Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
Lời nói đầu
Hoạt động kiểm toán đã đợc ra đời từ rất sớm, khoảng thế kỉ thứ ba trớc công
nguyên. Thực tế lúc đó các nhà cầm quyền La Mã đã tuyển dụng các quan chức để
kiểm tra độc lập về tình hình tài chính và nghe thuyết trình của họ về kết quả kiểm
tra độc lập. Đến giữa thế kỉ 20, hoạt động này thực sự phát triển ở Tây Âu và Bắc
Mĩ. ở Việt Nam, từ kiểm toán mới chính thức xuất hiện từ tháng 5/1991. Cho đến
nay, kiểm toán đã phát triển rất nhanh, đặc biệt ở Bắc Mĩ và Tây Âu bằng sự xuất
hiện nhiều loại hình kiểm toán, nhiều mô hình tổ chức và bằng sự thâm nhập sâu
vào nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Kiểm toán Nhà nớc là một hình thức của hoạt động kiểm toán, là việc kiểm toán do
cơ quan quản lí chức năng của Nhà nớc tiến hành nhằm xem xét việc chấp hành
các chính sách chế độ nguyên tắc quản lí kinh tế của Nhà nớc ở các đơn vị sử dụng
vốn nhà nớc và kinh phí do nhà nớc cấp, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả trong các
hoạt động của đơn vị. Có thể khẳng định cơ quan kiểm toán Nhà nớc là một cơ
quan công quyền, thực hiện chức năng kiểm tra tài chính công cao nhất của nhà n-
ớc ta. Chính vì vậy mà việc nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm toán nhà nớc có
ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng một nhà nớc pháp quyền "của dân,
do dân, vì dân". Trên cơ sở đó, mục đích của chuyên đề là thông qua thực trạng
hoạt động kiểm toán Nhà nớc hiện nay đóng góp một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn
thiện hơn nữa hoạt động này. Chuyên đề gồm hai phần chính:
Lời nói đầu
Phần 1. Lí luận chung về kiểm toán và kiểm toán Nhà nớc.
Phần 2. Thực trạng của hoạt động kiểm toán Nhà nớc.
Kết luận.
Phần I. Lí luận chung về kiểm toán và kiểm toán nhà nớc.
1. Bản chất và chức năng của kiểm toán
1.1. Bản chất của kiểm toán
Lớp bồi dỡng kế toán trởng Trang1
Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và đợc sử dụng ở nớc ta từ những
Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
Khách thể kiểm toán đợc xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức. Thực
thể hay tổ chức ở đây đợc giải thích là thực thể pháp lí (một công ty, một đơn vị
của chính phủ, một chủ sở hữu) hoặc một bộ phận phụ thuộc thậm chí có thể
một cá nhân.
Ngời thực hiện hoạt động kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp
vụ. Quan niệm độc lập ở đây thờng đợc giải thích là có thái độ độc lập hay tính
độc lập về nghiệp vụ. Còn trình độ nghiệp vụ thờng đợc giải thích ở trình độ lựa
chọn và tập hợp bằng chứng kiểm toán. Riêng chuẩn mực của Anh khẳng định
kiểm toán viên phải đợc bổ nhiệm.
Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung.
Các luật định hoặc chuẩn mực này đợc gải thích với khái niệm rộng bao gồm cả
trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán hoặc rộng hơn tuỳ theo từng cuộc kiểm
toán.
Với nội dung trên, các định nghĩa đã nêu khá đầy đủ các mặt đặc trng cơ bản
của kiểm toán. Tuy nhiên, các quan niệm này chỉ phù hợp với kiểm toán tài chính
với đối tợng là báo cáo tài chính, do kiểm toán viên độc lập (đợc bổ nhiệm) tiến
hành trên cơ sở các chuẩn mực chung.
Theo quan điểm thứ hai, kiểm toán đợc đồng nghĩa với kiểm tra kế toán,
một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung
của hoạt động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối
kế toán. Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra cha
phát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh
tế, với chủ trơng đa phơng hoá đầu t, đa dạng hoá các thành phần kinh tế, nhà nớc
không còn là chủ sở hữu duy nhất. Từ đó sự can thiệp trực tiếp của nhà nớc bằng kế
hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp.. không thể thực hiện với các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh, kể cả với các nhà đầu t nớc ngoài, thậm chí với các Doanh
nghiệp Nhà nớc. Cách thức can thiệp của Nhà nớc cung không thể nh cũ đợc na.
Mặt khác, các nhà đầu t, khách hàng, ngời lao động... cũng cần có niềm tin vào tài
liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo nh Nhà
thờng xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả quản lí của đơn vị kiểm
Lớp bồi dỡng kế toán trởng Trang4
Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
toán. tất nhiên loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý
toàn bộ doanh nghiệp hoặc với từng bộ phận quản lí của mọi đơn vị kiểm toán.
Các quan niệm khác nhau kể trên không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh
quá trình phát triển của cả thực tiễn và lí luận kiểm toán. Có thể minh chứng cho
nhận xét này bởi những kết luận chủ yếu rút ra từ những điều đã trình bày trên.
- Là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh, thuyết phục
để tạo niềm tin cho những ngời quan tâm vào những kết luận kiểm toán cho dù
những kết luận này có thể hớng vào những mục tiêu cụ thể khác nhau nh tính
trung thực của thông tin, tính quy tặc trong việc thực hiện các nghiệp vụ, tính
hiệu quả hay tính hiệu năng của hoạt động. Qua xác minh, kiểm toán viên bày
tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực tơng ứng. Chức năng này quyết định sự
tồn tại của hoạt động kiểm toán.
- Với bản chất và chức năng trên, kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm
tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài chính kể cả thực trạng
tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ kế toán cùng hiệu
quả đạt đợc. Những loại công việc này tự nó đã gắn chặt vào nhau. Đó là luận
cứ cho việc tổ chức kiểm toán khoa học.
- Nội dung trực tiếp của kiểm toán trớc hết và chủ yếu là thực trạng của hoạt
động tài chính. Một phần của thực trạng này đã đợc phản ánh trên các bảng khai
tài chính hay những tài liệu kế toán nói chung. Tuy nhiên, do giới hạn về trình
độ và kĩ thuật xử lí thông tin kế toán, có những phần thông tin quan trọng khác
về hoạt động tài chính cha đợc phản ánh đầy đủ trong các tài liệu. Vì vậy, trong
mọi trờng hợp cần tận dụng nhữmg tài liệu kế toán nh những bằng chứng đã có
làm đối tợng trực tiếp của kiểm toán (kiểm tra chứng từ). Trong trờng hợp thiếu
những bằng chứng trực tiếp này, kiểm toán cần sử dụng những phơng pháp kĩ
thuật để tạo lập các bằng chứng kiểm toán (kiểm tra ngoài chứng từ).
- Để thực hiện chức năng trên trong phạm vi của hoạt động tài chính với nhiều
Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
Chức năng xác minh này là "báo cáo kiểm toán" thích ứng với từng tình
huống khác nhau. Đối với các thông tin khác đã đợc lợng hoá, thông thờng việc
xác minh đợc thực hiện trớc hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ. Kết quả cuối cùng
Lớp bồi dỡng kế toán trởng Trang6
Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
khi đã xác minh đợc điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các
bảng khai tài chính. Đối với các nghiệp vụ, chức năng xác minh của kiểm toán có
thể đợc thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt động
xác minh này thờng là những biên bản. Bên cạnh đó, kiểm toán nghiệp vụ còn đợc
mở rộng ở lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả hoạt động. ở lĩnh vực này kiểm toán h-
ớng vào việc thực hiện chức năng thứ hai là "bày tỏ ý kiến".
Trong chức năng xác minh của kiểm toán, một vấn đề đặt ra hiện nay là phát
hiện gian lận và vi phạm trong tài chính. Luôn có khoảng cách giữa mong muốn
phát hiện tất cả các gian lận và vi phạm với khả năng thực tế của tổ chức kiểm toán
cũng nh quan hệ giữa chi phí và hiệu quả kiểm toán. Về nhận thức, kiểm toán cần
tạo niềm tin cho những ngời quan tâm nên nói chung không cho phép có sai sót
trọng yếu trong đó có gian lận và sai sót lớn. Trong khi đó cũng có quan niệm kiểm
toán viên không có nghĩa vụ phát hiện tất cả các sai sót. Thậm chí có quan điểm
kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện sai sót và coi đây là trách nhiệm
của nhà quản lí.
Chức năng bày tỏ ý kiến cũng có quá trình phát triển lâu dài song chỉ thấy rõ
ở thời kì phát triển của kiểm toán chủ yếu vào cuối thế kỉ 20. Tuy vậy, cách thức
thực hiện chức năng này cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa
các nớc có cơ sở kinh tế và pháp lí khác nhau.
ở khu vực công cộng đều đạt đợc sự kiểm soát của Nhà nớc. Trong quan hệ này
chức năng xác minh của kiểm toán đợc thực hiện tơng tự nhau. Tuy nhiên chức
năng bày tỏ ý kiến lại rất khác nhau.
ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án nớc ngoài, khách thể bắt buộc của kiểm
- Các nhà đầu t cần có tài liệu tin cậy để trớc hết có hớng đầu t đúng đắn, sau đó
có điều hành sử dụng vốn đầu t và cuối cùng có tài liệu trung thực về phân phối
kết quả đầu t. Trong cơ chế thị trờng, do tính đa phơng hoá đầu t và đa dạng hoá
các thành phần kinh tế nên không chỉ có các nhà đầu t trong nớc mà còn có các
nhà đầu t nớc ngoài. Để thu hút vốn của các nhà đầu t và tạo cơ hội thuận lợi
Lớp bồi dỡng kế toán trởng Trang8
Chuyên đề cuối khoá Tống Hữu Hiếu ĐC40
cho việc sử dụng hợp lí mọi nguồn đầu t, cần có những thông tin trung thực và
khách quan về tình hình tài chính trớc hết và chủ yếu thông qua kiểm toán toàn
bộ các bảng khai tài chính về tài sản, thu nhập cùng các bảng thuyết minh kèm
theo.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí khác cần thông tin trung thực
không chỉ trên các bảng khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về
hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai
đoạn quản lí kể cả tiếp nhận vốn, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh và hoạt động quản lí...Những thông tin đó chỉ có đợc thông qua hoạt
động kiểm tnnoán khoa học.
- Ngời lao động cũng cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về
phân phối, về thực hiện chính sách tiền lơng và bảo hiểm...Nhu cầu đó chỉ có
thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán tài chính.
- Khách hàng, nhà cung cấp và những ngời quan tâm khác cũng cần hiểu rõ thực
chất về kinh doanh và về tài chính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số l-
ợng và chất lợng sản phẩm hàng hoá, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán,
hiệu năng và hiệu quả các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất ở đơn vị
kiểm toán.
Kiểm toán mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan.
Thứ hai, kiểm toán góp phần hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt
động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nói chung. Mọi
hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa
dạng, luôn biến đổi và đợc cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hớng các
kiểm toán nghiệp vụ và kiểm toán liên kết.
- Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán, có thể phân thành kiểm toán thông tin,
kiểm toán quy tắc, kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả. Theo phơng
pháp áp dụng trong kiểm toán, có kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng
từ.
Lớp bồi dỡng kế toán trởng Trang10