GIÁO TRÌNH
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG
I.Môi trường:
1.Các định nghĩa về môi trường:
Định nghĩa khái quát và phổ biến trên thế giới: “MT của một vật thể hoặc
một sự kiện là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có liên qun đến vậy thể và sự kiện
đó”. Bất cứ một vật thể nào hay sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một
MT nhất
điịnh, vì thế khi nói đến MT tức nói đến một vật thể, một sự kiện nhất
định. Khi nghiên cứu về các cơ thể sống, người ta đưa ra định nghĩa về MT sống
của các cơ thể sống, đó là “Tổng hợp các điều kiện bên ngoài có liên quan đến sự
sống và phát triển của các cơ thể sống đó”.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học MT
được nêu ra với chúng ta là “MT
sống của con người”.
2.Cấu trúc môi trường:
Theo các thành phần cơ bản, cấu trúc của MT được phân thành 3 thành phần
vật lý (vô sinh) và 1 thành phần sinh học :
+Thạch quyển (lithosphere)
+Thuỷ quyển (Hydrosphere
+Khí quyển (Atmosphere)
Do không khí và nước là các thành phần linh động, dễ biến đổi, luân chuyển,
lan truyền, tác động trong khu vực rộng lớn nên việc giám sát mức độ ô nhiễm của
chúng bắt buộc trong hệ thống GEMS (Global Environmnent Monitoring Systems -
2
CHƯƠNG 2: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
I.Khái niệm:
-Khí quyển bao quanh trái đất và rất cần thiết cho sự sống: oxy cần thiết cho
quá trình hô hấp của động thực vát, cacbonic cần thiết cho quá trình quang hợp,
nitơ là một trong những nguyên tố cơ bản của protein, ozon bảo vệ chúng ta khỏi
tia tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời.
-Tầng khí quyển ở độ cao khoảng 200 km phía trên bề mặt trái đất và được
chia thành 4 vùng chính (tầng
đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng nhiệt lưu).
-Thành phần không khí bao gồm:
+ đối với không khí khô : là hỗn hợp của nhiều chất khí khác nhau trong đó 2
thành phần chủ yếu là nitơ và oxy.
Ngoài ra trong không khí khô còn có bụi, vi khuẩn mà tỉ lệ nhiều ít phụ thuộc
vào điạ điểm, thời tiết,
+ đối với không khí ẩm : luôn có sự bay hơi nước từ các nguồn nước tự
nhiên nên trong không khí còn có thêm thành phầ
n : hơi nước, chiếm khoảng
0,47% thể tích.
- Theo TCVN 5966 – 1995, sự ô nhiễm không khí được định nghĩa là :”Sự có
mặt của các chất trong khí quyển, sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các
quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến
núi lửa, phân hu
ỷ phóng xạ và các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, sinh
hoạt của con người. Các khí cũng có thể được loại khỏi khí quyển bởi các phản ứng
hóa học, bởi hoạt động sinh học, bởi các quá trình vật lí diễn ra trong khí quyển
(như sự tạo thành các hạt) bởi sự sa lắng và sự thu hút của đại dương và đất.
Thời gian lưu trung bình của một phân tử khí sau khi được đưa vào khí
quyển có th
ể từ hàng giờ cho tới hàng triệu năm phụ thuộc vào chất khí cụ thể. Vì
vậy, để đánh giá tác động gây ô nhiễm của chúng cần phải xét đến chu trình chuyển
4
hóa của chúng từ lúc phát sinh cho tới khi bị loại khỏi khí quyển. Sau đây chúng ta
xem xét một số chất chính gây ô nhiễm môi trường không khí.
a. Các hợp chất có chứa lưu huỳnh (S):
Các hợp chất có chứa lưu huỳnh chủ yếu có trong khí quyển là : SO
2
, SO
3
,
H
2
S, H
2
SO
4
và các muối sunfat. Các nguồn tạo ra chúng chủ yếu là các quá trình
đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, sự phân hủy và đốt cháy chất hữu cơ chứa lưu
huỳnh, các hoạt động của núi lửa. Các hợp chất lưu huỳnh tồn tại trong không khí
một thời gian rồi sau đó lại sa lắng xuống đất hay các đại dương.
● Khí dioxyt lưu huỳnh SO
3
. quá trình này càng nhanh khí trong khí quyển có oxit nitơ và hidrocacbon
Sunfuatrioxit (trioxyt lưu huỳnh) được tạo ra từ SO
2
,
phản ứng ngay với
H
2
O tạo nên H
2
SO
4
kết hợp dễ dàng với các giọt sinh ra một dung dịch H
2
SO
4
.
Trong khí quyển có NH
3
hay các hạt NaCl thì Na
2
SO
4
. HCl sẽ hình thành. Như vật
SO
2
tồn tại trong khí quyển cũng chỉ được tính hàng ngày.
SO
Khí sunfua hidro là khí độc hại, không màu sắc nhưng có mùi khó chịu ( mùi
trứng thối ) được đưa vào khí quyển với những lượng rất lớn từ có nguồn tự nhiên
và nhân tạo. Khí H
2
S xuất hiện trong khí thải của các quá trình sản xuất có sư dụng
nhiên liệu hữu cơ chứa lưu huỳnh; các quá trình tinh chế dầu mỏ, tái sinh sợi hoặc
khu vực chế biến thực phẩm, xử lý rác thải. Một phần H
2
S phát sinh trong tự nhiên
bởi quá trình thối rữa của các chất hữu cơ dưới tác dụng của vi khuẩn từ rác thải,
cống rãnh, bờ biển, ao tù, hồ nước cạn, kể cả từ các hầm lò khai thác than, các vệt
núi lửa.
Trong không khí, 80% H
2
S bị oxi hóa thành SO
2
do oxi hoặc ozon.
H
2
S + O
3
= H
2
O + SO
2
Tốc độ phản ứng diễn ra trong điều kiện thời gian tồn tại của H
2
S với nồng
độ một phần tỉ khi tiếp xúc với O
3
từ quá trình cháy không hoàn toàn các nhiên liệu hóa thạch. Ngày nay, qua nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng nguồn phát sinh ra CO tự nhiên còn lớn gấp 10-15
lần nguồn CO nhân tạo.
Các nguồn phát sinh CO tự nhiên là:
Sự oxi hóa metan khởi đầu bằng phả
n ứng giữa metan với gốc HO
-
CH
4
+ HO
·
CH
3
·
+ H
2
O
Phản ứng này có hằng số vận tốc bằng 10
14
cm
3
/mol/s ở 25
0
C. Sau đó, một
chuỗi các phản ứng phức tạp khác diễn ra dẫn đến sự hình thành CO. Lượng CO từ
nguồn này gấp 10 lần lượng CO nhân tạo. Trong phần dưới của khí quyển, khi
nồng độ CH
4
vào khoảng 1,5ppm (theo thể tích), lượng CH
4
+ CO → HbCO + O
2
Ngộ độc nhẹ CO có thể để lại di chứng thiếu máu, hay quên. Ngộ độc nặng
gây ngất, lên cơn co giật, liệt tay chân và có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài ba
phút khi nồng độ vượt quá 2%. Thực vật khi tiếp xúc với CO ở nồng độ cao sẽ bị
rụng lá, xoăn quăn, cây non có thể chết yểu.
Nhung nếu nồng độ O
2
cao thì O
2
sẽ đẩy được CO ra khỏi Hb đưa về trạng
thái bình thường :
HbCO + O
2
→ Hb.O
2
+ CO
●Cacbon dioxit CO
2
:
CO
2
vốn có trong thành phần của không khí sạch, ngoài ra có thể được phát
sinh khi đốt cháy hoàn toàn nguyên nhiên liệu chứa cácbon và trong quá trình hô
hấp của động thực vật. Hàng năm, chỉ riêng trong quá trình chế biến và sử dụng
than đá, con người đã thải vào khí quyển 2.10
9
tấn CO
2
phát sinh qua các đốt cháy các nhiên liệu
ở nhiệt độ cao, qua quá trình sản xuất hóa học có sử dụng niơ; Trong tự nhiên, từ sự
oxyhóa nitơ của không khí do sét, khí núi lửa và các quá trình phân hủy vi sinh vật.
Trong các NO
x
thì NO và NO
2
được coi là những chất điển hình gây ô nhiễm
không khí. Cac oxit nitơ khác tồn tại trong không khí với nồng độ rất nhỏ và không
gây lo ngại về ô nhiễm. Tuy nhiên ở hạ tầng khí quyển thì N
2
O là oxit nitơ phổ biến
nhất, nó là sản phẩm của hoạt động sinh học, nó cũng là một nguồn tạo ra NO trong
tầng đối lưu, và bình lưu nơi có oxi nguyên tử tạo ra do sự phân li quang hóa của
O
3
:
N
2
O + O → 2NO
NO là khí không màu, không mùi, không tan trong nước. Khi xâm nhập vào
cơ thể nó có thể tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển
oxy của máu, dẫn đến bệnh thiếu máu.
NO
2
là khí có màu nâu nhạt, mùi hắc, có tính kích thích, dễ tan trong nước.
Khi xâm nhập vào cơ thể nó có thể tạo thành axit qua đường hô hấp hoặc tan vào
nước bọt, vào đường tiêu hóa sau đó vào máu, gây nguy hiểm cho cơ thể.
NO
x
+ O
2
NO
3
*
trạng thái kích hoạt.
NO
3
*
+ NO → 2NO
2
● Amoniac NH
3:9
Amoniac phát sinh chủ yếu được tạo ra từ nguồn tự nhiên qua các quá trình
phân chất hữu cơ của xác động thực vật; ngoài ra có trong thành phần khí thải của
các nhà máy sản xuất hóa chất, phân đạm, trong các hệ thống thiết bị làm lạnh có
sử dụng NH
3
. Trong môi trường không khí NH
3
có thể tham gia vào các quá trình
như: Hấp thụ lên các bề mặt ướt hoặc phản ứng với các chất có tính axit trong pha
khí hay pha ngưng tụ tạo ra ion amoni NH
4
+
ếu từ quá trình đốt cháy nhiên liệu như
than đá, dầu mỏ, gỗ; từ khí thải của các quá trình sản xuất của các nhà máy lọc dầu,
khai thác, chế biến và vận chuyển nhiên liệu hoặc từ nhiều ngành công nghiệp có
sử dụng dung môi hữu cơ hay các hợp chất hữu cơ như sơn, in, dệt nhuộm, công
nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm.
10
Nếu xét theo góc độ ô nhiễm không khí thì khả năng phá hoại của các hợp
chất hữu cơ trong khí quyển là do các sản phẩm tạo ra từ các phản ứng của chúng,
điển hình là sự tồn tại của các gốc tự do trong môi trường không khí hay hỗn hợp
khói quang hóa.
III. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí:
Có 2 loại nguồn gây ra ô nhiễm cơ bản đối với môi trường không khí nói
chung:
Nguồn ô nhiễm thiên nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo.
1.Ngu
ồn ô nhiễm công nghiệp : do các ống khói của các nhà máy thải vào
không khí nhiều chất độc hại, hoặc phát sinh từ quá trình công nghệ sản xuất do
bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất, các đường ống dẫn.
Nhà máy nhiệt điện : nhiên liệu than, dầu. Ô nhiễm lớn vùng xung quanh.
Xí nghiệp hoá chất:thải nhiều chất độc hại thể khí và thể rắn. Các chất khí
của nhà máy hoá chất thải ra kế
t hợp với các khí khác đôi khi tạo ra chất có độc
tính cao hơn nhiều.
Nhà máy luyện kim: rất nhiều bụi (kích thước to 10 - 100µm) phát sinh từ
công việc tuyển quặng, sàng lọc, đập nghiền; các hoá chất độc hại SO
2
, NO
X
i bếp đun thường
lớn và nếu đun trong phòng kín có thể gây tai hoạ đối với con người.
Cống rãnh và môi trường nước mặt, ao hồ, kênh rạch, sông ngòi bị ô nhiễm
cúng bốc hơi, thoát khí độc hại và gây ô nhiễm môi trường không khí. Ở các đô thị
chưa thu gom và xử lý rác tốt thì sự thối rửa, phân huỷ chất hữu cơ hoặc chôn ủ
không đúng kỹ thuật cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trườ
ng không khí.
Các khí ô nhiễm từ các nguồn thải sinh hoạt trên chu ryếu là khí metan CH
4
,
ure CO(NH
2
)
2
và mùi hôi thối, các khí này đã làm bẩn không khí khu dân cư ở đô
thị.
Quá trình gây ô nhiễm không khí xảy ra theo các bước sau :
- Phát sinh từ nguồn gây ô nhiễm (chất gây ô nhiễm hay tác nhân ô nhiễm)
- Phát tán, lan truyền trong khí quyển, khi này khí quyển chính là môi trường
rộng lớn với nhiều yếu tố động để xảy ra nhiều quá trình hóa học, hóa lý, hóa
sinh… của các chất gây ô nhiễm.
12
- Tác động đến bộ phận tiếp nhận là động thực vật, con người, các công trình
xây dựng, đồ vật
IV.Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới môi trường sống:
Một số các loại vi khuẩn gây bệnh tồn tại và truyền bệnh theo đường không
khí như: các loại trực khuẩn lao, bạch hầu, dịch hạch, tụ cầu vàng, ( tồn tại trong
không khí từ 3-70 ngày)
Hít thở không khí có chứa SO
hay ion, còn A
*
có thể coi như một hình thái hóa học hoàn toàn mới so với A
13
A
*
sau đó có thể tham gia vào các quá trình sau :
- Phản ứng tỏa nhiệt : A
*
→ A + E với E là năng lượng giải phóng
- Phản ứng phát huỳnh quang (phát xạ) : A
*
→ A + hυ
- Phản ứng khử hoạt tính do va chạm : A
*
+ M → M* + A
Năng lượng lượng của phần tử bị kích thích do phản ứng quang hóa được
chuyển cho phần tử khác, làm cho chúng trở thành kích hoạt, gọi là phản ứng trao
đổi năng lượng liên phân tử. Ngoài ra, năng lượng còn có thể trao đổi ngay trong
phân tử, làm biến đổi phân tử từ trạng thái kích thích này sang trạng thái kích thích
khác: A
*
→ A
1
*
- Phản ứng ion hóa: A
*
→ A
*
kích hoạt phân li tạo ra oxyt NO và oxy O nguyên tử có tính
oxyhóa rất mạnh, sẽ tiếp tục tác dụng với chất khác.
Đồng phân tự phát: Năng lượng dư trong các phân tử kích hoạt có thể làm
thay đổi các liên kết trong phân tử, tạo ra đồng phân.
Đặc điểm quan trọng của phản ứng quang hóa là có tính chọn lọc, vì quá
trình hấp thụ năng lượng của photon chỉ xảy ra với những phần tử nhất định thích
hợ
p có khả năng hấp thụ, cũng như mỗi photon chỉ có khả kích thích những phần tử
ở giai đoạn đầu tiên.
Nói chung phản ứng quang hóa ở hạ tầng khí quyển bị hạn chế, bởi lẽ không
có một bức xạ nào với bước sóng nhỏ hơn 290nm (bức xạ tử ngoại) đi tới được
tầng đối lưu. Ozon và một số chất trong tầng bình lư
u hầu như đã hấp thụ tất cả bức
xạ có bước sóng nhỏ hơn 290nm. Vì vậy, về mặt ô nhiễm không khí mà nói, những
chất hấp thụ được chú ý đến là những chất hấp thụ bức xạ điện từ có bước sóng
trong khoảng từ 300nm đến 700nm.
Các phản ứng quang hóa có vai trò quan trọng trong ô nhiễm không khí, vì
những sản phẩm của chúng (chủ yếu là các gốc tự do) có khả
năng khơi mào hoặc
tham gia vào một số lớn các phản ứng khác liên quang đến sự chuyển hóa của các
chất ô nhiễm sơ cấp thành chất ô nhiễm thứ cấp. Trong số các chất ô nhiễm sơ cấp
như NO, CO, NO
2
, SO
2
, hidrocacbon, thì chỉ có NO
2
là chất hấp thụ chính các
bức xạ có bước sóng phổ biến trong vùng hạ tầng khí quyển. Sau đây chúng ta xét
+
+ e → N
o
+ O
NO, NO
2
giữ vai trò quan trọng về hóa học của sự ô nhiễm môi trường
không khí. NO
2
rất bền với phản ứng quang hóa, chỉ với photon có bước sóng nhỏ
hơn 430nm mới tạo thành NO
2
*
kích hoạt. Ở bước sóng nhỏ hơn 398nm, NO
2
bị
phân ly quang hóa tạo ra NO và O:
NO
2
*
→ NO + O
NO và O tiếp tục tham gia vào quá trình phân hủy ozôn, NO cung có thể tiếp
tục phản ứng với gốc OH- trong nước mưa, tạo axit, rơi xuống tầng đối lưu theo
các phản ứng:
NO + HO
-
→ HNO
2
NO + H
3
+ NO
2
→ N
2
O
5
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, nếu trong không khí có NO
2
thì sự oxi hóa
SO
2
thành sunfat xảy ra rất dễ dàng; và chỉ cần một lượng nhỏ NO
2
*
kích hoạt cũng
đủ để khởi động chuỗi các phản phức tạp sinh sản ra hỗn hợp khói mù quang hóa.
3. Các phản ứng cộng trong hệ NO
x
, H
2
O, CO và không khí :
Một trong các đặc trưng của khí quyển vùng thành phố có chứa nhiều oxyt
nitơ là sự tạo thành lượng lớn ozon . Trong không khí còn có một loạt các phản ứng
khác có liên quan giữa NO
2
với hơi nước và CO.
16
2
+ NO
2
HNO
3
+ HNO
2
→ 2NO
2
+ H
2
O
Axit nitrơ được tạo ra theo phản ứng :
NO + NO
2
+ H
2
O → 2 HNO
2
Axit nitrơ hấp thụ bức xạ và thực hiện phản ứng quang phân với tốc độ nhỏ
bằng 1/10 tốc độ quang phân NO
2
:
HNO
2
+ hυ → NO + HO
.
.
+ CO → CO
2
+ H
+
H
+
+ O
2
+ M → HO
2
.
+ M
HO
2
.
+ NO → HO
.
+ NO
2
HO
2
.
+ HO
2
.
→ H
2
- Khi oxi nguyên tử tác dụng với parafin giải phóng gốc ankyl và HO
+
RH + O → R
+
+ HO
.
- Khi oxi nguyên tử tác dụng với olefin tạo ra một epoxit ở trạng thái kích
thích, epoxit này lại phân hủy thành hai gốc là ankyl và axyl :
R
1
R
3
R
1
R
3
C = C C = C
R
2
R
4
(1)
R
2
O R
4
.
với các hidrocacbon cũng tương tự như các
phản ứng của oxi nguyên tử với hidrocacbon, tuy nhiên thường nhanh hơn rất
nhiều, tạo ra gốc ankyl và nước .
RH + HO
.
→ R
.
+ H
2
O
Tốc độ phản ứng của một parafin thường tăng theo số nguyên tử hidro có
trong phân tử, đặc biệt nguyên tử hidro ở cacbon bậc 2 và 3.
Các phản ứng oxi hóa của ozon O
3
: Trong khí quyển, ozon bắt đầu được tạo
ra với lượng đáng kể khi nồng độ NO
2
đạt tới khoảng 25 lần nồng độ NO. Ozon là
chất oxi hóa không mạnh bằng oxi nguyên tử hay HO
.
. Nhưng với nồng độ bằng
hay lớn hơn 0,25ppm thì phản ứng giữa O
3
và olefin diễn ra với tốc độ đáng kể.
Những trường hợp nồng độ O
3
như vậy vẫn thường có ở trong không khí ô nhiễm.
Phản ứng quang hóa của các hidrocacbon chứa oxi trong không khí cũng là
một nguồn lớn tạo ra nhiều chất ô nhiễm thứ cấp. Trong khí thải của các động cơ
O
Phản ứng diễn ra với tốc độ khá nhanh nên phản ứng được coi như là một
quá trình quan trọng để loại andehit ra khỏi khí quyển.
Như vậy từ các phản ứng trên trong khí quyển thường tồn tại ba loại gốc tự
do là gốc ankyl R
.
, gốc axyl RCO. , gốc ankoxyl RO
.
(kể cả HO
.
). các gốc này có
hoạt tính cao nên có thể kết hợp ngay với oxi phân tử tạo các gốc peoxi :
ROO
.
gốc peoxiankyl (kể cả HO
2
)
RCOO
.
gốc peoxiaxyl
O
tiếp tục tạo ra gốc axylat R - CO
.
O
RO
*
+ NO → RONO (nitroankyl)
.
- Gốc RCH
2
O
2
.
tương tác với NO tạo ra NO
2
và gốc tự do do RCH
2
O
.
- Gốc RCH
2
O
.
tương tác với O
2
thạo thành anđenhit bền RCHO và gốc
HOO
.
.
- HOO
.
tương tác với NO khác cho ra NO
2
và HO
.
- HO
2
Khi không khí tiếp xúc với bức xạ Mặt Trời, SO
2
được hoạt hóa bởi bức xạ
trong hạ tầng khí quyển, kết quả dẫn tới một chuỗi các phản ứng kế tiếp liên quan
đến các phân tử SO
2
kích hoạt.
Khi có mặt hidrrocacbon hoạt động và các oxi nitơ thi tốc độ chuyển hóa
SO
2
thành SO
3
tăng rõ rệt. Ngoài ra, sự oxi hóa SO
2
trong các hệ này thường kèm
21
theo sự tạo thành sol khí. Việc giải thích cơ chế phản ứng phổ biến trong các hệ có
chứa đồng thời SO
2
, hidrocacbon, NO
X
, không khí và nước là một trong những vấn
đề quan trọng của hóa học ô nhiễm không khí. Chúng ta khảo sát hiện tượng oxi
hóa quang hóa SO
2
trong hai trường hợp là trong không khí sạch và trong không
khí có chứa hidrocacbon cùng các oxyt NO
X
,
và trạng thái có năng lượng thấp
1
SO
2
.
SO
2
+ M
1
SO
2
+ M
2
SO
2
+ M
(M : là một thành phần tiếp nhận năng lượng)
- Cơ chế chế oxi hóa SO
2
thành SO
3
trong không khí sạch được giải thích
dựa trên các phản ứng kế tiếp của hai trạng thái SO
2
,
1
SO
2
thì hằng số vận tốc tương ứng lớn hơn nhiều. Các công trình
nghiên cứu cho thấy cơ chế quan trọng nhất giữa
1
SO
2
và O
2
là :
1
SO
2
+ O
2
→ SO
3
+ O
Quá trình này tạo ra O nguyên tử
Sự oxi hóa quang hóa SO
2
trong hỗn hợp các hidrocacbon, NO
X
và không
khí:
22
Khi đưa hỗn hợp hidrocacbon, NO
X
vào không khí có lẫn SO
2
→ NO
2
+ O
2
NO
2
+ O
3
→ NO
3
+ O
2
NO
2
+ NO
3
→ N
2
O
5
N
2
O
5
+ H
2
O → 2HNO
3
HNO
O
ioxitkimloa
NOHC
X
),(
H
2
SO
423
HNO
3
và H
2
SO
4
cùng với HCl (thoát ra từ các nguồn tự nhiên và hoạt động
của con người) tạo nên sự ngưng tụ axit, là nguyên nhân chính của mưa axit.
-Tác hại : Mưa axit gây ra sự phá hủy tòa nhà và các tượng đài làm từ cẩm
thạch, đá vôi, đá phiến Những vật liệu này trở nên thủng lỗ chỗ và yếu đi về mặt
cơ học vì các muối sunfat tan được và tách ra ngoài nước mưa.
CaCO
3
+ H
2
SO
4
→ CaSO
Ozon có tính oxy hóa cao, có mùi đặc biệt, ở nồng độ lớn, ozôn cũng là chất
ô nhiễm, tác động xấu đến năng suất cây trồng ở gần mặt đất. Đối với con người
không thể vượt quá ngưỡng 0,05ppm. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy người
mắc bệnh lao, được điều dưỡng ở khu vực rừng thông với nồng độ ozon khoảng
0,11ppm, có thể khỏi bệnh.
Sự tạo thành ozon có thể lí giải là từ các quá trình phân li quang hóa của O
2
,
NO
x
, SO
2
, tạo ra oxy nguyên tử. các nguyên tử này lại tiếp tục hóa hợp với phân tử
oxi để hình thành phân tử ozon
O
2
, NO
x
, SO
2
+ hυ → O
O + O
2
→ O
3
24