TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI : ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM.
Giáo Viên Hướng Dẫn : TS. PHAN THỊ MINH CHÂU
CÔ: LÊ THANH TRÚC
Sinh Viên Thực Hiện : Huỳnh Minh Hòa Qt3/K33
TP Hồ Chí Minh, Ngày 0 1 Tháng 0 4 Năm 2009
1
MỤC LỤC
TRANG
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 3
PHÂN TÍCH SWOT CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 4
A. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 5
I. NHỮNG CƠ HỘI 5
1. Một trong những ngành được chính phủ ưu tiên 5
2. Tiềm năng thị trường lớn 5
3. Tham gia vào dây chyền toàn cầu hóa 6
4.Thâm nhập và thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường thế giới 6
5. Chủ trương CNH-HĐH của chính phủ 6
II. NHỮNG ĐE DỌA 6
1. Cạnh tranh của ngành ngày càng gay gắt 7
2. Khủng hoảng kinh tế 8
3. Đòi hỏi của người tiêu dùng ngày khắt khe hơn 8
4. Các doanh nghiệp chưa thích nghi kịp sự phát triển của công nghệ mới 8
B. MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 8
I. CÁC ĐIỂM MẠNH 8
1. Nhân công rẻ 8
2. Lợi thế về đất đai 9
doanh nghiệp trong nước đa số ở quy mô nhỏ và vừa nên gặp nhiều hạn chế trong hoạt
động kinh doanh như: trình độ lao động còn ở mức độ thủ công, năng suất lao động
thấp. Rất ít doanh nghiệp sản xuất được những sản phẩm có giá trị kinh tế lớn, từ đó
hiệu quả kinh doanh thu được cũng không cao. Khâu tiếp cận với các nguồn vốn, thông
tin thị trường, mặt bằng sản xuất các doanh nghiệp còn rất hạn chế nên khó có điều
kiện mở rộng quy mô, cải tiến kĩ thuật, đầu tư nghiên cứu sản phẩm. Thị phần các công
ty trong nước rất nhỏ, một sản phẩm trong nước có chỗ đứng trên thị trường nội địa là:
tivi của Hanel, BTV, DENCO, máy tính CMS, FPT, đầu đĩa karaoke Tiến Đạt
Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam hàng năm khoảng 20-
30%. Từ những lắp ráp đơn giản, Việt Nam đã phát triển từng bước và bước đầu sản
xuất phụ tùng, linh kiện xuất khẩu cũng như nghiên cứu thiết kế được một số sản phẩm
thương hiệu Việt được bạn hàng quốc tế tin dùng, nhưng số lượng sản phẩm cũng khá ít
Về cơ bản, các sản phẩm điện tử và công nghệ đã thoả mãn được nhu cầu của thị trường
nội địa và phát triển xuất khẩu, đến nay, sản phẩm điện tử Việt Nam đã xuất khẩu vào
được 35 nước, doanh số thị trường nội địa đạt 1,6 tỷ USD năm 2005, và năm 2006 đã
đạt hơn 2 tỷ USD. Song mức tăng trưởng ấy vẫn còn khá chậm so với các nước trong
khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc
Từ khi nước ta trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới
WTO đã mang lại cho ngành công nghiệp điện tử những cơ hội lớn như tăng cường khả
năng thâm nhập và thúc đẩy xuất khẩu do thị trường thế giới và khu vực được mở rộng
và vị thế cạnh tranh bình đẳng hơn, cơ hội tiếp cận tín dụng, công nghệ mới, thông tin
thị trường thế giới, khu vực, các dịch vụ, cung cấp vật tư của ngành tốt hơn
Nhưng sự gia nhập của các hãng điện tử lớn từ nước ngoài vào Việt Nam, như
Sanyo, Toshiba, Hitachi, Sony, JVC, LG đã lần lượt “đổ bộ” vào sản xuất thành phẩm
khai thác thị trường tại chỗ. Đến nay, các thương hiệu này đang lấn dần vị trí của các
doanh nghiệp trong nước đã dẫn đến sự cạnh tranh diễn ra khá quyết liệt trên thị trường
điện tử khiến ngành đứng trước rất nhiều những khó khăn, thách thức. Thị trường cạnh
tranh càng khốc liệt hơn, nhiều biến động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động hơn
để thích nghi với sự thay đổi của thị trường.
Do đó việc phân tích, đánh giá những tác động của môi trường đến các doanh nghiệp
4. Các doanh nghiệp chưa
thích nghi kịp sự phát triển
của công nghệ mới.
S : Các điểm mạnh
1. Nhân công rẻ
2. Lợi thế về đất đai
Các chiến lược SO
1. Thâm nhập và phát triển thị
trường
2. Đầu tư phát triển những
sản phẩm mới, công nghệ cao
Các chiến lược ST
1. Khai thác tối đa nguồn lực
trong nước để hạ giá thành
sản phẩm
2. Phát triển thương hiệu
3. Phát triển hệ thống phân
phối theo chiều sâu
W : Các điểm yếu
1. Chưa có chiến lược cụ thể
2. Công nghệ còn kém
3. Tài chính hạn chế
4. Trình độ nhân lực thấp
5. Thị phần trên thị truờng
nhỏ
6.Tỷ lệ nội địa hóa nguyên
vật liệu thấp
7. Mất cân đối cơ cấu sản
phẩm.
Các chiến lựợc WO
Thủ tục hành chánh đã được đơn giản hóa giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được
thời gian, giảm các chi phí trung gian dẫn đến giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng
cạnh tranh.
Trong bối cảnh hội nhập, các doanh nghiệp điện tử sẽ sản xuất được những sản
phẩm có giá thành thấp hơn hiện nay do hưởng được ưu đãi về thuế suất nhập khẩu các
linh kiện và nguyên vật liệu sản xuất từ các nước thành viên của WTO và khu vực
Asean.
2. Tiềm Năng Thị Trường :
Hiện dân số Việt Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới với 82 triệu người. Dự đoán
năm 2020, dân số Việt Nam sẽ vượt qua Nhật Bản và đứng thứ tư châu Á chỉ sau Trung
Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Với tỷ lệ phát triển dân số, cùng với một kết cấu dân số trẻ
sẽ mang lại một vài xu hướng tiêu dùng mới và những thay đổi trong vòng 10 năm tới.
Trong đó, việc tăng mạnh lực lượng lao động (những người đưa ra quyết định tiêu thụ)
và kiểu hộ gia đình nhỏ sẽ kích thích việc tiêu dùng. Dự báo sự phát triển dân số và sự
di dân vào đô thị sẽ đưa nền kinh tế tiêu dùng tại Việt Nam đạt đến những tầm cao mới.
Thống kê GDP và thu nhập bình quân dầu người của việt nam qua các năm :
Thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng dần theo theo gian dẫn đến các nhu
cầu về tiêu dùng tăng lên, Xu hướng tiêu dùng người dân đã nâng lên về cả lượng và
chất, những yêu cầu chất lượng hàng hoá, các dịch vụ ngày càng cao hơn. Những sản phẩm
Năm 2006 2007 2008 2009
GDP 8,17% 8,5% 6,23% Dự đoán 6-6,5%
PCI
750 $ 835 $ 960 $ Dự đoán 1.100 $
6
có giá trị lớn, công nghệ cao hơn và nhiều tiện ích hơn ngày càng được người tiêu dùng
ưa chuộng.
Với việc Việt Nam gia nhập WTO, môi trường kinh doanh và đầu tư của ngành cũng
đã được cải thiện, Các doanh nghiệp có khả năng tăng cường khả năng thâm nhập và
thúc đẩy xuất khẩu do thị trường thế giới và khu vực được mở rộng, do đó có rất nhiều
Quá trình công nghiệp hoá, hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đang tạo nên thị
trường lớn cho lĩnh vực điện tử. Trong sản xuất, nhiều nhà máy mới, trang bị các dây
chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, nhiều cơ sở nâng cấp, tiếp nhận chuyển giao công
nghệ mới đều tạo nên nhu cầu áp dụng các sản phẩm và hệ thống điều khiển tự động.
Trong lĩnh vực dịch vụ và hiện đại hóa các ngành kinh tế quốc dân như giao thông vận
tải, truyền thông, thương mại, y tế, giáo dục…, các trang thiết bị đo lường, điều khiển,
tự động được sử dụng ngày càng nhiều. Tóm lại, thị trường các sản phẩm và dịch vụ
điện tử ngày càng tăng. Mặc dù chi phí cho các sản phẩm và hệ thống điện tử trong dây
7
chuyền sản xuất chỉ chiếm 5-10% tổng chi phí, nhưng nó là thành phần đầu não, cốt lõi
của cả dây chuyền sản xuất. Thiếu nó, dây chuyền sản xuất sẽ dừng hoặc cho ra các sản
phẩm không đảm bảo chất lượng.
II. NHỮNG ĐE DỌA :
1. Cạnh tranh gay gắt của ngành
Các đối thủ trong ngành :
Sự cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ điện tử trên thế giới ngày càng khốc
liệt. Với chiến lược lấy công làm lãi, các sản phẩm của Trung Quốc có giá thành rất rẻ,
với chất lượng không thua kém sản phẩm của các nước phát triển. Đây là một thách
thức rất lớn, đòi hỏi các sản phẩm và dịch vụ điện tử của Việt Nam phải vượt qua.
Việc cho phép các doanh nghiệp FDI được nhập khẩu trực tiếp hàng hóa để bán lẻ
hiện nay, đang đặt các doanh nghiệp điện tử 100% vốn trong nước đối mặt với khó khăn
mới. việc các doanh nghiệp FDI được nhập khẩu sản phẩm điện tử nguyên chiếc sẽ giúp
họ giảm bớt chi phí trung gian nên nhiều khả năng giá bán hàng nhập khẩu sẽ rẻ hơn
hàng sản xuất trong nước cùng loại từ 5%-10% và số lượng hàng nhập khẩu sẽ phong
phú hơn rất nhiều. Trong khi đó, giá các sản phẩm điện tử của doanh nghiệp 100% vốn
trong nước hiện đã ở mức kịch sàn khó có thể hạ thấp hơn được nữa vì vậy đây sẽ là
một cuộc cạnh tranh khá vất vả dành cho họ.
Vài năm qua, các công ty điện tử nước ngoài như Sanyo, Toshiba, Hitachi, Sony,
JVC, LG đã lần lượt “đổ bộ” vào Việt Nam sản xuất thành phẩm khai thác thị trường
tại chỗ. Đến nay, các thương hiệu này đang lấn dần vị trí của các doanh nghiệp trong
Suy thoái kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trên phạm vi toàn cầu. Cầu
đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ thu hẹp, do đó hoạt động xuất khẩu bị
giảm sút.
Khi sản xuất bị thu hẹp, một số người có khả năng mất việc làm, hay chí ít là thu
nhập bị giảm sút cộng với dòng kiều hối chảy vào sụt giảm sẽ kéo theo sụt giảm trong
tiêu dùng.
3. Đòi hỏi ngày càng khắt khe của người tiêu dùng :
Thu nhập của người dân có xu hướng tăng dần theo theo gian dẫn đến các nhu cầu về tiêu
dùng tăng lên, Xu hướng tiêu dùng người dân đã nâng lên về cả lượng và chất, những
yêu cầu chất lượng hàng hoá, các dịch vụ ngày càng cao hơn. Những sản phẩm có giá trị
lớn, công nghệ cao hơn và nhiều tiện ích hơn ngày càng được người tiêu dùng ưa
chuộng. Bên cạnh về chất lượng sản phẩm những dịch vụ hậu mãi, khuyến mãi ngày
càng được khách hàng quan tâm nhiều hơn. Không chỉ dừng lại ở sản phẩm bền, đẹp
mà còn cả ở cơ chế bảo hành, bảo trì. Tóm lại là từ các khâu marketing, bán sản phẩm
cho đến số lượng, chất lượng hàng hóa rồi đến các khâu hậu mãi, khuyến mãi, bảo hành,
bảo trì khách hàng ngày càng có những đòi hỏi khắt khe hơn. Do đó, đòi hỏi các doanh
nghiệp cần quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa về sản phẩm và dịch vụ để tăng khả năng
cạnh tranh trên thị trường.
4. Chưa thích nghi kịp với sự phát triển công nghệ :
Việc ứng dụng những công nghệ mới và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
điện tử Việt Nam thời gian qua chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa
học công nghệ trong khu vực cũng như trên thế giới, nên chỉ có các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài là được hưởng “miếng bánh” xuất khẩu và được hưởng lợi từ
việc Việt Nam gia nhập WTO cũng như những ưu đãi về nhập khẩu mà các nước dành
cho Việt Nam. Chính sự yếu kém về công nghệ đã làm cho năng lực sản xuất của các
doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu, sản phẩm sản xuất ra có giá
thành cao và chất lượng không phù hợp theo chuẩn mực quốc tế.
B. MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
I. CÁC ĐIỂM MẠNH :
1. Chi phí nhân công rẻ :
doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiểu rõ về luật WTO, chưa kịp thời chuyển đổi cơ cấu
sản phẩm, chưa vạch ra hướng đi rõ ràng cho mình trong giai đoạn mới.
2. Công nghệ còn kém :
Trong khi ngành điện tử các nước trong khu vực đã đạt đến khâu sáng chế và sản
xuất và xuất khẩu thành phẩm, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn loay hoay ở công
đoạn gia công và lắp ráp bởi trình độ công nghệ, trang thiết bị máy móc sản xuất của
các doanh nghiệp trong nước vẫn còn thấp, các dây chuyền sản xuất lạc hậu so với khu
vực và thế giới khoảng 10-20 năm. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế nên đòi
hỏi các doanh nghiệp cần tăng cường hơn nữa các mối quan hệ hợp tác quốc tế, liên kết,
liên doanh giữa các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác sản xuất, đầu tư và
chuyển giao công nghệ.
3. Hạn chế về vốn :
10
Ngành điện tử Việt Nam vẫn phải tranh thủ nguồn đầu tư nước ngoài để có thể
phát triển vì nguồn vốn đầu tư trong nước rất hạn chế. Chính sự hạn chế về vốn này làm
cho các doanh nghiệp khó có điều kiện mở rộng quy mô, cải tiến kĩ thuật, đầu tư nghiên
cứu sản phẩm
Khâu tiếp cận với các nguồn vốn các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, nên quy mô
của các doanh nghiệp nước ta thường là nhỏ và vừa, không đủ vốn đầu tư phát triển
công nghệ, phát triển các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại nên chưa thu hút
được sự chú ý của khách hàng.
4. Trình độ nhân lực chưa cao :
Nguồn nhân lực đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển
một ngành công nghiệp, đặc biệt với các ngành công nghệ cao như điện tử. Chúng ta
thiếu những kỹ sư lành nghề, trình độ lao động còn ở mức độ thủ công cao nên năng
suất lao động thấp
Một lý do làm sự phát triển nhóm ngành công nghệ Điện tử của Việt Nam không
mạnh là sự thiếu hụt đội ngũ nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới ở các cơ sở sản
xuất. Một khi các cơ sở sản xuất không tiến hành việc thiết kế, chế tạo và cải tiến chỉ
tiêu chất lượng các sản phẩm của mình, thì thiếu hẳn động lực phát triển cho công nghệ
tổng kim ngạch của toàn ngành công nghiệp điện tử Việt Nam.
Tỷ lệ các sản phẩm và dịch vụ điện tử của các doanh nghiệp Việt Nam chiếm phần
nhỏ. Nguyên nhân là do ngành công nghiệp chế tạo các sản phẩm và hệ thống điện tử
của ta còn chưa hình thành và các công ty Việt Nam làm các dịch vụ (tích hợp hệ thống,
bảo hành, bảo trì ) cũng chỉ mới đủ năng lực làm các hệ thống nhỏ hoặc bảo trì các hệ
thống lớn dưới sự chỉ đạo của các chuyên gia nước ngoài.
6. Tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu thấp :
Công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện và công nghiệp phụ trợ ở nước ta phát triển
chậm nên tỷ lệ nội địa hóa cũng như giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp.
Sự kém phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ không đáp ứng được nhu cầu
lắp ráp trong nước, gây rất nhiều thiệt thòi cho các doanh nghiệp tại Việt Nam, làm cho
chi phí sản xuất cao hơn, nên giá cả cũng cao hơn, do phải vận chuyển linh kiện từ
những cơ sở tại các nước lân cận như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan vào lắp ráp tại
Việt Nam, Chi phí vận chuyển cũng là một yếu tố làm tăng giá thành sản phẩm.
Các doanh nghiệp trong nước phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên không
thể chủ động trong hoạt động sản xuất. Mặt khác, do nhập khẩu với số lượng ít nên giá
nhập khẩu cao dẫn đến chi phí sản xuất cao.
7. Mất cân đối trong cơ cấu sản phẩm :
Cơ cấu sản phẩm mất cân đối nghiêm trọng, sản phẩm điện tử tiêu dùng lên tới
80%, các sản phẩm chuyên dùng chỉ chiếm 20%. song đến thời điểm này các doanh
nghiệp vẫn chưa kịp thời chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, trong khi công nghiệp sản xuất
phụ tùng, linh kiện và công nghiệp phụ trợ lại phát triển chậm nên tỷ lệ nội địa hóa cũng
như giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp.
Hiện nay, các doanh nghiệp FDI như Sony, Panasonic, Toshiba, Samsung, JVC,
cùng một số doanh nghiệp Việt Nam như VTB (Viettronics Tân Bình) Belco
(Viettronics Biên Hòa), Tiến Đạt chủ yếu lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng và điện
lạnh phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa.
Đa phần còn lại là các doanh nghiệp tư nhân với hoạt động chủ yếu là dịch vụ bảo
hành, sửa chữa.
C. CÁC CHIẾN LƯỢC
Đầu tư vào phần chất xám của sản phẩm, hay nói cách khác là sản phẩm phải có các
chức năng vượt trội hơn, được thiết kế và phát triển với đội ngũ chuyên gia giỏi nhưng
với giá thành cạnh tranh hơn, chi phí cho công sản xuất và lưu thông hợp lý hơn.
II. Các chiến lược ST
1. Phát triển hệ thống phân phối theo chiều sâu :
Chất lượng của hàng điện tử không chỉ dừng lại ở sản phẩm bền, đẹp mà còn cả ở
cơ chế bảo hành, bảo trì. Đây là vấn đề rất nhạy cảm bởi đối với mặt hàng điện tử, giá
các sản phẩm thường cao mà lại hay hỏng hóc nên việc bảo hành, bảo mại trở thành vấn
đề lớn của ngành
Do đó các doanh nghiệp cần cung cấp dịch vụ vận chuyển, thanh toán dễ dàng, hình
ảnh sản phẩm bắt mắt, kích thước chính xác và những lời khuyên của một chuyên gia
thực thụ.
Hiện nay, Các nhà phân phối của ta hầu hết là nhà phân phối nhỏ, số các nhà phân
phối lớn như: Nguyễn Kim, Kim Cô còn ít, nên phần lớn nhà phân phối không chính
thức bán hàng không phải là hàng chính hãng, chế độ bảo hành, hậu mại của họ không
rõ ràng và thậm chí chỉ bán hàng mà không có địa chỉ để bảo hành.
2. Phát triển thương hiệu :
Thương hiệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên khả năng nhận biết, gợi
nhớ, phân biệt và định hướng cho khách hàng tìm đến mua và sử dụng sản phẩm.
13
Thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tạo được niềm tin với
khách hàng. Do đó việc tạo dựng nên một thương hiệu để khách hàng tin dùng là điều
hết sức cần thiết, các doanh nghiệp cần có những chiến lược phát triển thương hiệu của
mình. Những mặt hàng dựa trên tiêu chí về giá trị có thể gia tăng sức mạnh thương hiệu
của mình bởi vì chúng cung cấp cho người tiêu dùng một cái tên quen thuộc với giá cả
hợp lý.
3. Khai thác tối đa nguồn lực trong nước để hạ giá thành sản phẩm :
Sự cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ điện tử trên thị trường ngày càng khốc
liệt,các sản phẩm của Trung Quốc, các doanh nghiệp FDI, các công ty điện tử nước
ngoài như Sanyo, Toshiba, Hitachi, Sony, JVC, LG…các doanh nghiệp Việt Nam để có
Sau khi là thành viên chính thức của WTO, đất nước chúng ta đang là điểm đến của
các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn (của Intel, Foxconn,
14
…). Hiện, cũng đang có sự chuyển dịch đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào
ngành điện tử Việt Nam.
Bên cạnh đó cần tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế, để tăng cường đầu tư
hơn nữa vào ngành.
3. Đào tạo nguồn nhân lực :
Nếu đội ngũ nhân lực của ta được đào tạo đạt các chuẩn mực quốc tế thì cơ hội có
được nhiều việc làm với các công nghệ hàng đầu thế giới, có thu nhập cao là rất hiện
thực. Ngành điện tử rất cần đội ngũ nhân lực có khả năng thiết kế, nghiên cứu đưa ra
những sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao về mẫu mã cũng như công nghệ, vì cần
thực hiện là nâng cao chất lượng lao động để có thể đáp ứng được yêu cầu của các
doanh nghiệp. Khi đó, thay vì đưa lao động từ nước ngoài vào làm việc, các doanh
nghiệp sẽ tuyển lao động bản xứ để tiết kiệm chi phí.
Để cải thiện dần chất lượng nguồn nhân nâng cấp hệ thống trường đào tạo lên ngang
tầm với khu vực và thế giới. Nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao
đẳng…cần đưa các chương trình dạy có tính thực hành cao hơn, học sinh được nắm bắt
kịp thời với công nghệ hiện đại. Hơn nữa, cần có chính sách cụ thể để đào tạo đội ngũ
kỹ sư, lao động quản lý có hàm lượng chất xám cao song song với các chương trình đào
tạo lao động đại trà.
Hoàn thiện hệ thống giao dịch của thị trường lao động bằng cách, quy hoạch và phát
triển rộng khắp các cơ sở giới thiệu việc làm ở các địa phương để người lao động dễ
tiếp cận. Đa dạng hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động, tạo điều kiện cho các
giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động. Hình thành và hoàn
thiện hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia, xây dựng các trạm quan sát thông
tin thị trường lao động trên địa bàn cả nước để thu thập và phổ biến thông tin thị trường
lao động đầy đủ, kịp thời.
IV. Các chiến lược WT :
1. Gia tăng tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu :
hóa.
Tạo ra sự liền mạch trong dịch vụ khách hàng - ở cửa hàng, trên điện thoại và phương
tiện internet. Dịch vụ tuyệt vời – một điều không thể thiếu – đảm bảo cho các khách
cảm thấy những quyết định tiêu dùng của mình là đúng đắn và tiêu tiền hợp lý. Đây
chính là yếu tố khiến khách hàng mở ví và tiếp tục lập lại điều này nhiều lần sau đó.
Nên sắp đặt các quảng cáo và PR một cách thân thiện, mời mọc và phù hợp với
phong cách sống của khách hàng. Huấn luyện nhân viên kinh doanh, nhân viên bán
hàng để đảm bảo các dịch vụ chăm sóc khách hàng là chu đáo.
D. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT
Thứ nhất, chúng ta phải nỗ lực hết sức mình để có thị trường cho sản phẩm và
dịch vụ Điện tử Việt Nam. Điều mà cộng đồng người Việt có thể làm được là người
Việt Nam, doanh nghiệp và các tổ chức của Việt Nam ở trong và ngoài nước hãy sử
dụng sản phẩm và dịch vụ Điện tử của Việt Nam.
Thứ hai, trong nền kinh tế tri thức, con người là yếu tố quyết định sự thành bại. Do
vậy, chúng ta cần xây dựng đội ngũ nhân lực Điện tử ngang tầm quốc tế. Điều này chỉ
có thể có nếu giới trẻ Việt Nam vươn lên học hỏi kiến thức nhân loại không mệt mỏi.
Thứ ba, sự cạnh tranh trong tương lai là sự cạnh tranh của các ý tưởng sáng tạo mới.
Do vậy, cần liên tục phát triển năng lực sáng tạo của cộng đồng Điện tử nước nhà. Nhà
nước và doanh nghiệp phải có chiến lược duy trì đầu tư để mỗi doanh nghiệp định kỳ ít
nhất cho ra một sản phẩm mới hay một dịch vụ mới. Điều này tạo nên làn sóng sáng tạo
trên toàn quốc, làm động lực cho phát triển nền kinh tế tri thức, trong đó có sự phát triển
của nhóm ngành công nghệ Điện tửnước nhà.
Thứ tư, trong thế giới phẳng, Việt Nam cần phải tham gia ngày càng sâu rộng trong
các chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà nước, doanh nghiệp và mỗi chuyên gia hãy tìm mọi
biện pháp để xuất khẩu được sản phẩm và dịch vụ Điện tử của mình, tập thể mình, đất
nước ta ra toàn cầu. Đây là chiến lược phát triển thị trường không thể không nằm trong
sự cạnh tranh khôc liệt của các nền kinh tế thế giới hiện nay.
Trước những thực trạng, khó khăn và những thách thức đặt ra, có một số đề xuất:
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
16
nghiệp hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, xác định thế mạnh
của mình trong việc tham gia vào hệ thống sản xuất và thương mại khu vực.
Bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp và thực hiện vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và
các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, trợ giúp các doanh nghiệp trong quan hệ với
các doanh nghiệp nước ngoài.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình quản trị học –TS Phan Thị Minh Châu – NXB Phương Đông
2. Wedsite Bộ kế hoạch đầu tư : www.vir.com.vn
3. wedsite tổng cục thống kê :
4. Wedsite tri thức và kỹ năng kinh doanh :
18