Bài Giảng Hợp Chất Màu Hữu Cơ - Chương 3 - Pdf 18


CHƯƠNG 3: CÁC PHẨM MÀU TỔNG HỢP
3.1. Phẩm màu Azo
Có chứa nhóm mang màu azo: - N=N- trong phân tử. Dựa vào số nhóm azo
có trong hệ mang màu của nhuốc nhuộm mà người ta chia ra các thuốc nhuộm:
→ Monoazo: Ar-N=N-Ar
'

→ Điazo: Ar-N=N-Ar
'
-Ar-N=N-Ar
''

→ Polyazo: Ar-N=N-Ar
'
-Ar-N=N-Ar
''
-
Trong đó Ar, Ar
'
, Ar
''
là những gốc hữu cơ có nhân thơm có cấu tạo đa vòng,
dị vòng rất khác nhau.
Thuốc nhuộm azo là lớp thuốc nhuộm quan trọng nhất và được sản xuất nhiều
nhất. Nó bao gồm hầu hết các loại thuốc nhuộm theo phân lớp kỹ thuật: thuốc
nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm bazic, thuốc nhuộm
cation, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm cầm màu, thuốc
nhuộm azo không tan và pigment.
3.2. Phẩm màu antraquinon
Trong phân tử có một hoặc nhiều nhân antraquinon hoặc các dẫn xuất của nó.

 Thuốc nhuộm antraquinon đa vòng
Thuốc nhuộm antraquinon chiếm vị trí thứ hai sau thuốc nhuộm azo. Nó bao
gồm các loại thuốc nhuộm cầm màu, thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm
cation, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm trực tiếp và
thuốc nhuộm hoàn nguyên đa vòng.
3.3. Phẩm màu indigoit
Là loại thuốc nhuộm trước đây có nguồn gốc thực vật đó là màu xanh sẫm
trích từ lá cây chàm. Khi hóa học thuốc nhuộm phát triển, dựa trên gốc thuốc
nhuộm inđigo có trong lá chàm, người ta đã tổng hợp được thuốc nhuộm
inđigoit với nhiều màu sắc phong phú bằng cách đưa thêm các nhóm thế vào
phân tử inđigo.
Gốc mang màu của loại thuốc nhuộm này có công thức:

X
C
C
O
C
C
Y
O

Trong đó : X,Y có thể là O, S, Se, NH,
3.4. Phẩm màu arylmetan
Là dẫn xuất của metan mà trong đó nguyên tử cacbon trung tâm sẽ tham gia
vào mạch liên hợp của hệ mang màu:
Ar-C=Ar
'
năng tạo phức nội phân tử với sắt có màu xanh lục thường được sử dụng làm
pigment, nếu tiến hành tạo phức với Cr
+3
sẽ cho màu gạch, với Ni
2+
và Zn
2+
cho màu vàng. Lớp thuốc nhuộm này ít có ý nghĩa thực tế.

3.7. Phẩm màu polymetyn
Có công thức tổng quát là Ar-(CH=CH)-CH=Ar
'
, trong đó Ar, Ar
'
tương ứng
phải có nhóm cho và nhóm nhận điện tử, chúng có thể là các vòng thơm như
benzen, naphtalen hoặc các gốc dị vòng như quinolin, piridin, indol, màu của
thuốc nhuộm phụ thuộc chủ yếu vào hai nhóm cho và nhóm nhận điện tử trong
hệ mang màu nhưng nhìn chung chúng đều có màu tươi, thuần sắc. Trong lớp
thuốc nhuộm này phần lớn là các thuốc nhuộm bazic, thuốc nhuộm cation, có
một số là thuốc nhuộm phân tán.

3.8. Phẩm màu lưu huỳnh
Là những thuốc nhuộm mà trong phân tử có nhiều nguyên tử lưu huỳnh. Gốc
mang màu của thuốc nhuộm thường là các nhóm có cấu tạo như sau:
S
H
N

HC

này ít được sản xuất và chỉ được sử dụng để nhuộm tơ axetat, tơ sợi tổng hợp
và in ảnh màu.3.11. Phẩm màu hoàn nguyên đa vòng
Hệ mang màu trong phân tử là các hợp chất đa tụ giữa antraquinon
(hoặc dẫn xuất) với các vòng dị thể khác, tạo nên mạch đa vòng. Hợp chất đa
tụ của lớp thuốc nhuộm này gồm các nhóm sau:
O
O
O
N
1,2-antraquinonoxazol
O
O
N
O
2,3-antraquinonaxazol

O
O
N
N
antraquinonpirazin

3.12. Phẩm màu phtaloxiamin
Hệ thống mang màu trong phân tử là một hệ liên hợp khép kín như
tetrazaporphin, phtaloxianin Đặc điểm chung của lớp thuốc nhuộm này là
những nguyên tử hydro trong nhóm imin dễ dàng bị thay thế bởi các ion
kim loại, còn các nguyên tử nitơ khác thì lại tham gia tạo phức với kim loại
Tetrazaporphin phtaloxianin


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status