Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Luận văn
Một số giải pháp hạn chế rủi ro
trong phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ tại Sở giao dịch I -
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
MỤC LỤC
M t s gi i pháp h n ch r i ro trong ph ng th c thanh toán tín d ng ch ngộ ố ả ạ ế ủ ươ ứ ụ ứ
t t i S giao d ch I - Ngân h ng u t v phát tri n Vi t Namừ ạ ở ị à đầ ư à ể ệ 1
M C L CỤ Ụ 2
Ph n m uầ ở đầ 3
R i ro i v i ng i xu t kh uủ đố ớ ườ ấ ẩ 9
R i ro i v i ng i nh p kh uủ đố ớ ườ ậ ẩ 10
R i ro i v i ngân h ngủ đố ớ à 11
N mă 36
Nghi p vệ ụ 37
Bi u 1. T ng doanh s TTQT v thanh toán L/C các n m quaể đồ ổ ố à ă 39
n v : 1.000 USDĐơ ị 39
Nói chung, xác nh c TTQT b ng L/C l nghi p v ch ch t v óng vai trò đị đượ ằ à ệ ụ ủ ố à đ
tích c c n các m t kinh doanh khác c a SGDI nên S ã h t s c coi tr ng vi c ự đế ặ ủ ở đ ế ứ ọ ệ
phát tri n nghi p v n y.ể ệ ụ à 39
B ng 3. T tr ng các ph ng th c thanh toán qu c t trong SGDIả ỷ ọ ươ ứ ố ế 40
40
N mă 40
Chuy n ti nể ề 40
B ng 4. Ho t ng thanh toán qu c t theo ph ng th c L/C t i SGDI ả ạ độ ố ế ươ ứ ạ 41
N mă 41
I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nói riêng đang gặp rất nhiều khó
khăn trong việc đối phó với xu thế hội nhập ngân hàng khu vực và quốc tế
cũng như tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do vậy, việc hoàn thiện và
phát triển công tác thanh toán quốc tế cụ thể là nghiên cứu và phòng tránh các
rủi ro trong thanh toán quốc tế là một trong các mối quan tâm hết sức cấp
bách và thường xuyên của mỗi ngân hàng.
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
3
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
khóa luận tốt nghiệp là: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam
cũng chỉ với mục đích làm sáng tỏ vị trí, vai trò của
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trong nền kinh tế, luận giải có tính
hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn, các ưu nhược điểm và nguyên nhân gây ra
rủi ro trong phương thức thanh toán này. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán
tín dụng chứng từ nói riêng.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đây là đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về các rủi
ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những giải pháp để hạn
chế rủi ro đó.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi của một khoá luận, tôi cũng chỉ xin tập trung nghiên cứu
và trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quan đến hoạt động
thanh toán tín dụng chứng từ, thực tiễn về hoạt động này tại Sở giao dịch I -
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm gần đây (từ năm
1999 đến 2002).
dụng. Qua đó có thể thấy được rằng nhờ vào tính ưu việt của mình, phương
thức tín dụng chứng từ đã được sử dụng rộng rãi và đã góp phần đáng kể
trong việc tạo ra những kết quả đáng khích lệ nói trên. Vì vậy, nếu một doanh
nghiệp mới vào nghề kinh doanh xuất nhập khẩu cần một lời khuyên của ngân
hàng trong thanh toán thì lời khuyên đó sẽ là: "hãy chọn phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ để đảm bảo Quyền và Nghĩa vụ của cả hai phía: người
bán giao hàng sẽ được trả tiền, người mua trả tiền được quyền nhận hàng, trên
cơ sở các nguyên tắc của UCP 500".
Tuy nhiên, do chúng ta đang trong quá trình hội nhập và mới làm quen
với các giao dịch kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường trong khi đối tác là
các nhà buôn chuyên nghiệp nước ngoài đã có kinh nghiệm hàng trăm năm
nên không tránh khỏi nhiều bỡ ngỡ, sai lầm dẫn đến những thiệt hại nghiêm
trọng. Thêm vào đó, đội ngũ chuyên gia giỏi thuộc các lĩnh vực liên quan còn
thiếu do công tác giáo dục, đào tạo chưa kịp đáp ứng yêu cầu. Khâu yếu nhất
hiện nay là không ít giám đốc và cán bộ chủ chốt của các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu chưa sử dụng thành thạo ngoại ngữ khi đàm phán. Theo
điều tra gần đây, có tới 70 % số giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa qua
đào tạo chính quy về nghiệp vụ ngoại thương. Chính vì sự thiếu hụt kể trên
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
mà rủi ro là không thể tránh khỏi. Rủi ro trong thanh toán nói chung và trong
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng rất đa dạng, có thể xuất
phát từ phía khách hàng cũng có thể từ phía các ngân hàng.
1. Khái niệm
Khi đề cập đến rủi ro, mọi người hay quan đó là những điều không tốt
lành, tổn thất hay thậm chí thiệt hại về vật chất vô hình hay hữu hình xảy ra
ngoài dự kiến do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan.
Ta có thể định nghĩa rủi ro như sau:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong hoạt động kinh tế của con người
- Rủi ro ngoại hối
- Rủi ro đạo đức
- Rủi ro hàng hoá
- Rủi ro chính trị
II. Các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1. Các rủi ro thường gặp trong phương thức thanh toán tín dụng
chứng
từ.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán theo phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ. Trong phạm vi của luận văn này, chỉ xin
được đề cập đến những rủi ro thường gặp nhất trong thực tế, có thể chia thành
ba loại chính là: rủi ro kỹ thuật, rủi ro đạo đức và rủi ro chính trị trong đó rủi
ro kỹ thuật xảy ra nhiều nhất vì vậy phần đầu trước hết xin dành để nói về rủi
ro kỹ thuật.
1.1. Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy
trình thanh toán L/C, thường do các bên tham gia thực hiện sai một khâu
trong quy trình nghiệp vụ thanh toán.
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Rủi ro đối với người xuất khẩu
Như ta đã biết, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân
hàng phát hành đứng ra cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất
trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng
theo quy định của hợp đồng thương mại, L/C thường đòi hỏi nhiều điều khoản
rất chi tiết và khắt khe. Chỉ với một sai khác dù rất nhỏ cũng có thể bị ngân
hàng mở và người mua từ chối thanh toán với lý do có sự sai biệt hoặc không
phù hợp với L/C. Việc duy nhất mà người xuất khẩu có thể làm để tránh được
rủi ro trên là nhanh chóng, khẩn trương lập bộ chứng từ phù hợp với L/C. Một
bán không thể thu hồi vốn nhanh được. Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở
có thể dựa vào những sai biệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong
khi đó hàng hoá đã được gửi đi. Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán
giảm giá hàng hoá hoặc tìm khách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là
một các chi phí như phí đền bù, cước lưu kho và các phí tổn phát sinh khác.
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi
tiến hành giao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao
hàng muộn, xuất trình chứng từ muộn Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện
sự vi phạm một trong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán.
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá không
đúng với hợp đồng mua bán. Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tính
độc lập giữa L/C và hợp đồng thương mại. Việc thanh toán giữa ngân hàng
hai bên mua bán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình
phù hợp với quy định của L/C tức là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về sự
khớp đúng trên bề mặt giữa bộ chứng từ thanh toán với L/C chứ không chịu
trách nhiệm về tính chân thực của chứng từ và tình hình thực tế giao hàng. Do
vậy, người mua sẽ phải chịu rủi ro khi tiền hàng đã trả theo bộ chứng từ xuất
trình cho ngân hàng đều phù hợp cả về số lượng, chất lượng nhưng thực tế
thì hàng hoá nhận được lại không đúng với mong muốn, không giống như
trong hợp đồng thương mại mà trước đó hai bên đã thoả thuận.
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Rủi ro đối với ngân hàng
Trong nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng đóng vai trò
quan trọng không thể thiếu. Vì vậy, cũng giống như khách hàng của mình, với
vị trí khác nhau, ngân hàng cũng có thể gặp những rủi ro khác nhau.
Cũng như rủi ro trong nghiệp vụ tín dụng, rủi ro trong nghiệp vụ thanh
toán L/C không hẳn là những mất mát, thiệt hại xảy ra cho các ngân hàng do
chiếu trong L/C như UCP 500 và Incoterms 2000.
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứng từ đến và khi thanh toán.
Có thể nói đây là nghiệp vụ "vạch lá tìm sâu" của ngân hàng mở nhằm
phát hiện những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với
nội dung và bề mặt của L/C đã mở. Rủi ro cho ngân hàng sẽ xảy ra khôn
lường nếu ngân hàng không kiểm tra kỹ bộ chứng từ mà vẫn thực hiện thanh
toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bởi lẽ từ trước đến nay đã có những bộ
chứng từ giả, đặc biệt là B/L giả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền, cũng
có trường hợp ghi "theo lệnh" (to order ) không đúng tên người nhận, làm
cho việc nhận hàng bị chậm trễ, tăng chi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại không
chỉ cho khách hàng mà cả cho ngân hàng mở nếu lô hàng đó ngân hàng cho
vay thanh toán. Nhằm hạn chế phần nào các trường hợp trên, các doanh
nghiệp cũng như các ngân hàng thương mại khi mở L/C nhập khẩu nên quy
định thêm điều khoản: Gửi lên tàu ngay sau khi giao hàng một bản sao bộ
chứng từ cho người mở L/C, nhằm mục đích để cho người mở kiểm tra trước,
nếu có sai sót thì kịp thời tu chỉnh sửa đổi, đồng thời có tác dụng tăng thêm
độ tin cậy rằng hàng đã được bốc xếp lên tàu.
Sau khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng cũng có thể vấp phải một số rủi
ro kỹ thuật như không tuân thủ UCP, ví dụ: chuyển giao bộ chứng từ không
phù hợp cho người mở đi nhận hàng, hoặc làm mất không trả lại chứng từ cho
phía xuất trình nguyên vẹn như khi nó nhận được, hoặc không giao chứng từ
đó cho bên thứ ba do phía xuất trình chỉ định.
Chúng ta đều biết rằng bằng việc đồng ý mở L/C, ngân hàng mở cam
kết thay mặt người mua thanh toán cho người xuất khẩu nếu anh ta thực hiện
đúng như quy định của L/C. Chính vì tính thay mặt cho người mua đã làm
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
xuất hiện khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở. Đó là rủi ro không đòi
được tiền từ phía nhà nhập khẩu do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán
Theo quy nh ca UCP 500, khi trờn th tớn dng chuyn bng in cú
ghi "cỏc chi tit y gi sau" hay nhng t cú ni dung tng t hoc ghi
rng th xỏc nhn s l vn bn cú hiu lc ca th tớn dng thỡ in chuyn
s khụng c xem nh l vn bn cú hiu lc. Vỡ vy, nu ngõn hng thụng
bỏo v th tớn dng cho khỏch hng thỡ phi ghi rừ trờn thụng bỏo: "thụng bỏo
s b cha cú hiu lc thi hnh". Khi ngõn hng thụng bỏo khụng lm ỳng
iu ú khỏch hng hiu lm rng ú l L/C cú hiu lc v thc hin giao
hng thỡ mi ri ro ngõn hng s phi hon ton chu trỏch nhim.
Ngõn hng xỏc nhn (nu cú)
Ri ro xy ra i vi ngõn hng xỏc nhn l do khụng nm chc nng
lc ti chớnh ca ngõn hng m li vi i xỏc nhn theo yờu cu ca h ri
cui cựng phi nhn lónh trỏch nhim thanh toỏn thay cho ngõn hng m
trong trng hp ngõn hng m thiu thin chớ hoc mt kh nng thanh toỏn
thm chớ b phỏ sn.
Ngõn hng chit khu (nu cú)
i vi ngõn hng chit khu ri ro xy ra phn nhiu tu thuc vo
thin chớ ca ngõn hng m v nh nhp khu. Ngõn hng chit khu s
khụng thu hi c tin hoc thu chm l do nh nhp khu trỡ hoón thanh
toỏn, thm chớ t chi thanh toỏn thụng qua vic "bi bốo ra b" trong vic
kim tra chng t ca ngõn hng m. Lý do ngi nhp khu trỡ hoón ch
yu l do gp khú khn trong thanh toỏn hoc cng cú th do bờn mua khụng
tin tng bờn bỏn vỡ hay giao hng tr, giao hng kộm cht lng. Mc ớch
ca ngi mua l mun hng tht s v cng, nhỡn thy hng ri mi tr tin.
trỡ hoón thanh toỏn, h s yờu cu ngõn hng m thụng bỏo nhng sai bit
ca chng t trong vũng 7 ngy lm vic dnh quyn c t chi thanh
toỏn sau ny. i vi ngõn hng chit khu, thi gian trỡ hoón thanh toỏn cng
di, ngõn hng b chim dng vn cng lõu.
1.2. Ri ro o c
Lu Phơng Lan - A1CN9
hng m c doanh nghip nhm bo ton vn v an ton trong kinh doanh.
Lu Phơng Lan - A1CN9
15
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Mặc dù trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã có sự cam kết của
ngân hàng mở, nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người bán và người mua
vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả của
thanh toán quốc tế. Khi người mua có thiện chí thì việc thanh toán sẽ diễn ra
thuận lợi hơn rất nhiều cho dù bộ chứng từ có sai sót cũng dễ được chấp nhận.
Ngược lại, khi họ có ý không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể do cơ
hội kinh doanh đã mất hay do các mối hàng khác họ có thể dựa vào những
sai sót dù là rất nhỏ của chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm
dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán. Với người mua, sự
trung thực của người bán cũng rất quan trọng, bởi vì ngân hàng chỉ làm việc
với những chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay
không. Do đó, người mua có thể vẫn phải thanh toán L/C với ngân hàng mà
không nhận được hàng hoá theo đúng hợp đồng. Các vi phạm về hợp đồng có
thể được giải quyết sau đó nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, trước
hết là người mua mất cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng vốn. Song, không
chỉ người mua và người bán mà cả ngân hàng cũng đang đứng trước mối đe
dọa to lớn đó. Con số thiệt hại hàng năm trong thanh toán xuất nhập khẩu của
các ngân hàng thương mại không phải nhỏ, gây khó khăn cho hoạt động của
ngân hàng. Trước hết, ngân hàng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những rủi ro của
khách hàng. Khi người mua không nhận được hàng theo đúng yêu cầu và kế
hoạch kinh doanh của họ bị phá vỡ thì họ không thể trả ngân hàng số tiền đã
vay của ngân hàng để thanh toán L/C. Khi người bán không nhận được tiền
hàng thị họ không thể thanh toán cho ngân hàng khoản vay để sản xuất, thu
gom hàng xuất khẩu. Song ảnh hưởng gián tiếp chỉ là rất nhỏ so với những rủi
ro trực tiếp mà nó có thể gây ra. Nguyên nhân chủ yếu của rủi ro đạo đức là
vấn đề thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác về tình hình tài chính, hoạt
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh,
đảo chính, đình công cũng có thể gây ra rủi ro cho quá trình thanh toán như
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
mất chứng từ, hàng hoá bị mất mát, hư hỏng, ngân hàng bị phong toả hoặc
tạm ngừng hoạt động.
Những biểu hiện bất lợi của các yếu tố kinh tế - chính trị còn được nhân
lên gấp nhiều lần khi nó ảnh hưởng đến sự ổn định giá trị đồng tiền. Vì
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc
gia khác nhau với đồng tiền khác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là
một rủi ro rất lớn tuy không xuất phát từ quá trình thanh toán. Một ngân hàng
có thể bị thiệt hại khi cho khách hàng vay để mở L/C hoặc chiết khấu chứng
từ khi tỷ giá thay đổi. Trong các giao dịch, người ta thường dùng các ngoại tệ
mạnh hơn để làm đơn vị tiền tệ, mà chủ yếu là USD. Thông thường, ngân
hàng cho khách hàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C, và có thể phải mua
ngoại tệ này ở nơi khác. Khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giá
tăng thì ngân hàng thu được một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung. Ngược lại,
nếu tỷ giá giảm thì khoản phí thu được chưa chắc đã bù đắp được khoản lỗ do
chênh lệch tỷ giá gây ra. Ngoài việc ngân hàng buộc khách hàng phải ký quỹ
mở L/C bằng ngoại tệ mạnh sẽ không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng trong
giai đoạn tỷ giá không ổn định mà nhiều khi còn tiềm ẩn những rủi ro đối với
ngân hàng. Vì ngân hàng nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ
trượt giá đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi hàng nhập về, tỷ giá trượt
mạnh, đối với những mặt hàng bán giá cạnh tranh không thể tăng giá được,
nhà nhập khẩu không muốn nhập hàng vì sợ bị lỗ. Trong trường hợp đó, nếu
tỷ lệ ký quỹ không bù đắp tỷ lệ trượt giá nội tệ thì rủi ro có thể xảy ra đối với
ngân hàng phát hành.
Các biến động kinh tế, chính trị, xã hội dù trực tiếp hay gián tiếp, tức
thì hay lâu dài đều gây những ảnh hưởng tới hoạt động của các ngân hàng và
Thông thường, thư tín dụng được bên nhập khẩu mở trước ngày giao
hàng một thời gian nhất định để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
bị hàng hoá gửi đi. Nếu L/C được mở sớm thì người xuất khẩu sẽ có lợi vì có
đủ điều kiện tốt để gửi hàng đi. Nhưng ngược lại, nếu mở L/C quá sớm trước
ngày giao hàng thì bên nhập khẩu sẽ bị đọng vốn đối với khoản ký quỹ là một
phần hay toàn bộ L/C. Vì vậy, thời gian mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai
bên xuất và nhập khẩu.
2.2. Nội dung của L/C
Theo khái niệm trên thì thư tín dụng là một phương tiện thanh toán rất
quan trọng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Nó liên quan
chặt chẽ tới quyền lợi của các bên. Trong trường hợp thư tín dụng không mở
được thì phương thức thanh toán này không được xác lập và tất yếu sẽ không
có việc giao hàng cũng như việc thanh toán giữa người mua và người bán.
Còn khi thư tín dụng đã được mở thì nội dung của nó là một bộ phận vô cùng
quan trọng và trở thành cốt lõi để các bên thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo quyền
lợi cho đối tác cũng như bản thân mình. Vì vậy, nội dung của thư tín dụng
phải đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Mỗi thư tín dụng mang một nội dung riêng
biệt tuỳ theo nội dung của từng thương vụ, nhưng nhìn chung chúng có những
nội dung cơ bản giống nhau và thường không thể thiếu được trong một L/C,
bao gồm: địa điểm mở thư tín dụng, ngày mở thư tín dụng, số hiệu của thư tín
dụng, loại thư tín dụng, số tiền, thời hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng, thời hạn
thanh toán, nội dung về hàng hoá, các nội dung về vận tải và giao nhận và đặc
biệt là bộ chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
Các bên liên quan khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ cần chú ý tới tất cả các nội dung nêu trên, đặc biệt là điều khoản yêu cầu về
bộ chứng từ mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng mở bởi đây chính là
điều kiện để cam kết thanh toán được thực hiện. Đối với người mua, thông
Đây là loại L/C mà sau khi đã được mở ra thì ngân hàng không được
đơn phương sửa đổi hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực nếu không có sự đồng
ý của cả người xuất khẩu và người nhập khẩu.
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Như vậy, nếu không có sự nhất trí của người xuất khẩu, của ngân hàng
xác nhận (nếu có) thì ngân hàng mở không được phép thực hiện theo yêu cầu
của bên nhập khẩu thay đổi L/C. Do đó quyền lợi của người bán được đảm
bảo hơn.
Tín dụng không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng khá an toàn và có
thể cân bằng được quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng rộng
rãi trong thương mại quốc tế ngày nay. Tuy nhiên, rủi ro cũng vẫn có thể xảy
ra khi ngân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, người xuất khẩu sẽ không
thu được tiền và trong khi người nhập khẩu đã thanh toán.
(2) Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận
Confirmed L/C
Đây là loại L/C không thể huỷ ngang, được một ngân hàng thứ ba đứng
ra xác nhận và chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người hưởng lợi khi ngân
hàng mở không có khả năng thanh toán.
Nguyên nhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợi không tin
tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. Tuy đây là loại L/C
tạo cho người bán một sự đảm bảo hai lần trong việc sẽ được thanh toán tiền
hàng - vậy là rất an toàn - nhưng nó lại thường không nhận được sự hưởng
ứng nhiều của ngân hàng mở L/C do nó gián tiếp làm giảm uy tín của họ. Đôi
khi việc thoả thuận lựa chọn ngân hàng xác nhận cũng gây chậm chễ, khó
khăn với các bên liên quan: bên bán chậm thu được tiền để nhanh chóng tiếp
tục đầu tư tái sản xuất; bên mua chậm nhận được hàng vì bên bán không giao
hàng khi L/C chưa được xác nhận, dẫn đến mất cơ hội kinh doanh; ngân hàng
mở L/C cũng có thể bị mất uy tín trên thị trường khi các khách hàng khác
có vốn sản xuất và giao hàng.
Nhà xuất khẩu phải cam kết bồi hoàn số tiền nhận ứng trước nếu không
nộp đủ chứng từ phù hợp theo thời gian quy định.
Lu Ph¬ng Lan - A1CN9
23
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Loại L/C này được gọi là tín dụng điều khoản đỏ vì ngân hàng phát
hành khi ghi điều khoản ứng trước đó vào định khoản có dùng mực đỏ để tập
trung sự chú ý tới L/C đặc biệt này.
Loại L/C này tuy có lợi cho nhà xuất khẩu do được tài trợ tín dụng song
rủi ro nảy sinh là tiền ứng trước đó có thể bị sử dụng không đúng mục đích.
Người bán có thể lập chứng từ không hoàn lại được tiền ứng trước cho ngân
hàng. Do đó nó gây bất lợi và rủi ro cho nhà nhập khẩu và ngân hàng phát
hành.
(6) Thư tín dụng tuần hoàn
Là loại L/C mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết hạn hiệu lực lại tự
động có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời gian nhất định
cho đến khi hoàn tất hợp đồng.
Thư tín dụng tuần hoàn có hai loại:
- Thư tín dụng tuần hoàn tích luỹ: Đây là loại L/C cho phép chuyển số dư
sang giai đoạn tiếp theo, cứ như vậy cộng dồn đến L/C cuối cùng. Như vậy,
nó cho phép cộng dồn số tiền của L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu
L/C trước chưa sử dụng hết.
Loại L/C này làm cho vốn của nhà nhập khẩu (phần L/C chưa sử dụng
hết) bị chiếm dụng trong thời gian từ lúc L/C trước hết hạn hiệu lực đến khi
L/C tiếp theo được mở.
- Thư tín dụng tuần hoàn không tích luỹ: Đây là loại L/C không cho phép
chuyển số dư của giai đoạn trước sang giai đoạn kế tiếp. Như vậy, nó không
cho phép cộng dồn số tiền của L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/C
trước chưa sử dụng hết.