 4 lần so với mức trung bình của thế giới, BOD cao gấp 1,4
lần và vi khuẩn từ chất thải con người cao gấp 3 lần (Viện khoa học công nghệ
môi trường). Các hồ nước tại thành phố Hà Nội hiện đang bị ô nhiễm nặng nề,
hàm lượng các chất hữu cơ trong nước vượt quá chỉ tiêu cho phép rất nhiều lần,
chỉ số DO thấp. Các dòng sông thì càng bị ô nhiễm nghiêm trọng hơn như sông
Tô Lịch, sông Lừ,...

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu.
Hà Tây là tỉnh tiếp giáp với Hà Nội. Hiện tỉnh có hai nhà máy cấp nước
quy mô lớn, là nhà máy nước Sơn Tây và Hà Đông. Trong đề tài này chúng tôi
tập trung vào việc nghiên cứu đánh giá chất lượng nước cấp của nhà máy nước
Hà Đông.
Nhà máy nước Hà Đông, trước đây là công ty cấp nước Hà Đông, là một
doanh nghiệp của nhà nước. Sau nghị quyết số 14 ngày 25/02/1957 của ủy ban
hành chính tỉnh Hà Tây, công ty được chuyển thành xí nghiệp quốc doanh với
tên gọi là Nhà máy nước Hà Đông. Nhà máy khai thác nguồn nước ngầm và sử
dụng công nghệ xử lí nước ngầm phổ biến hiện nay ở Việt Nam.
2.1.2. Thời gian và địa diểm nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu từ 10/3/2005 đến 10/4/2005.
Địa điểm nghiên cứu: Nhà máy nước Hà Đông (cơ sở 1 và 2) thuộc thị xã

+ M1 : Lấy tại cơ sở 1 sau khi được xử lí (trước khi đưa vào bể chứa ).
+M2 : Lấy tại cơ sở 2 sau khi được xử lí (trước khi đưa vào bể chứa).
+M3 : Lấy tại nhà dân cách cơ sở 1 là 1km (do cơ sở 1 cung cấp ).
+M4 : Lấy tại nhà dân cách cơ sở 2 là 1 km (do cơ sở 2 cung cấp ).
Mẫu sau khi lấy về được bảo quản trong máy lạnh, khi cần phân tích thì
lấy ra phân tích các chỉ tiêu cần thiết cho đề tài.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Các số liệu sau khi thu thập được phân tích, tổng hợp lại, từ các số liệu cụ
thể chúng tôi tiến hành đánh giá tìm ra những mặt được và chưa được của việc
quản lí, công nghệ xử lí nước. So sánh hiệu quả của việc xử lí nước tại cơ sở 1
và cơ sở 2, từ đó đưa ra một số đánh giá, nhận xét, kết luận đồng thời cũng đưa
ra một số giải pháp khắc phục hạn chế và phát huy những ưu điểm để cải thiện
hơn nữa việc cung cấp phục vụ nước sạch cho người dân.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ
3.1. Tổng quan về nhà máy cấp nước Hà Đông.
Nhà máy nước Hà Đông được xây dựng vào năm 1957, có nhiệm vụ sản
xuất và kinh doanh nước sạch phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của khối cơ
quan, xí nghiệp, dân sinh trong khu vực thị xã Hà Đông. Hiện nhà máy có hai cơ
sở: Cơ sở 1 tại phố Bà Triệu (công suất 12.000 m
3
/ngđ), cơ sở 2 mới được xây
dựng tại Ba La (công suất 24.000 m
3
/ngđ nhưng hiện đang hoạt động với một
nửa công suất thiết kế). Cơ sở vật chất của nhà máy hiện nay tương đối tốt. Về
máy móc, trang thiết bị hiện nhà máy đang quản lí bao gồm : 8 máy bơm cung
cấp loại 70kw/h, công suất 500 m3/h. 15 máy hút bơm chìm loại 40kw/h, công

tin từ các bộ phận đẻ điều chỉnh kịp thời các kế hoạch đã đề ra.
+ Phòng thu ngân: chịu trách nhiệm thu tiền nước theo số phòng kinh
doanh đã ghi.
+ Phòng kinh doanh : hàng tháng ngoài nhiệm vụ ghi sản lượng vào sổ
theo dõi cho lịp thời đầy đủ và chính xác, phòng còn thường xuyên kiểm tra hệ
thống cấp nước vào các hộ sử dụng, phát hiện lịp thời các sự cố hỏng hóc về
đường ống, đông hồ đo, bể chứa của các hộ sử dụng... làm thất thoát nước của
nhà máy .
+ Ban thanh tra của nhà máy có nhiệm vụ thường xuyên đi kiểm tra, rà
soát những bộ phận, đối tượng nào vi phạm hợp đồng với nhà máy.
+ Phân xưởng sản xuất nước: trông coi, kiểm tra, tránh làm tràn nước,
thường xuyên thau rửa bể đảm bảo nước hợp vệ sinh và đủ nước cho khách
hàng.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status