CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁM MẠCH MÁU
Mạch máu có tầm quan trọng lớn đối với hệ tuần hoàn và toàn thân. Mạch máu gồm động mạch,
tĩnh mạch, mao mạch, bïch mạch.
I – KHÁM ĐỘNG MẠCH
A- CÁC PHƯƠNG PHÁP LÂM SÀNG
1. Nhìn:
1.1. Độ lớn của chi: chi teo nhỏ trong trường hợp suy tuần hoàn ngoại vi mạn tính, có thể teo
cơ cẳng chân, cơ ở đùi cũng như mô dưới da.
1.2. Màu sắc của da:
- Màu vàng nhạt và hơi nóng là tuần hoàn bình thường, ở những người lao động chân tay nhiều,
các chi tiếp xúc với ánh mặt trời nhiều thì da có màu nâu nhạt và mặt láng, sờ vào cũng hơi
nóng.
- Da đỏ và nóng hơn trong trường hợp dãn động mạch.
- Da tím tái và nhợt, sờ vào thấy lạnh chứng tỏ tuần hoàn kém lưu thông chi bị thiếu dưỡng.
Ta có thể dùng nghiệm pháp sau đây để khám về rối loạn dinh dưỡng của chi: đưa một chi lên
cao trong 30 giây thì chi đó nhạt màu so với bình thường ở những người bị bệnh tắc động mạch,
tuỳ theo mức độ tắc, càng tắc nghiêm trọng thì màu sắc da của chi càng nhạt màu khi giơ lên
cao.
1.3. Trong các trường hợp có u mạch hoặc hồng động mạch, ta thấy một u trên đường đi của
động mạch, khám u này sẽ thấy:
- U mềm, đập theo nhịp đập của động mạch.
- Sờ có thể thấy rung miu nếu u to và ở thành các huyết quản lớn
1.4. Một số động mạch ở ngoài nông như động mạch thái dương, động mạch cánh tay, động
mạch quay, v.v… có trường hợp ngoằn ngoèo và nẩy đập nhịp nhàng nom như con giu n uốn
trên mặt da, những trường hợp này có thể thấy ở những người xơ cứng động mạch có huyết áp
cao.
1.5. Phát hiện chỗ loét hoặc hoại thư do thiểu dưỡng: trường hợp này xảy ra khi bị thiếu máu
tại chỗ làm cho các phần xa của chi (ngón tay, ngón chân, các móng) không được đủ dinh dưỡng
rồi bị loét, khô móng, rụng móng hoặc hoại thư từng đốt của ngón tay, ngón chân. Loại này chủ
yếu gặp trong bệnh viêm tắc động mạch và trong các trường hợp rối loạn thần kinh vận mạch
(bệnh Reynaud).
- Trường hợp bình thường: Ta đặt ống nghe vào động mạch, hơi đè nhẹ ống nghe, ta có thể
nghe được một tiếng nhỏ ở thì tâm thu, riêng ở các động mạch gần tim như động mạch chủ,
động mạch cảnh, động mạch dười đòn, ta còn nghe được tiếng thứ hai là tiếng lan của tiếng tim
thứ hai.
- Trường hợp bệnh lý: khi đặt ống nghe và ấn nhẹ vào động mạch ta thấy có thể nghe thấy một
tiếng thổi tâm thu ngắn. Cơ chế phát sinh tiếng thổi này là do dòng máu đi với tốc độ nhanh từ
chỗ hẹp ra chỗ rộng. Ta gặp tiếng thổi này khi nghe ở động mạch đùi của người bị hở van động
mạch chủ, trường hợp này vì hở van máu dồn về thất trái trong thì tâm trương nên đến mỗi thì
tâm thu, tim lại hoạt động bù bằng cách bóp mạnh dồn máu ra ngoại vi nên khi qua động mạch
đùi tới chỗ hẹp do ta ấn xuống thì phát sinh ra tiếng thổi.
Trong trường hợp cường tuyến giáp trạng ta nghe được tiếng thổi tâm thu khi đặt ống nghe ở
mặt tuyến vì do tuyến to ra và cường chức năng nên máu tới nhiều trong tuyến và chảy nhanh
nên ta nghe được tiếng thổi.
Trong các trường hợp có các lỗ thông động tĩnh mạch, ta nghe thấy một tiếng thổi liên tục vì
dòng máu xoáy đi qua chỗ thông và có sự thay đổi áp lực khi đi từ động mạch sang tĩnh mạch.
1.4. Đo áp lực máu động mạch (đo huyết áp): áp lực động mạch tình bằng chiều cao cột thuỷ
ngân. Sở dĩ máu chảy trong động mạch được là do là do khi tim bóp máu từ thất trái bị đẩy vào
động mạch dưới tác dụng của một áp lực khi tim làm việc tạo ra, đồng thời cũng do lực co bóp
của thành mạch làm cho máu tiếp tục lưu thông, kết quả của hai lực đó: lực đẩy của tim và lực
co bóp của thành mạch tạo nên một áp lực máu lưu thông gọi là huyết áp động mạch. Vì thế
ngay sau khi tâm thu, huyết áp động mạch cao nhất gọi là huyết áp tối đa; đến thời kỳ tâm
trương dòng máu tiếp tục chảy tới các mao mạch nhưng chậm hơn. Tuy tim không bóp mà máu
vẫn chảy được vì trong hệ thống mạch vẫn duy trì được một áp lực ở chừng mực nhất định
thắng được sức cản của thành mạch, đó là huyết áp tối thiểu.
PHƯƠNG PHÁP ĐO HUYẾT ÁP ĐỘNG
MẠCH
Có ba phương pháp đo:
+ Phương pháp sờ của Rivai. Rotxi
+ Phương pháp nghe của Korot Kow
+ Phương pháp giao động ký của Pachon.
nghe.
- Đo huyết áp động mạch bằng phương pháp nghe: cũng tiến hành buộc bao cao su của máy
đo huyết áp như đối với phương pháp sờ mạch nhưng ở đây dùng một ống nghe đặt vào
đường đi của động mạch ở nếp khuỷu ngay sát bờ dưới bao cao su. Khi ta bơm dần hơi vào bao
cho đến lúc không nghe tiếng đập qua ống nghe thì bắt đầu hạ áp lực trong bao cao su bằng
cách tháo hơi ra bời một ốc điều chỉnh cho đến lúc bắt đầu nghe thấy tiếng đập thì đọc kết quả
trên chiềucao cột thuỷ ngân, đó là số tối đa. Cứ tiếp tục tháo hơi ra, ta sẽ nghe thấy các tiếng
đập càng mạnh hơn, ang hơn, rốu đột ngột không nghe thấy tiếng mạch đập nữa hoặc chuyển
hẳn âm sắc tiếng đập xuống rất thấp, đó là áp lực tối thiểu.
Trong khi đó cần chú ý: phải phát hiện những khoảng im lặng trong khi nghe mạch đập. Ví dụ: khi
bơm hơi vào cho áp lực trong bao cao su lên quá huyết áp tối đa, ta tháo hơi ra, áp lực xuống,
đến mức 180 milimet chẳng hạn ta bắt đầu nghe thấy tiếng đập, nhưng từ 160 đến 140ml thuỷ
ngân, ta không nghe tiếng mạch đập nữa, rồi dưới mức 140ml thuỷ ngân, ta lại nghe thấy mạch
đập. Trong trường hợp này nếu không bơm cho cột thuỷ ngân cao trên 180mm thì ta tưởng 140
là số huyết áp tối đa nhưng thực ra số tối đa là trên 180mm. khoảng cách thừ 140 đến 160 gọi là
lỗ hổng khi nghe. Muốn tránh gặp trường hợp này, ta nên bơm cho áp lực vượt quá 22mm rồi
còn nghe tiếng mạch đập thì ta lại bơjm lên nữa.
Có trường hợp lỗ hổng này ở gần số tối thiểu, ví dụ ta đang hạ áp lực trong bao cao su xuống,
các tiếng đập đang rõ, đến 90mm ta không nghe thấy nữa nhung đến quãng 70mm – 60mmlại
nghe được. Trong trường hợp này nếu không tiếp tục nghe được tiếng đập thì tưởng huyết áp
tối thiểu là 90mm thuỷ ngân nhưng thực ra số tối thiểu là 60mm; khoảng cách từ 90 đến 70mm
gọi là khoảng cách im lặng trên số tối thiểu. Vì vậy muốn tránh các sai sót khi đo huyết áp ta nên
bơm cho thuỷ ngân lên cao gần hết cột và nghe mạch cho đến khi cột thuỷ ngân xuống tới mức
số không.
- Phương pháp đo huyết áp bằng giao động kế: (Hình 11).Khi cần biết áp lực từng đoạn động
mạch hoặc tìm độ dao động của thành mạch ở một đoạn chi (để phát hện có tắc mạch ở đoạn
đó không), người ta dùng dao động kế. Dao động kế gồm có một hộp kim khí trong đó có một áp
kế A1, rung động của áp kế chuyển đến kim K, kim ấy quay trên một mặt kính đ có chia độ. Hộp
kim và áp kế được nối liền nhau bởi ống o1 và với túi hơi bởi ống o2. một ống bơm b bơm hơi
vào cả hệ thống qua van v, một áp kế A2 cho biết áp lực của không khí bơm vào một ốc x dùng
tay độ 1cm . về độ dao động động mạch ở 1/3 dưới chân bằng ½ hay 2/3 dao động ở tay.
Đo huyết áp ở động mạch khoeo: đặt ống nghe ở hõm khoeo.
Kết quả: số tối đa hơn ở tay 2cm; số tối thiểu hơn ở tay 1cm. chỉ số dao động động mạch tương
tự như ở tay.
Đo huyết áp ở 1/3 dưới đùi: ở đây thường chỉ đo độ dao động mạnh và nó bằng độ dao động ở
tay.
Lợi ích của việc đo huyết áp từng nơi ta để xem động mạch tắc một phần hay tắc toàn phần,
chẩn đoán vị trí tắc của động mạch để quyết định chế độ điều trị.
B – KHÁM ĐỘNG MẠCH BẰNG DỤNG CỤ
1. Chụp động mạch sau khi ơm chất cản quang. Nguyên tắc giống như tron gphươn gpháp
chụp buồng tim và mạch lớn, dùng để xác định xem động mạch có bị tắc không, có bị đứt không
(ví dụ sau chấn thương); nếu tắc thì tắc ở đoạn nào, các nhánh bên phát triển tốt không? Từ đó
ta quyết định phương pháp điều trị.
Cũng nhờ chụp động mạch, người ta có thể phát hiện các u mạch, một túi phình độn gmạch
hoặc một u ở cạnh mạch đè ép làm cản trở tuần hoàn động mạch. Do đó người ta bơm thuốc
cản quang vào động mạch cảnh, chụp các nhánh của động mạch não để chấn đoán các bệnh
mạch máu não, u não,v.v….
2. Động mạch đồ: Người ta dùng một máy gọi là động mạch ký đặt vào rãnh mạch để ghi, dao
động của động mạch sẽ được ghi lên một biểu đồ, người ta sẽ phân tích hình dạng, biên độ của
động mạch đồ, để chẩn đoán một số bệnh.
II – KHÁM TĨNH MẠCH
A- KHÁM LÂM SÀNG
1. Nhìn:
- Tĩnh mạch nổi to và quăn queo ở chân trong trường hợp giãn tĩnh mạch.
- Cũng có trường hợp tĩnh mạch nổi to là biểu hiện thứ phát của một bệnh khác như:
+ Tĩnh mạch cổ nổi trong suy tim.
+ Các trường hợp xơ gan teo, chèn ép tĩnh mạch lớn, viêm tắc tĩnh mạch lớn bện trong,v.v… các
tĩnh mạch ngoài nông nổi lên và phát triển các nhánh bên ổ bụng gọi là tuần hoàn bàng hệ.
Người ta chia làm ba loại:
1.2. Tuần hoàn bàng hệ gánh chủ: Gặp trong bệnh xơ gan, máu trong tĩnh mạch gánh ứ lại đi
chọc vào tĩnh mạch, khi kim đã đưa vào tĩnh mạch, do áp lực tĩnh mạch tác dụng làm cho cột
nước thông với kim dâng lên cao, ta đọc kết quả bằng chiều cao cột nước đó.
4.2. Nghiệm pháp ấn gan: khi đo huyết áp tĩnh mạch xong ta để nguyên kim trong tĩnh mạch và
dùng gan bàn tay ấn đều và liên tục lên vùng gan. Ở người bình thường khi ấn như vậy, áp lực
máu tĩnh mạch xuống một ít rồi trở lại bình thường khi ta nhấc tay lên.
Ởngười suy tim, khi ấn gan, huyết áp tĩnh mạch tăng lên, sau đó trở lại dần trị số ban đầu khi bỏ
tay ra, nhưng trở về rất chậm, tim càng suy trở về càng chậm. Sở dĩ có hiện tượng này vì khi ấn
gan máu trở về nhĩ phải tăng lên nhưng tâm thất phải đã suy không đủ sức đẩy hết lượng máu
thêm ấy cho nên máu ứ ở nhĩ phải làm tăng áp lực ở đây và tiếp đó làm tăng áp lực trong các
tĩnh mạch chủ và huyết áp tĩnh mạch ngoại vi.
Trong khi ấn gan, chúng ta còn khảo sát phản xạ gan- tĩnh mạch cảnh: ở người bình thường khi
ấn gan làm tĩnh mạch cảnh nổi lên nhưng trở lại bình thường ngay dù ta tiếp tục ấn gan lâu (vì
thất phải đẩy máu đi nhanh). Trái lại ở người suy tim, khi ấn gan, tĩnh mạch cảnh sẽ nổi rất to và
nếu càng giữ ấn gan lâu, tĩnh mạch cảnh càng nổi hơn, sau khi bỏ tay ấn gan, tĩnh mạch cảnh
xẹp xuống dần lâu hơn, sau khi bỏ tay ấn gan, tĩnh mạch cảnh xẹp xuống dần nhưng lâu mới trở
lại mức bình thường.
Đây là những biện pháp đơn giản để phát hiện tình trạng thểu năng của cơ tim trong giai đoạn
chưa tăng huyết áp tĩnh mạch.
B- KHÁM TĨNH MẠCH BẰNG DỤNG CỤ
1. Chụp tĩnh mạch sau khi bơm thuốc cản quang: Dùng chất cản quang có iod tiêm vào tĩnh
mạch rồi chụp. Phương pháp này cho biết sự +phân bố các tĩnh mạch ở lớp nông cũng như lớp
sâu, phát hiện được những tật bất thường bẩm sinh hoặc hoặc hậu phát của hệ tĩnh mạch, phát
hiện chính xác những chỗ tắc của tĩnh mạch.
2. Tĩnh mạch đồ: Người ta dùng một máy ghi thật nhậy có thể ghi được tĩnh mạch đồ.