1
ĐỀ TÀI
"Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và kết quả phẫu thuật vá nhĩ của viêm
tai giữa mạn tính"
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa mạn tính là quá trình viêm toàn bộ hệ thống hòm nhĩ-xương
chũm, không có bệnh sinh và căn nguyên đặc hiệu nào [10]. Thông thường người ta
nói viêm tai giữa trở thành mạn tính khi thời gian chảy tai của tai giữa kéo dài trên
ba tháng. Tuy vậy khoảng thời gian này không có tính chất cố định, chúng ta có thể
gặp những viêm tai giữa mạn tính ngay từ tháng thứ hai [42].
Đây là một bệnh còn phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới [14], [20], [42].
Theo nghiên cứu sơ bộ của ngành Tai Mũi Họng nước ta, ước tính có khoảng 5%
dân số bị viêm tai giữa các loại, chiếm khoảng 6-10% so với các bệnh tai mũi họng
[17]. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tai giữa ở một số phường ở Hà Nội là 8,9% [1]. Viêm tai
giữa mạn ở trẻ em là một bệnh có tần suất khá cao 6,86% [25]. Theo các tài trong
và ngoài nước, tỷ lệ viêm tai giữa khoảng 10% ở trẻ em [4], [24]. Theo thống kê tại
Viện Tai Mũi Họng biến chứng của viêm tai giữa chiếm 60% trong các bệnh cấp
cứu tai mũi họng [13].
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi nơi và có thể gây nhiều biến
chứng nguy hiểm đến tính mạng, nếu không được cứu chữa kịp thời đặc biệt là ở trẻ
em do sức đề kháng của trẻ yếu hơn: Viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch
bên, liệt mặt… [4], [10], [14], [15], [20], [42].
Viêm tai giữa gây chảy mủ tai kéo dài, ngoài việc gây giảm sức nghe làm
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, còn có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm
đến tính mạng.
Viêm tai giữa mạn tính có triệu chứng lâm sàng đa dạng và được chia làm 2
nhĩ trong chức năng nghe.
Phẫu thuật xương chũm được bắt đầu thực hiện từ thế kỷ 18 [4]. Năm 1980,
Stacke lần đầu tiên tiến hành mổ triệt căn từ sau ra trước. Sau đó Zaufal tiến hành
mổ triệt căn nhưng từ trước ra sau. Cuối cùng Schwartze đã hoàn chỉnh cách mổ.
Wolf thì mở rộng ống tai phía sau trên bắt đầu mở vào sào đạo, sau đó phát triển về
sào bào và thượng nhĩ. Còn Hautant thì bằng đường đục hình cánh cung, cùng một
lúc bào mỏng mặt ngoài các hốc trên để mở đường đi vào các hốc đó.
Trong gần 4 thập kỷ qua, đã có nhiều cải tiến làm phong phú thêm phương
pháp điều trị phẫu thuật tai xương chũm và tạo hình màng nhĩ.
Từ năm 1908 đã lần lượt xuất hiện các loại phẫu thuật bảo tồn, phẫu thuật tạo
hình màng nhĩ và sau đó trở thành thường quy vào thập niên 50 của thế kỷ trước [4],
[28]. Từ năm 1952, Wullstein (Đức) và Zollner (Đức) khởi xướng nguyên lý tạo
hình tai giữa vừa giải quyết bệnh tích, vừa tăng cường sức nghe. Năm 1956, House
đã hoàn chỉnh kỹ thuật lấy biểu bì và đặt mảnh ghép lên lớp sợi của phần màng nhĩ
còn lại, gọi là kỹ thuật Overley. Năm 1958, Heermann dùng cân cơ thái dương làm
mảnh ghép. Năm 1960, Shea đề ra một kỹ thuật đặt mảnh ghép là tĩnh mạch ở mặt
dưới màng nhĩ gọi là kỹ thuật Underley. Năm 1961, Stors hoàn chỉnh kỹ thuật
Underley với mảnh ghép là cân cơ thái dương và phổ biến khắp Hoa kỳ.
5
Năm 1962, Heermann dùng sụn nắp tai làm mảnh ghép [13], [28].
Năm 1957, Hall và Rytzner giới thiệu kỹ thuật cắt xương bàn đạp, dùng vật
liệu ghép tự thân là xương đe hay xương búa. Năm 1958, Shea sử dụng vật liệu thay
thế là ống polyethylen. Năm 1965, Guilford giới thiệu và phổ cập kỹ thuật chỉnh
hình chuỗi xương con bằng xương đe tự thân, kỹ thật này được áp dụng cho đến
hiện nay [5].
Năm 1967, Mer là người đầu tiên sử dụng ống nội soi để đánh giá cấu trúc
tai giữa [26].
Năm 1998, Bùi Minh Đức đã thực hiện vá nhĩ hoàn toàn qua ống nội soi [26].
Ngày nay, phẫu thuật tai giữa dưới sự hướng dẫn của nội soi cứng là một xu
hình màng nhĩ đơn thuần qua nội soi tại Bệnh Viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy phẫu thuật chỉnh hình màng nhĩ đơn thuần qua nội soi có nhiều
ưu điểm hơn so với kính hiển vi, nhờ khả năng quan sát lỗ thủng màng nhĩ qua nội
soi, vẫn có thể đánh giá đầy đủ, các tiêu chí cần thiết cho phẫu thuật viên [26].
Nguyễn Tấn Phong (2009) nghiên cứu nội soi chỉnh hình tai giữa trên hốc
mổ khoét chũm tiệt căn [37].
Lương Hồng Châu (2009) nghiên cứu kết quả phẫu thuật kín thì một trên
bệnh nhân viêm tai xương chũm có cholesteatoma, với hai mục tiêu: Nghiên cứu
tỷ lệ liền màng nhĩ ngay lần đầu tiên phẫu thuật trên bệnh nhân viêm tai xương
chũm có cholesteatom và nghiên cứu tỷ lệ tái phát cholesteatom sau phẫu thuật kín
thì 1 [8].
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
- Ở Pháp
Võ Quang Phúc (1993): Phẫu thuật vá nhĩ trên 82 bệnh nhân ở Bệnh Viện
Dieu-Nantes với kết quả giải phẫu sau 6 tháng là 92,2%, tăng sức nghe ở trẻ em là
5,6 ± 8,38 dB và ở người lớn là 14,5 ± 14,2 dB.
- Ở Mỹ
Bùi Minh Đức (1993) ở Caliofornia: Tác giả trình bày một số kinh nghiệm
trong việc chuẩn bị và theo dõi bệnh nhân trước và sau mổ vá nhĩ, các giai đoạn và
các kỹ thuật cần chú ý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mổ vá nhĩ.
7
Gersdorff-M (1995): Vá nhĩ có tỷ lệ thành công về giải phẫu là 87,7%, về sức
nghe là 67,2%. Tác giả đề nghị có thể mổ vá nhĩ phối hợp trên những tai còn ướt.
Perkins-R, Bui-HT (1996): Nghiên cứu phẫu thuật trên 113 bệnh nhân mổ vá
nhĩ, dùng mảnh ghép là cân cơ thái dương, cố định bằng formol, có kết quả 63%
bệnh nhân tăng sức nghe từ 0-10 dB, có 97% bệnh nhân tăng sức nghe sau mổ từ 0-
20 dB. Tác giả kết luận đây là phương pháp vá nhĩ có kết quả chức năng tốt và ít
biến chứng.
Lemon (1997) đã khảo sát trên 200 trường hợp bị viêm tai giữa tái phát nhiều
Hòm nhĩ giống một cái hộp dẹp có sáu thành, nằm trên mặt phẳng đứng dọc,
chếch từ trước ra sau. Hòm nhĩ được chia làm 2 tầng: Tầng trên gọi là thượng nhĩ
chứa chuỗi xương con, tầng dưới gọi là trung nhĩ [41].
1.2.1.1. Màng nhĩ
Vị trí và kích thước
Màng nhĩ là thành ngoài hòm nhĩ, màu trắng bóng, hình bầu dục đường kính
đứng khoảng 10 mm, đường kính ngang khoảng 8 mm [27], [28], [38]. Màng nhĩ ở
9
người trưởng thành nằm nghiêng và hợp với mặt phẳng của thành trên ống tai ngoài
một góc 140
0
[27], [38].
Màng nhĩ gồm 2 phần:
Phần trên gọi là phần chùng: Nhỏ, mỏng dính trực tiếp vào xương đá ở
khuyết nhĩ.
Phần dưới gọi là phần căng: Lớn, dày hơn phần chùng, bám vào rãnh nhĩ
bởi một vòng sụn sợi.
Hai phần này ngăn cách nhau bởi nếp búa trước và nếp búa sau. Mặt ngoài
màng nhĩ lõm do cán xương búa kéo vào trong, nơi lõm nhất gọi là rốn nhĩ. Ngoài
ra còn có bóng cán xương búa và mỏm ngoài xương búa. Hình 1.2: Màng nhĩ phải nhìn qua phểu soi [33]
1:
1/4
xương búa
Phần màng
chùng (1/4
trước trên)
Màng chùng
(1/4 sau trên)
Cán xương búa
Rốn nhĩ
Nón sáng
Một 1/4 trước dưới 1/4 sau dưới
11
1.2.1.2. Các xương con của tai
Gồm một chuỗi ba xương là xương búa, xương đe và xương bàn đạp nối
màng nhĩ với cửa sổ bầu dục. Các xương này dính vào thượng nhĩ bởi mạc treo và
dây chằng.
Hình 1.4: Các xương con của tai [33] Hình 1.5: Hòm nhĩ và chuỗi xương con (phải) nhìn bằng nội soi [61]
Xương búa
Xương đe
Thừng nhĩ
Xương bàn đạp
12
1.2.2. Vòi Nhĩ
Là một ống nhỏ nối liền hòm nhĩ với thành bên vòm mũi họng, dài khoảng
35 mm đi từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, đi từ hòm nhĩ đổ vào thành bên
họng bằng một miệng vòi hình loa (gọi là loa vòi), vòi nhĩ được lót bởi niêm
mạc liên tiếp với niêm mạc hòm nhĩ ở trên và niêm mạc vòm mũi họng ở dưới.
vào năng lượng bị mất khi rung động đi vào môi trường lỏng của tai trong.
Khi rung động đi từ môi trường không khí vào môi trường nước thì 99,9%
năng lực bị dội lại, chỉ có 0,1% là đi vào môi trường nước. Ở tai sự giảm năng lực
này làm mất 30 dB cường độ của âm thanh. Tuy nhiên, nhờ diện tích màng nhĩ lớn
hơn 20 lần diện tích cửa sổ bầu dục và hoạt động của chuỗi xương con như là một
đòn bẩy với tỷ số tăng cường lực là 1,3 nên đã bù lại được 30 dB đã mất nói trên.
Sự dẫn truyền sóng rung động được tiếp tục ở tai trong đến tận cơ quan corti.
Chức năng thứ hai của tai giữa là bảo vệ tai trong nhờ các cơ của xương búa,
xương bàn đạp và lớp đệm không khí trong hòm nhĩ.
Chức năng thứ ba là tạo ra sự lệch pha giữa của sổ bầu dục và cửa sổ tròn.
Những chức năng của tai giữa được thực hiện bằng sự hoạt động của màng
nhĩ, chuỗi xương con, các cơ xương búa, cơ xương bàn đạp và vòi nhĩ [41].
Xương chũm
Ống tai ngoài
14
1.2.4.1. Sự rung động màng nhĩ
Màng nhĩ rung động như một màng vi âm (microphone) khi bị tác động bởi
sóng âm và biến sóng âm thành rung động cơ học. Biên độ dao động rất nhỏ và thay
đổi tùy theo vùng: Vùng có biên độ lớn nhất là vùng dưới rốn và sau rốn. Sự rung
động này được chuyển trực tiếp vào xương búa vì cán búa dính liền vào màng nhĩ.
Diện tích rung động của màng nhĩ lớn gấp 20 lần so với diện tích cửa sổ bầu
dục, nhờ vậy cường độ của sóng âm được tăng lên 20 lần và biên độ giảm xuống.
1.2.4.2. Sự rung động của xương búa và xương đe
Chúng ta có thể coi xương búa và xương đe như một khối thống nhất, có
cách rung động giống nhau. Sự rung động được thực hiện theo hai trục khác nhau
tùy theo đặc tính của âm thanh.
Trục trước sau đi từ mỏm trước của xương búa đến trụ ngắn của xương đe
được sử dụng đối với âm trầm.
Trục trọng lượng đi từ mấu ngắn xương búa đến khớp đe đạp. Khối búa đe
rung động theo trục này khi nó bị kích thích bởi âm cao.
1.3. BỆNH HỌC VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH
Viêm tai giữa mạn tính là một bệnh còn phổ biến ở Việt Nam, gặp ở mọi lứa
tuổi, thể tiết dịch thường gặp chủ yếu ở trẻ em.
Nếu không được điều trị đúng cách sẽ làm ảnh hưởng đến sức nghe và có thể
đưa đến những biến chứng nguy hiểm.
1.3.1. Định nghĩa
Viêm tai giữa là quá trình viêm toàn bộ hệ thống hòm nhĩ-xương chũm,
không có bệnh sinh và căn nguyên đặc hiệu nào [10], [45]. Viêm của tai giữa có thể
bao gồm cả viêm xương chũm, đỉnh xương đá và các thông bào.
Đa số các tác giả cho rằng viêm tai giữa trở thành mạn tính khi thời gian
chảy tai kéo dài trên ba tháng. Tuy vậy khoảng thời gian này không có tính chất cố
định: Chúng ta có thể gặp những viêm tai giữa mạn tính ngay từ tháng thứ hai [42].
Theo Ủy Ban Viêm Tai Giữa của Viện Hàn Lâm Tai Mũi Họng Và Phẫu
Thuật Đầu-Cổ Hoa kỳ (1980), viêm tai giữa mạn tính là khi quá trình viêm xảy ra
sau hơn 3 tháng liền bị bệnh [10].
16
Theo WHO (1988) viêm tai giữa mạn tính khi chảy mủ tai kéo dài hoặc >2
tuần [13].
1.3.2. Nguyên nhân
Viêm tai giữa mạn tính có nhiều nguyên nhân và yếu tố thuận lợi [14], [24],
[28], [42], [45]:
Do viêm tai giữa cấp không được điều trị và theo dõi tốt.
Viêm tai giữa sau các bệnh nhiễm trùng lây: Như cúm, sởi.
Do tắc vòi nhĩ.
Viêm tai giữa do đặt ống thông nhĩ, chấn thương, áp lực.
Các yếu tố yếu tố thuận lợi:
Cấu trúc xương chũm: Loại xương chũm có nhiều thông bào, nhiều
niêm mạc lót trong các thông bào dễ bị hơn.
Độc tố của vi khuẩn.
Thể trạng, cơ địa bệnh nhân: Suy nhược, giảm sức đề kháng, mắc các
co giật, rối loạn tiêu hóa.
Cơ năng:
- Nghe kém tăng lên rõ rệt.
- Đau tai dữ dội, đau từng đợt, đau sâu trong tai, lan ra vùng chũm hay
lan ra cả vùng thái dương gây nên tình trạng nhức đầu.
- Ù tai, chóng mặt.
Thực thể:
- Chảy mủ tai thường xuyên hơn, thối hơn, có thể lẩn máu hoặc
cholesteatome.
- Vùng chũm sau tai nề đỏ, ấn có phản ứng đau rõ rệt.
- Soi tai: Lỗ thủng sát khung xương, có dấu hiệu sập góc sau trên rõ.
Viêm tai giữa mạn tính hồi viêm xuất ngoại
Tình trạng xuất ngoại có thể gặp trong viêm tai xương chũm cấp nhưng
thường gặp hơn trong viêm tai giữa mạn tính hồi viêm, khi mủ trong các xoang
chũm thoát ra ngoài các xoang chũm gọi là xuất ngoại.
18
Tùy vị trí mủ thoát ra mà ta có các thể xuất ngoại sau:
Xuất ngoại sau tai.
Xuất ngoại thái dương-gò má (thể Zygoma, hay gặp ở trẻ <12 tháng).
Xuất ngoại mỏm chũm (thể Bézold).
Xuất ngoại vào ống tai (thể Gellé).
Xuất ngoại nền chũm (thể Mouret).
Viêm tai xương chũm khó tự khỏi, bệnh kéo dài gây giảm sức nghe và có thể
gây nhiều biến chứng nguy hiểm đến tính mạng: Viêm màng não, áp xe đại tiểu
não, viêm tắc tĩnh mạch bên đây là những cấp cứu trong Tai Mũi Họng.
1.4. PHẪU THUẬT VÁ NHĨ
1.4.1. Chỉ định phẫu thuật vá nhĩ
Nhờ sự phát triển của các phương tiện vi phẫu thuật và sử dụng kháng sinh,
ngày nay người ta chủ động phẫu thuật để điều trị các viêm tai giữa mủ mạn tính,
trái hẳn với thái độ thụ động điều trị bằng nội khoa. Phẫu thuật tạo hình màng nhĩ,
bàn đạp hoặc bỏ xương bàn đạp hư hại, kèm theo ghép vá da vào hòm nhĩ và
vào cửa sổ bầu dục. Chỉ định cho trường hợp xương chũm bị tổn thương
nhiều, các tiểu cốt bị hư hết.
Kiểu Wullstein V: Khoét rỗng đá chũm toàn phần, rồi mở một cửa sổ ở ống
bán khuyên ngoài, sau đó ghép da vào hố mổ phủ lên cửa sổ mới mở. Chỉ
định trong trường hợp xương chũm bị tổn thương nhiều, các tiểu cốt bị hư và
cửa sổ bầu dục bị tắc không thể giải phóng được.
1.4.2. Các chất liệu dùng làm mảnh ghép
Màng nhĩ lành theo cơ chế di chuyển của các tế bào biểu mô thượng bì [11]:
Khi có thủng màng nhĩ, hoạt động phân bào không chỉ xảy ra ở mép lỗ thủng
mà còn ở toàn bộ màng căng, phân bào mạnh nhất ở khung nhĩ và 2 mm cách bờ lỗ
thủng màng nhĩ và hoạt động phân bào yếu nhất ở vùng cán xương búa. Sự di
20
chuyển tế bào đáy từ rìa lỗ thủng ra lỗ thủng là “Sự di chuyển tế bào đáy của biểu
mô thượng bì” giúp làm lành màng nhĩ.
Hiện tượng phì đại tế bào thượng bì màng nhĩ ở bờ lỗ thủng làm thu hẹp kích
thước lỗ thủng xảy ra khi có sự tăng sinh của các lớp của biểu mổ thượng bì, thuyết
khung nâng đỡ được thừa nhận và sử dụng trong dán vật liệu hay trong phẫu thuật
tạo hình màng nhĩ bằng các loại cân cơ, thành tĩnh mạch, màng sụn. Mảnh ghép có
tác dụng tạo khung nâng đỡ để lớp tế bào thượng bì bít dần lỗ thủng màng nhĩ.
Chất liệu được dùng làm mảnh ghép phải đáp ứng điều kiện sinh học sau[35]
- Phải mỏng, đàn hồi, không gián đoạn, 2 mặt nhẵn không tiếp xúc với
các thành phần khác của tai.
- Phải đảm bảo độ căng và mạch máu nuôi dưỡng có thể bò vào.
Các loại mảnh ghép dùng để vá nhĩ thường có 3 loại [13], [19], [28], [35]:
- Loại tự thân.
- Loại đồng chủng.
- Loại dị chủng.
- Ngoài ra còn có sử dụng vật liệu nhân tạo [23].
Trải qua nhiều năm nghiên cứu và áp dụng, hiện nay tại viện Tai Mũi Họng
-
Bình thường : 0-25dB
-
Điếc độ I : 26-40 dB
-
Điếc độ II : 41-70dB
-
Điếc độ III : 71-90dB
-
Điếc độ IV : >90dB.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 32 bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính, được phẫu thuật
vá nhĩ và tái khám sau 6 tháng, tại Bệnh Viện Trung Ương Huế.
Thời gian nghiên cứu: Từ 3/2007- 3/2009.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Các trường hợp được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính
Chảy mủ tai kéo dài >3 tháng [42].
Có thủng màng nhĩ.
X quang phim Schüllers: Giảm hoặc mất các thông bào xương chũm tai
được mổ [20].
Hiện tại tai được mổ đang ổn định:
Đo thính lực bằng máy.
Chụp phim Schüllers.
Làm các xét nghiệm trước mổ.
Tham gia cuộc mổ hoặc quan sát trực tiếp cuộc mổ để đánh giá các tổn
thương của tai giữa.
Theo dõi bệnh nhân giai đoạn hậu phẫu:
- Theo dõi bệnh nhân trong giai đoạn đang nằm viện.
- Theo dõi bệnh nhân giai đoạn xa sau mổ (sau khi ra viện 6 tháng).
Lập phiếu theo dõi bệnh nhân với các chỉ tiêu nghiên cứu thống nhất trước
và sau mổ cho tất cả bệnh nhân được chọn.
24
2.2.2. Phương tiện nghiên cứu
Bộ dụng cụ khám tai mũi họng thông thường.
Máy đo đơn âm tại ngưỡng.
Bộ dụng cụ vi phẫu tai.
Kính hiển vi phẫu thuật.
Khoan điện.
Phiếu điều tra.
Hình 2.1: Bộ dụng cụ vi phẫu tai
25
Hình 2.2: Khoan điện Hình 2.3: Kính hiển vi phẫu thuật