Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều - Nguyễn Du-đoạn trích kiều ở lầu Ngưng Bích potx - Pdf 17

Kiến thức lớp 10
Truyện Kiều - Nguyễn Du-phần 11

1.Vị trí đoạn trích.

Bị bán vào nhà chứa của mụ Tú Bà. Thúy Kiều rút dao tự vẫn
nhưng không chết. Đạm Tiên báo mộng số nàng chưa thoát kiếp
đoạn trường. Mụ Tú Bà cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích. Mắc lừa
Sở Khanh, bị Tú Bà bắt về đánh đập dã man, buột Kiều phải tiếp
khách. Đoạn trích này bắt đầu từ đó ( Câu 1229 đến câu 1248).

2. Bố cục :hai đoạn

+ Đoạn một, mười câu đầu: Cảnh sống ô nhục ở lầu xanh và tâm
trạng đau đớn, tủi nhục của Thúy Kiều.

+ Đọan hai, còn lại: Thái độ thờ ơ của Thúy Kiều trước cảnh, thú
vui ở lầu xanh, ý thức về nhân phẩm của nàng.

II. Đọc – hiểu

1. Cảnh sống ở lầu xanh

- Trong mười câu thơ đầu, có tới 4 câu tác giả miêu tả cảnh sống
ở lầu xanh:

Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm
Dập dịu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh


mình. Đấy là lúc nàng “giật mình” xót xa vì thân xác bị dày vò,
thảm hại.

- Ba tiếng mình trong câu tám cũng để chỉ một Thúy Kiều, diễn
đạt nỗi đau mất mát chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay. Nỗi
đau chỉ mình biết thôi đau lắm, xót lắm. Nó không thể san sẻ
cùng ai. Đây cũng là biệt tài của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ
ngữ.

Từ nỗi đau của thân phận, lời thơ bật lên những câu hỏi:

“Khi sao phong gấm rả là…
Giờ tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”

- Những từ ngữ sóng đôi khi/giờ, mặt/thân đặt trong những câu
hỏi: Khi sao? Giờ sao? Mặt sao? Thân sao?

Cả quá khứ và hiện tại, cả đời sống tinh thần và thân xác, tất cả
đem đến cho người đọc hai đọan đời và muôn nỗi tái tê.

- Thúy Kiều ý thức được về thân phận của mình qua liên tưởng
“tan tác như hoa giữa đường”. Đời nàng, thân phận nàng lúc này
như bông hoa rụng vứt giữa đường bị bao bước chân vô tình
xéo, đap không thương tiếc.

- Nguyễn Du đã sử dụng những thành ngữ và tách thành những
câu riêng:


“Đôi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguỵêt nước cờ dưới hoa”

Đó là thú cầm, kì, thi, họa. Thúy Kiều biết tất cả đấy. Nhưng thái
độ của nàng hoàn toàn khác.

Nàng thờ ơ với tất cả. Cách kể và miêu tả của Nguyễn Du rất rõ
ràng mạch lạc. Người đọc nhận ra thái độ ấy:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Cái buồn của con người đã lây sang cả cảnh vật. Buồn như thế
nàng vui làm sao được. Nàng phó mặc cho khách làng chơi:

“Mặc người mưa Sở mây Tần
“Những mình nào có biết xuân là gì”

Mây mưa là chỉ sự ái ân của trai gái, xuân ám chỉ sự vui thú. Mặc
cho khách làng chơi, nàng chẳng vui thú ân ái gì. Nếu có chăng
là vui gượng, vui một cách miễn cưỡng:

Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai

Vì nàng ý thức được nhân phẩm của mình bị chà đạp, bị vùi dập,
thắt buột trong vòng hoen ố. Thái độ ấy thể hiện khát vọng sống
trong trắng, không bao giờ hòa nhập với cuộc sống ở lầu xanh
của Thúy Kiều. Đây là điều chúng ta đáng trân trọng Thúy Kiều.



d) Các tiểu đối

- “Phong gấm rủ là”/ “tan tác như hoa giữa đường”

- Dày gió/ dạn sương

- Bướm chán/ ong chường

- Nửa rèm tuyết ngậm/ bốn bề trăng thâu

- Nước vẽ/ câu thơ

- Cung cầm trong nguyệt/ nước cờ dưới hoa

Biện pháp nghệ thụât này làm nổi bật tâm trạng trước cảnh sống
sa hoa hình thức phô trương ở lầu xanh.

e) Sử dụng thuật ngữ và tạo câu mới

Tác giả nêu thực trạng ở lầu xanh và nỗi đau khổ, thương mình,
tiếc thân của Thúy Kiều.

- Đọan trích “Nỗi thương mình” thể hiện cảm giác đau đớn xót xa
của Kiều trước thân phận, nhân phẩm bị chà đạp ở lầu xanh.

- Đọan trích thể hiện tấm lòng và cái tài của Nguyễn Du. Đó là sự
cảm thông sâu sắc với nỗi cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh
của con người. Cách sử dụng ngôn ngữ tài tình đã nâng cao giá
trị biểu đạt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status