391
CHƯƠNG
14
XỬ LÝ HAI CHIỀU TÍN HIỆU TRUYỀN HÌNH
14.1 Chỉ dẫn
Truyền hình là một lĩnh vực áp dụng nhiều kỹ thuật của xử lý tín hiệu hai
chiều. Vì vậy chúng ta sẽ xem xét các kiến thức cơ bản về hệ thống tín hiệu
truyền hình và các tiêu chuẩn truyền tải tín hiệu truyền hình. Trong phần này
chúng ta cũng xem xét các đặc tính và giới hạn trong của hệ thống cảm nhận
của con người. Các tiêu chuẩn truyền hình hiện nay và trong tương lai đều dựa
trên các giới hạn này. Tiếp theo chúng ta sẽ đề cập đến việc xử lý tín hiệu hai
chiều tương tự trong ảnh truyền hình. Các khái niệm truyền hình có độ phân
giải cao (HDTV) và truyền hình nổi (EDTV) cũng được đề cập đến trong phần
này. Chương này làm nền tảng cho hai chương tiếp theo khi thiết kế bộ lọc
tương tự và phần cứng cho xử lý thời gian thực.
14.2 Hệ thống truyền hình cơ bản
Một ảnh, được tạo ra từ một tín hiệu quang học, được chuyển sang tín hiệu
điện qua một bộ biến năng đặc biệt đặt trong camera. Các phần tử nhậy ánh
sáng của camera chuyển các cảnh thành các phân bố độ chói để chuyển đổi.
Một kiểu vật liệu hay được dùng để thiết kế các bộ biến năng này là nguyên tố
Selen được nhà bác học Thuỵ Điển, Berzelius tìm ra vào năm 1817. Thuộc
tính nhậy cảm với ánh sáng của nó được tìm ra vào năm 1873. Trong một
camera, phân bố ánh sáng trên phần tử cảm quang gây nên các độ dẫn khác
nhau. Các vùng mà nhận ít ánh sáng hơn thì có tính dẫn kém hơn so với các
vùng nhận được nhiều ánh sáng hơn và một cảnh được chuyển thành sự phân
bố độ dẫn trong vật liệu truyền dẫn. Sự phân bố của các độ dẫn này có thể
chuyển thành sự phân bố điện tích bằng cách cho một dòng điện không đổi đi
qua vật liệu.
Trong các camera chỉ dùng bán dẫn hiện đại, vật liệu cảm nhận ánh sáng
Hình 14.1 Dòng quét.
Hình 14.2 biểu diễn một hệ thống truyền hình cơ bản. Tín hiệu mà bao gồm
cả tín hiệu video và xung đồng bộ gọi là tín hiệu video tổng hợp. Hình 14.3
biểu diễn một tín hiệu video tổng hợp được tạo ra bởi sơ đồ đơn giản của khối
phát và khối nhận. Tín hiệu video từ camera được cộng thêm tín hiệu đồng bộ
mành và tín hiệu đồng bộ dòng mà các tín hiệu này cũng được dùng để điều
khiển camera. Tín hiệu tổng hợp video được điều chế bằng một dao động có
tần số RF. Công suất của tín hiệu được khuyếch đại bằng khối khuyếch đại
công suất sau đó được truyền ra ăngten. Ở nơi nhận, nếu chuyển hộp kênh về
tần số của nơi phát thì sẽ nhận được tín hiệu. Nếu tín hiệu này được giải điều
chế về tần số tín hiệu gốc thì các xung đồng bộ sẽ chia các tín hiệu này thành
các quãng chia đồng bộ. Các xung đồng bộ dòng và các xung đồng bộ mành
được dùng loại bỏ các thiếu hụt khi hiện thị ảnh trên CRT. Chú ý là trên hình
14.3 các xung đồng bộ mành có chu kỳ dài hơn các chu kỳ của xung đồng bộ
dòng.
H
H
Tín hiệu video.
Vật liệu quang dẫn
được chia th
ành các
ô nh
ỏ.
CCD
A
Hướng dọc
Hướng ngang
Bộ
đ
ồng
+
R.F
MoCCD camera.
Hình 14.2 Hệ thống truyền hình cơ bản.
Hình 14.3 Tín hiệu video tổng hợp.
14.3.1 Độ phân giải
Hình 14.4 biểu diễn một hệ thống cảm nhận quang học của mắt người. Mắt
tập trung các chi tiết trên ảnh vào võng mạc. Võng mạc bao gồm hai loại tế
bào cảm nhận ánh sáng. Chúng được gọi là các tế bào gậy và các tế bào nón.
Các tế bào gậy là các phần tử cảm nhận độ sáng còn các tế bào nón là các phần
tử cảm nhận màu sắc. Có vào khoảng 6.5 triệu tế bào nón và vào khoảng 100
triệu tế bào gậy. Có vào khoảng 0.8 triệu dây thần kinh truyền hình ảnh vào bộ
não. Vùng sắc nét nhất của ảnh được cảm nhận ra từ một vùng trên võng mạc
gọi là hố võng mạc, nơi có mật độ tế bào nón cao nhất. Ở vùng này và một
vùng nhỏ xung quanh nó gọi là điểm vàng, các phần tử cảm nhận ánh sáng chủ
yếu là tế bào nón. Các phần còn lại của các võng mạc được bao phủ bởi tế bào
gậy, và đáp ứng cho các phần có độ sáng ở mức thấp. Các tế bào nón ở hố
võng mạc được liên kết bằng những sợi thần kinh riêng biệt tới não, trong khi
một số tế bào nón dùng chung một dây thần kinh.
Hình 14.4 Cảm nhận quang học của mắt người.
Độ phân giải của mắt người xác định bởi sự phân tách giữa các tế bào cảm
nhận ánh sáng. Các tế bào lân cận tại hố võng mạc tạo thành góc xấp xỉ 1 phút
tính từ tâm thuỷ tinh thể. Điều đó cho ta giới hạn của độ phân giải như saui:
Giới hạn của độ phân giải =
dải sóng của ảnh sáng
thay đổi một giá trị nhỏ trong góc phân giải. Nếu d là
đường kính của con ngươi, thì góc phân giải có thể tính từ:
122.
d
(14.2)
Độ phân giải tổng hợp được tính bằng giá trị trung bình của độ sáng B của
ảnh, và độ tương phản C, độ tương phản này được tính theo sự khác nhau về
độ sáng của một miền sáng nhỏ với mức sáng của toàn bộ bề mặt. Mối quan hệ
này được biểu diễn:
kC B (14.3)
ở đây k là một hằng số.
14.3.2 Tầm nhìn
Nếu chuyển từ hố võng mạc ra ngoài, khả năng phân giải của mắt người
giảm xuống một cách nhanh chóng, cụ thể là giảm xuống 20 phần trăm khi góc
thay đổi 10
0
theo hướng quan sát chính. Điều này gây nên sự giảm khả năng
phân biệt của mắt người trong các miền bên ngoài hố võng mạc. Tầm nhìn
chính của mắt người được xác định theo phương ngang và phương dọc vào
khoảng từ 30
0
đến 40
0
là
S K
B
B
log
1
2
(14.4)
Độ tương phản trên ảnh được biểu diễn như một tỷ lệ của giá trị cực đại với
cường độ sáng thấp nhất. Trong ánh sáng ban ngày, mắt con người có khả
năng phân biệt độ tương phản vào khoảng 1000:1, khi độ sáng thấp nhất nằm
ngoài khoảng 10:1. Trong một hình ảnh tivi, tỷ lệ tương phản là vào khoảng 10
đến 40. Trong một độ chói của loại tivi bình thường (1 đến 40 nits), khoảng
cách các bước tăng của độ tương phản của mắt người là vào khoảng 0.03. Với
một tỷ lệ tương phản 10 đến 40 mắt người có thể chú ý các mức thay đổi từ 80
đến 100, vào khoảng 100 là giá trị trung bình. Trong hệ thống PCM để mã hoá
đòi hỏi phải có 7 bit. Với 7 bit, chúng ta có thể sẽ không thể phân biệt các chi
tiết ở các miền rất nhỏ. Thông thường hay dùng 8 bit/màu cho một điểm, và
điều này cung cấp cho ta một hình ảnh tốt hơn, cho phép mắt người phân biệt
các chi tiết trong cả các miền rất nhỏ.
14.3.4 Tỷ lệ màn ảnh
Khả năng chuyển động của mắt người theo chiều ngang thì kém hơn khả
năng chuyển động của mắt người theo chiều dọc. Vì lý do này nên thực tế là
chiều ngang của vùng hố võng mạc rộng hơn chiều dọc của vùng hố võng
mạc, nên tỷ lệ của màn ảnh tivi sẽ là 4:3. Tỷ lệ này cho ta khả năng quan sát
tốt nhất.
Hình 14.5 (a) Quá trình quét từ đỉnh đến đáy của tia điện tử;
(b) quá trình quay trở lại theo chiều dọc của tia điện tử;
(c) Dạng sóng lái tia.
14.3.5 Dòng quét tại phía thu
Một quá trình quét thì tạo nên hình ảnh trên CRT ở phía thu. Quá trình quét
dùng các xung đồng bộ để đồng bộ giữa nơi phát và nơi thu như đã trình bày ở
phần trước. Có hai quá trình quét toạ độ nên một hình ảnh, một quá trình làm
tia điện tử chuyển động theo chiều ngang từ trái qua phải, một quá trình khác
làm cho tia điện tử chuyển động theo chiều dọc (Hình 14.5a, b). Tốc độ
chuyển động của tia theo cả hai phương là một hằng số và được cho bằng
khoảng cách H và V cho trong hình 14.5c. Khoảng cách này được các cuộn lái
tia của CRT là lệch hướng của tia điện tử. Tia điện tử hiện ảnh bằng các dòng
quét từ trái qua phải qua một chu kỳ lặp nhỏ; sau đó nó lại quay lại cạnh trái.
Quá trình quét ngược thì tiến hành với một tốc độ rất cao và trong suốt quá
trình quét ngược, hình ảnh bị che khuất bởi các tia điện tử. Sau khi hoàn thành
quét xong một ảnh, tia điện tử được quét quay trở lại với một tốc độ rất cao về
góc trên cùng bên tay trái. Trong quá trình quay trở lại theo chiều dọc tia điện
tử bị cắt. Tốc độ quét tối thiểu của tia điện tử theo chiều dọc được xác định
theo chiều dọc được xác định bởi độ lưu ảnh của mắt.
14.3.6 Tính lưu ảnh và sự rung
Khi một hình ảnh đột nhiên chiếu lên võng mạc thì hình ảnh đó vẫn còn lưu
trên võng mạc một giây sau khi ánh sáng mất đi. Kết quả là các tín hiệu độ
sáng vẫn được truyền đến bộ não. Đặc tính này của hệ thống nhìn của chúng ta
gọi là tính lưu ảnh. Tính chất này làm cho một loạt các khung ảnh phải trình
bày với tốc độ bằng hoặc ít hơn độ lưu ảnh. Xuất hiện sự rung hình trong quá
trình chuyển động giữa các khung ảnh với nhau. Tại tốc độ 60 khung hình một
giây thì sự rung hình biến mất. Trong một máy truyền hình, các hình ảnh được