Kiến thức lớp 11
Hình tượng người nông dân trong văn tế
nghĩa sĩ cần giuộc –Nguyễn Đình Chiểu-
phần 5
Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Học văn tế để thấy người
sống tốt
Trong câu chuyện của những người bạn tôi, mỗi khi đối diện
trước một vấn đề gì khó khăn, anh em thường buột miệng nói
rằng: “phải xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có” chứ. Nhớ
hồi còn đi học, có anh cán bộ Đoàn khởi xướng một thái độ trong
tình yêu là “phải… liều mình như chẳng có”, làm bạn bè nhớ mãi.
Thế hệ chúng tôi cảm được kiểu nói chuyện giữa bạn bè với
nhau như vậy. Và không ai không biết cụm từ “liều mình như
chẳng có” kia là của cụ Đồ Chiểu, trong bài Văn Tế Nghĩa sĩ Cần
Giuộc học thuở cấp ba.
Nhắc chuyện vận dụng câu cú của cụ Đồ Chiểu trong ngôn ngữ
bè bạn đời thường, là thấy được sự đồng cảm của cuộc sống
hôm nay với ngôn ngữ văn cổ ngày xưa, thấy dường như quanh
mình, chuyện “vận dụng lời của Đồ Chiểu” là hết sức bình
thường.
Ấy là sự sống tự nhiên của văn chương trong đời sống người
dân, được thực chứng qua nhiều thế hệ vẫn còn tồn tại. Nhưng
để có được điều đó, tức có được một sự đồng cảm, một mảnh
đất sống của Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc trong ngôn ngữ đời
Văn tế dùng cho những người đáng kính trọng. Người viết văn tế
luôn tự coi mình thấp hơn nhân vật trong bài văn. Cách hiểu này
đã xem sự ra đời bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là phá cách: Cụ
đồ viết văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - một loại nhân vật bấy lâu vẫn
được xếp sau tầng lớp trí thức, sĩ phu trong thứ hạng tứ dân (sĩ –
nông – công - thương).
Quy định của bài văn tế là phải thể hiện được lý do đáng kính
trọng của cái chết (có như thế mới được tế). Và nhân vật chính
trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có một lý rất đặc biệt: sự bột
phát của người nông dân nổi dậy chống Pháp, hy sinh bởi một
trận đánh được cụ Đồ gọi là “trận nghĩa”:
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một
trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.
Cụ Đồ Chiểu so sánh mười năm vỡ ruộng với một trận đánh Tây
hẳn là còn khập khiễng. Nhưng đó là điều mà tác giả muốn đặt ra
để thấy sự khác biệt giữa cái nhóm nghĩa sĩ Cần Giuộc này với
những nhà nông lúc ấy: Trong khi tất cả nông dân khác đang vỡ
ruộng, thì đây là cái chết của một nhóm người dám đứng dậy
đánh Tây. Đặt sự so sánh giữa vỡ ruộng và đánh Tây hợp với
phép đối trong văn biền ngẫu cũng là nhằm đánh dấu sự chuyển
biến về tư tưởng của người nông dân.
Thực ra, hành động của người nghĩa quân Cần Giuộc bột phát
bởi lý do bị dồn nén trong tâm trạng người dân mất nước. Sống
cùng thời, cụ Đồ Chiểu cảm được cái tâm lý: Bữa thấy bòng bong
che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì,
muốn ra cắn cổ. Cái nhìn của người bản xứ đối với ngoại xâm hết
gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai
nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới,
coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to,
xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn
kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
Ba cặp câu văn biền ngẫu trên, cụ Đồ Chiểu rất kiệm lời mà tái
hiện được quang cảnh chiến trận của nghĩa quân, kết quả, sự hy
sinh, tác động nhất định của trận khởi nghĩa bột phát này đối với
lực lượng ngoại xâm hùng mạnh lúc đó. Đâu phải dễ dàng làm
cho “mã tà, ma ní hồn kinh”. Cũng đâu phải chỉ với vũ khí thô sơ
kia (vốn là công cụ nhà nông) mà chém quan hai, xem thường
tàu thiếc tàu đồng.
Khí phách của nghĩa quân, tinh thần chiến đấu của nghĩa quân
phải quyết liệt lắm, dũng cảm lắm mới lập nên kỳ tích như vậy.
Trong khi triều đình lánh mặt, trông tin quan như trời hạn trông
mưa, thì nhân dân vùng lên bột phát, không có chỉ huy, không
quen trận mạc nên chắc chắn sẽ thất bại, nhưng hành động ấy
lẫm liệt, chiến công ấy đáng kể, và những người nông dân “không
chịu vỡ ruộng” ấy đáng được viết văn tế, ghi lại công trạng và
niềm tiếc thương kính phục cho muôn đời sau.
Tôi cứ nghĩ chắc bởi tại thể loại văn tế buộc phải có một đoạn tả
về những người đang sống tiếc thương người đã khuất, nên cụ
Đồ Chiểu mới phải nói ra cái đoạn sầu bi sau trận chiến: Đau đớn
bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn
còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Có những cái chết vinh, cũng có những sự chọn lựa sống nhục.
Thái độ sống ấy bao giờ cũng thời sự, và cũng không phải lúc
nào, với ai, cũng chọn lựa được một thái độ sống vinh nhục rõ
ràng. Bởi thế mà nghĩa quân Cần Giuộc được mọi người nhớ
mãi. Cụ Đồ Chiểu nói lên tiếng nói thương kính người nghĩa sĩ,
nhưng cũng là thể hiện thái độ của mình. Có khi, vào những thời
điểm, một tiếng nói đúng đắn của mình cũng lưu danh muôn
thuở.
Văn chương yêu nước mỗi thời kỳ có những tầng ý nghĩa riêng
và sự sâu sắc tùy thuộc vào tác giả. Nguyễn Đình Chiểu viết Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhưng tâm sự đâu chỉ gói gọn trong một
bài văn. Thái độ sống và lòng nghĩa khí, nung đúc dòng máu
trung kiên hay chấp nhận thói sống đớn hèn là những lựa chọn
vượt thời gian, luôn cần thiết cho mọi con người có ý thức rằng
mình sẽ sống tốt.