Viêm tai giữa mạn tính
2. Viêm tai giữa mạn tính.
2.1. Đại cương.
Gặp ở mọi lứa tuổi.
Thời gian chảy mủ tai trên 3 tháng.
ảnh hưởng nhiều đến sức nghe (điếc dẫn truyền).
Biến chứng nguy hiểm.
2.2. Phân loại.
Hiện nay chia làm 2 loại:
Viêm tai giữa mạn tính mủ nhầy.
Viêm tai giữa mủ mạn tính (viêm tai giữa có tổn thương xương).
2.3. Viêm tai giữa mạn tính mủ nhầy.
2.3.1. Nguyên nhân.
Viêm tai giữa cấp tính chuyển thành: viêm mũi, họng là nguyên nhân
làm cho quá trình viêm tai giữa cấp tính chuyển thành viêm tai giữa mạn
tính.
Trẻ em: viêm V.A
Người lớn: viêm xoang, khối u đè ép vòi nhĩ.
2.3.2. Giải phẫu bệnh lý.
Tổn thương niêm mạc: vòi nhĩ, hòm nhĩ, màng nhĩ. Niêm mạc trở nên
dày (gấp 5-10 lần bình thường), đặc biệt các tế bào xương chũm làm ngừng
trệ sự lưu thông tế bào xương chũm về hang chũm.
Các tuyến nhầy quá phát và tăng tiết. Tạo nên sản phẩm là các chất
mủ nhầy không thối.
2.3.3. Triệu chứng.
Cơ năng: duy nhất có chảy mủ ở tai và chảy tăng lên, mỗi đợt viêm
mũi, họng. Mủ đặc trong hoặc vàng kéo dài thành sợi, không tan trong nước,
không thối.
Thực thể.
Lau sạch mủ quan sát thấy một lỗ thủng tồn tại 2 dạng hình quả đậu
Giải quyết u xơ vòm mũi họng.
2.4. Viêm tai giữa mủ mạn tính.
2.4.1. Đặc điểm.
Hay gặp biến chứng vì có tổn thương xương.
Hay có cholesteatome.
2.4.2. Giải phẫu bệnh lý: tổn thương niêm mạc ở hang chũm và
thượng nhĩ là chủ yếu:
Niêm mạc sần sùi nhiều nụ hạt thoái hoá thành polyp.
Lớp biểu mô ngoài bị mất.
Dưới lớp niêm mạc sùi là xương viêm, xương viêm ở hòm nhĩ có thể
lên trần thượng nhĩ, mê nhĩ.
Cholesteatome: là khối mầu trắng giống như bã đậu, gồm nhiều tế bào
biểu mô, lẫn các chất mỡ và cholesterin. Lớp màng bao phủ lên bề ngoài là
lớp biểu mô lát dính sát vào tổ chức liên kết mỏng có chứa men collagenase.
Nó có khả năng tiêu xương rất mạch. Khối cholesteatome phát triển đến đâu
phá huỷ xương đến đó. Có 2 loại khô và ướt (loại ướt thối).
2.4.3. Triệu chứng.
Cơ năng.
Chảy mủ tai, mủ đặc, loãng, vón cục màu vàng hoặc xanh đôi khi lẫn
máu. Mùi thối khẳn, cấy có nhiều vi khuẩn (yếm khí) vi khuẩn từ ngoài vào
qua lỗ thủng màng nhĩ.
Nghe kém: điếc dẫn truyền tiến triển nặng dẫn đến điếc hỗn hợp.
ù tai: như tiếng xay lúa, tiếng trầm.
Đau tai, đau tăng mỗi đợt hồi viêm
Thực thể.
Mủ: thối, tan trong nước, nổi váng khi có cholesteatome, màu vàng
xanh.
Quan sát lỗ thủng: thường ở góc sau trên, nhỏ, thường ăn sát khung
xương. Có trường hợp thủng toàn bộ màng nhĩ, cũng sát khung xương. Bờ lỗ
thủng xù xì, nham nhở, đáy lỗ thủng gồ ghề, quá phát.