Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 107
Ghi chú: Tổng sản lượng Kcal/m
2
/ngày hay là năng lượng tổng hợp của quá trình quang hợp.
Sản lượng nguyên (SLN) là năng lượng tích luỹ của cây trồng sau khi tiêu hao một phần năng
lượng cho quá trình hô hấp.
Qua bảng 6.1 chúng ta thấy, tỷ lệ giữa SLN và bức xạ mặt trời (Hiệu suất sử dụng bức xạ mặt
trời) ñạt 3,2 - 5,4%. Trong công tác tạo giống, các nhà khoa học cố gắng tạo ra các giống có
hiệu suất sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời cao. Thuật ngữ "kiểu cây" ñược Viện nghiên
cứu lúa quốc tế (IRRI) sử dụng từ khi tạo ra giống lúa thấp cây, lá ñứng, có năng suất cao,
hiệu suất sử dụng bức xạ cao là giống IR8. Ngày nay, hàng loạt các giống cây trồng có năng
suất cao ñược trồng rộng rãi khắp nơi ñều có "kiểu cây" sử dụng hiệu quả nhất nguồn bức xạ
mặt trời.
b) Bức xạ quang hợp (Photosynthesis Active Radiation) (PAR):
Là phần năng lượng bức xạ mặt trời mà thực vật hấp thụ ñể có thể quang hợp ñược.
Bức xạ quang hợp ñược chấp nhận ở các nước ASEAN và trên thế giới trong ñiều kiện chưa
có máy ño thực tế là bằng một nửa bức xạ tổng cộng. Chính xác hơn, M.K. Ross ñã ñưa ra các
hệ số chuyển ñổi từ trực xạ, tán xạ và bức xạ tổng cộng như sau:
PAR
S'
=
C
S
.ΣS'
PAR
C
S
từ 0,2 ñến 0,45
C
D
từ 0,5 ñến 0,80
C
Q
gần bằng 0,5
Ở Việt Nam, Viện khí tượng thuỷ văn (1989) ñã tính toán ñược bức xạ quang hợp cho các
vùng khí hậu như sau:
Bảng 6.2: Bức xạ quang hợp các tháng ở một số nơi
ðơn vị: Kcal/cm
2
/tháng
Tháng
ðịa ñiểm
I II III IV V VI VII VIII
IX X XI XII
Cả
năm
Hà Nội 2,8 2,6 3,1 4,3 7,1 7,0 7,6 6,9 6,3 5,4 4,3 3,9 61,4
Phủ Liễn 2,8 2,1 2,2 3,6 6,4 6,4 7,3 6,4 5,7 5,4 4,7 4,0 56,9
Vinh 2,3 1,8 2,6 4,3 6,8 6,8 7,6 6,3 5,1 4,1 2,6 2,6 53,1
Các loại cây trồng khác nhau, nồng ñộ CO
2
và ñiều kiện khí tượng khác nhau sẽ có trị số cũng
như khoảng cách ñiểm bù và ñiểm bão hoà ánh sáng khác nhau. Dựa vào yêu cầu về cường ñộ
ánh sáng với quang hợp người ta chia thực vật làm 2 nhóm:
- Cây ưa bóng: có ñiểm bù ánh sáng từ 500 - 1000 lux, ñiểm bão hoà ánh sáng từ 10.000 -
50.000 lux. Loại cây này có ñặc ñiểm thực vật học ñiển hình như lá rộng, mỏng, lớp cutin
mỏng, khí khổng lớn (Ví dụ: phong lan, cây họ ñậu, cà phê chè, tam thất ). Cây ưa bóng
thường có nguồn gốc ở vĩ ñộ cao. Cũng có loại cây có nguồn gốc nhiệt ñới hay á nhiệt ñới
nhưng do cư trú lâu dài dưới bóng các cây khác nên chúng trở thành cây ưa ánh sáng yếu. Cây
cà phê chè sống ở rừng thưa nhiệt ñới, quanh năm ñược tán rừng che phủ nên yêu cầu cường
ñộ ánh sáng chỉ bằng 1/2 - 3/4 cường ñộ ánh sáng tự nhiên. Nếu trồng ở ñiều kiện cường ñộ
bức xạ mặt trời cao thì hoa bị rụng nhiều, lá bị vàng hơn. Cây tam thất trồng ở cao nguyên
Bắc Hà (Lào Cai) yêu cầu cường ñộ ánh sáng không quá 500 lux. Mặc dù ở vùng trồng thời
tiết thường nhiều mây, rất ít ánh sáng nhưng người dân vẫn phải làm dàn che cho chúng.
- Cây ưa sáng: có ñiểm bù ánh sáng từ 3.000 - 5.000 lux; ñiểm bão hoà từ 50.000 - 100.000
lux. ðặc ñiểm thực vật có bản lá nhỏ, cutin dày, khí khổng bé (Ví dụ: cây gỗ dẻ, xà cừ, cam,
quýt ). Cây ưa sáng thường có nguồn gốc từ vùng nhiệt ñới.
Trong nông nghiệp, lợi dụng ñặc ñiểm ưa sáng, ưa bóng, người ta xây dựng cấu trúc rừng
nhiều tầng, trồng xen, trồng gối ðể tận dụng bức xạ mặt trời.
1.2. Ảnh hưởng của quang chu kỳ tới sinh vật
ðộ dài chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới ñời sống cây trồng, vật nuôi, ñặc biệt là tới sự
phát dục của chúng. Quan niệm ñầu tiên về quang chu kỳ ảnh hưởng tới cây trồng ñược
Garner và Alard (1920) phát hiện. Các tác giả nhận thấy cây thuốc lá Mariland Mamooth
không ra hoa vào mùa hè trong khi các cây trồng khác thì ra hoa ñược. Tuy nhiên khi ñưa
thuốc lá vào nhà kính ñể tránh băng giá thì ñến dịp Noel là thời gian có ñộ chiếu sáng ngắn
nhất chúng mới ra hoa. Ngày nay, người ta ñã phát hiện ra nhiều loại cây trồng có phản ứng
với quang chu kỳ như: lúa mì, spinat, bắp cải ra hoa trong ñiều kiện ngày dài. Lúa nước,
ñược ở các thời vụ trong năm.
Phản ứng quang chu kỳ của thực vật ñã ñược các nhà sinh lý thực vật nghiên cứu kỹ
cơ chế của chúng nhằm ngăn ngừa hay thúc ñẩy sự ra hoa. Người ta ñã phát hiện rằng, phản
ứng quang chu kỳ thực chất là cảm ứng với ñộ dài tối. Năm 1938, Hammer và Bonner ñã
nhận thấy cây ngày ngắn Xanthium nếu ngắt quãng thời gian tối bằng một thời gian chiếu
sáng ngắn thì cây không ra hoa, nhưng nếu ngắt quãng bằng thời gian tối ngắn trong pha sáng
thì cây ra hoa. Trailachyan ñã nêu học thuyết về hoocmon ra hoa. Theo ông, bản chất phản
ứng quang chu kỳ là do tác nhân kích thích sự ra hoa gọi là hoocmon ra hoa (florigen). Các
hoocmon này ñược hình thành trong những ñiều kiện chiếu sáng nhất ñịnh (Giáo trình sinh lý
thực vật).
Trong sản xuất nông nghiệp, người ta ñã ứng dụng phản ứng quang chu kỳ của thực
vật ñể ñiều chỉnh tỷ lệ ra hoa, làm tăng năng suất cây trồng. Ở vùng Nam Trung Bộ người
nông dân thường dùng ñèn thắp sáng ban ñêm ñể kéo dài quang chu kỳ giúp Thanh long ra
hoa nhiều và tập trung hơn, vì thế năng suất tăng lên ñáng kể. Vùng hoa nhài Sóc Sơn, Hà Nội
người nông dân cũng áp dụng biện pháp tương tự ñể nâng cao năng suất hoa nhài, cung cấp
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến chè… Việc nhập nội giống cây trồng trong nông
nghiệp, ứng dụng phản ứng quang chu kỳ giúp chúng ta lựa chon ñược những giống cây có
thể phát huy ñược tiềm năng năng suất của chúng trong ñiều kiện quang chu kỳ ñịa phương.
ðối với ñộng vật, một số loài cũng có phản ứng với quang chu kỳ thể hiện ở hoạt tính
sinh dục và tốc ñộ sinh trưởng. Cũng như thực vật, các loài ñộng vật có nguồn gốc ở vùng ôn
ñới có hoạt tính sinh dục mạnh vào mùa xuân khi ñộ dài ngày tăng. Ngược lại một số loài
ñộng vật có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới thì lại sinh trưởng và có hoạt tính sinh dục mạnh vào
mùa thu khi thời gian chiếu sáng rút ngắn dần.
1.3 Ảnh hưởng của chất lượng ánh sáng ñối với sinh vật
a) Ảnh hưởng ñối với thực vật
Chất lượng ánh sáng phụ thuộc vào bước sóng của các tia hay thành phần quang phổ
của bức xạ mặt trời. Các tia bức xạ tử ngoại chiếu xuống mặt ñất với hàm lượng rất ít sau khi
của gia súc, gia cầm. Thiếu ánh sáng các chất nội tiết của súc vật không sản sinh ñược.
Cường ñộ chiếu sáng yếu và thời gian chiếu sáng ngắn kìm hãm sự phát triển của lòng ñỏ
trứng và sự hình thành vỏ trứng, khiến cho khả năng ñẻ trứng của gia cầm bị giảm.
Ngoài ra ánh sáng còn có ảnh hưởng gián tiếp ñến trạng thái sinh lý của loài vật. Do ảnh
hưởng của các tia bức xạ sóng ngắn, các phân tử khí phân ly thành các ion mang ñiện, gây ra
cảm ứng của cơ thể, vì vậy thiếu ánh sáng, khí trời ẩm ướt thì súc vật mệt mỏi, khả năng làm
việc giảm sút.
Trong thành phần quang phổ bức xạ mặt trời, nhóm tia tử ngoại có tác dụng sinh lý
mạnh nhất ñối với ñộng vật. Người ta nhận thấy, các tia tử ngoại nhóm A (bước sóng λ = 0,32
- 0,39µ) gây ban ñỏ và tạo thành các sắc tố ở da.
Các tia tử ngoại nhóm B (λ = 0,28 - 0,32µ) có tác dụng kích thích hoạt ñộng các
steroid sinh học. Ðặc biệt, nhờ các tia nhóm này, tiền vitamin D biến thành vitamin D
3
theo
chiều hướng sau: (Esgosterin → 7.dehydrocolesterin (D
3
)
Vitamin D
3
kích thích quá trình ñồng hoá canxi và lân, giúp cho ñộng vật mau lớn, xương
cứng cáp. Người ta cũng nhận thấy, nhờ các tia nhóm B của bức xạ tử ngoại, các loại thức ăn
khô (cỏ, rơm) của ñộng vật nhai lại tích luỹ tiền vitamin D (esgosterin), sau ñó các vi sinh vật
dạ cỏ lại có thể biến esgosterin thành D
3
ñể cung cấp cho cơ thể.
Các tia bức xạ trông thấy còn có một tác dụng sinh lý quan trọng ñối với ñộng vật, ñó
là cảm giác màu sắc. Các tia ñơn sắc qua thuỷ tinh thể của mắt, hội tụ vào võng mạc, kích
thích các tế bào thần kinh gây nên cảm giác tâm lý về màu sắc. Vì thế người và ñộng vật có
thể nhìn ñược mọi vật, phân biệt ñược thế giới màu sắc ña dạng của thiên nhiên.
Nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học là nhiệt ñộ thấp nhất mà tại ñó cây trồng bắt ñầu ngừng
sinh trưởng. Trên thế giới, ở những vĩ ñộ cao có những loại thực vật và ñộng vật có thể sống
ñược ở nhiệt ñộ rất thấp. Ở vùng ôn ñới, các loại lúa mì, mạch sống ñược ở nhiệt ñộ -8
o
C ñến
-10
o
C. Ở vùng nhiệt ñới, nhiều loại cây trồng ñã bị chết khi nhiệt ñộ không khí xuống 3-4
o
C.
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả về nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học như sau:
Theo I. Trircôp (Nga), các cây ngũ cốc có nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học khoảng 10
o
C.
Theo L.N. Babusôkin (Nga), cây bông có nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học khoảng 13 - 15
o
C.
Nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học còn thay ñổi theo thời kỳ phát dục của cây trồng. Hầu
hết các loại cây trồng yêu cầu nhiệt ñộ tương ñối cao vào thời kỳ gieo hạt và ra hoa kết quả,
còn các thời kỳ khác yêu cầu ở mức thấp hơn. Theo nhiều tác giả, nhiệt ñộ tối thấp sinh vật
học của lúa ở miền Bắc nước ta là 10-13
0
C, riêng giai ñoạn trỗ bông là 18-20
0
C. Ðối với cây
ngô, nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học ở giai ñoạn từ gieo ñến mọc là 8-10
0
C; giai ñoạn trỗ cờ,
phun râu là 15-17
0
Nhiệt ñộ thấp làm cho ñộ nhớt nguyên sinh chất tăng lên, hàm lượng nước trong
nguyên sinh chất của tế bào thực vật giảm ñi, nồng ñộ dịch bào tăng lên, quá trình vận chuyển
nước và dinh dưỡng trong cây bị cản trở, gây nên hiện tượng co nguyên sinh, ảnh hưởng xấu
tới các quá trình sinh lý. Nếu nhiệt ñộ xuống dưới 0
o
C, nước trong gian bào bị ñóng băng lại,
giãn nở thể tích, gây nên hiện tượng dập vỡ tế bào, biến dạng tế bào chất, cây có thể bị chết.
b) Nhiệt ñộ tối cao sinh vật học:
Nhiệt ñộ tối cao sinh vật là nhiệt ñộ cao nhất mà tại ñó các hoạt ñộng sống của sinh
vật bị ngừng lại. Hầu hết các loại cây trồng, nhiệt ñộ tối cao sinh vật học ở vào khoảng 35-
45
o
C. Tuy nhiên cũng có một số sinh vật sống ñược ở nhiệt ñộ rất cao của vùng sa mạc hoặc
vùng có gió khô nóng nhiệt ñộ lên tới 45-50
o
C. Dưới ảnh hưởng lâu dài của nhiệt ñộ cao, thời
gian sinh trưởng của cây trồng bị rút ngắn lại, quá trình phát dục không bình thường làm giảm
năng suất và chất lượng.
Nhiệt ñộ cao xúc tiến quá trình thoát hơi nước bề mặt lá, nếu trong ñiều kiện ñất khô
hạn sẽ làm cây trồng thiếu nước, bị khô héo mà chết. Nhiệt ñộ cao làm tăng cường quá trình
hô hấp của thực vật, tiêu hao các chất dinh dưỡng tích luỹ trong cơ thể, dẫn ñến giảm sức
sống, dễ bị sâu bệnh. Nhiệt ñộ quá cao còn làm suy yếu sức nảy mầm của hạt và hạt phấn, gây
nên hiện tượng lép của các cây ngũ cốc. Bảng 6.3 và 6.4. là một số kết quả nghiên cứu về chỉ
tiêu nhiệt ñộ của cây trồng trong những ñiều kiện nhất ñịnh
c) Giới hạn nhiệt ñộ thích hợp của thực vật:
Giới hạn nhiệt ñộ thích hợp của thực vật là khoảng nhiệt ñộ thuận lợi nhất ñối với quá
-2 ÷ -3
Cà phê chè +1
Mận, táo, lê -1 Hồ tiêu +9
Quế, trẩu
-8 ÷ -10
Cao su +15
Chè Shane -5 Lúa +13
Dứa 0 Bông +14
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 113
Chè Ấn ðộ
0 ÷ -2
Khoai lang +14
d) Giới hạn nhiệt ñộ cận tối thấp và cận tối cao
Khoảng từ nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học ñến cận dưới giới hạn nhiệt ñộ thích hợp gọi
là giới hạn nhiệt ñộ cận tối thấp và khoảng từ cận trên giới hạn nhiệt ñộ thích hợp ñến nhiệt
ñộ tối cao sinh vật học gọi là giới hạn nhiệt ñộ cận tối cao. ðây là 2 khoảng nhiệt ñộ gây cản
trở ñối với sự sinh trưởng và phát triển. Trong những khoảng nhiệt ñộ này cây trồng sinh
trưởng, phát triển kém, nhiệt ñộ thấp là là yếu tố hạn chế trong khoảng nhiệt ñộ cận tối thấp
và nhiệt ñộ cao là yếu tố hạn chế trong khoảng nhiệt ñộ cận tối cao của chúng.
Ở nước ta, miền Bắc có một mùa ñông lạnh, nhiệt ñộ thấp ảnh hưởng ñến cây trồng
nghiêm trọng, nhất là các thời kỳ có sương muối. Ngược lại, vùng ven biển miền Trung có
gió lào khô nóng trong mùa hè, nhiệt ñộ cao thường gây cháy lá, khô héo do thoát hơi nước
mạnh, làm giảm năng suất hoặc thất thu nghiêm trọng ñối với một số cây trồng.
Bảng 6.6. Ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến tốc ñộ sinh trưởng chiều dài của rễ ngô
Nhiệt ñộ (
o
C) 4,4 10,2 15,8 19,0
ðộ dài của rễ (mm/ngày) 1,4 3,7 6,5 8,7
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 114Nếu nhiệt ñộ tiếp tục tăng lên nữa thì tốc ñộ dài ra của rễ càng nhanh, bộ rễ càng phát triển
mạnh. Tuy vậy nếu nhiệt ñộ cao quá sẽ kìm hãm sự phát triển của rễ.
Nhiệt ñộ ñất còn ảnh hưởng ñến hoạt ñộng của vi sinh vật trong ñất, nếu nhiệt ñộ ñất
thích hợp, vi sinh vật hoạt ñộng mạnh, quá trình phân giải các chất hữu cơ diễn ra nhanh,
cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng. Theo Prianhitnikov D.N. nhiệt ñộ ñất là một
nguồn năng lượng có vai trò trong việc huy ñộng các chất dinh dưỡng cho bộ rễ. Nhiệt ñộ ñất
còn ảnh hưởng ñến quá trình hút nước và các chất khoáng của cây trồng. Nhiệt ñộ ñất thích
hợp làm tăng khả năng hoà tan các chất dinh dưỡng trong ñất, làm tăng tính hoạt ñộng của
dung dịch ñất, giúp cho bộ rễ của cây trồng sử dụng dinh dưỡng một cách thuận lợi hơn.
Nhiệt ñộ ñất tăng lên thúc ñẩy quá trình thoát hơi nước của lá, tạo ra áp lực vận chuyển nước
và các chất dinh dưỡng trong cây nhanh, góp phần tăng cường quá trình trao ñổi chất trong
cây.
Nhiệt ñộ ñất cũng ảnh hưởng ñến hoạt ñộng của các loại sâu, bệnh hại cây trồng. Thường
nhiệt ñộ ñất thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cẩy trồng thì cũng thích hợp với sinh
trưởng và phát triển của sâu bệnh. Do vậy cần có những biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp
ñể tiêu diệt nguồn sâu bệnh trong ñất.
2.3. Ảnh hưởng của nhiệt ñộ tới quá trình phát dục của thực vật
Bt
1
Trong ñó: ETS : tích ôn hữu hiệu
B: nhiệt ñộ tối thấp (hoặc tối cao) sinh vật học
t
: giá trị nhiệt ñộ trung bình của giai ñoạn.
n: số ngày giai ñoạn phát dục
Tích ôn hữu hiệu là chỉ tiêu ổn ñịnh ñối với mỗi giai ñoạn phát dục hoặc cả chu kỳ
sống của thực vật. Dựa vào ñặc ñiểm này, Sugơlep ñã ñề nghị một công thức dự báo thời kỳ
phát dục của cây trồng như sau:
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 115
ETS
n =
t
- B
Trong ñó: n: số ngày hoàn thành giai ñoạn phát dục
t
: nhiệt ñộ trung bình giai ñoạn theo bản tin dự báo thời tiết dài hạn (
0
C)
ETS: tích ôn hữu hiệu (
0
C)
B: nhiệt ñộ tối thấp (hoặc tối cao) sinh vật học (
3. CHẾ ðỘ MƯA, ẨM
3.1. Nhu cầu nước của thực vật
Trong suốt thời gian sinh trưởng, cây cần rất nhiều nước. Nước hoà tan các chất dinh
dưỡng khoáng trong ñất ñể những chất này dễ dàng thâm nhập qua rễ và các mạch dẫn nuôi
dưỡng các bộ phận của cây. Nước thoát hơi qua bề mặt lá có tác dụng ñiều hoà nhiệt ñộ trong
cơ thể ñồng thời là ñộng lực của các dòng nước và dinh dưỡng tuần hoàn trong cây. Nước là
nguyên liệu của quá trình quang hợp ñể tạo ra các chất hữu cơ cấu tạo nên cơ thể và các sản
phẩm thu hoạch. Do nguồn gốc tiến hoá của thực vật trên cạn bắt ñầu từ dưới nước nên thực
vật ngày nay, mặc dù ñã khác xa tổ tiên của chúng, vẫn rất cần nước. Nước là môi trường ñể
thực hiện các phản ứng sinh hoá và các hoạt ñộng sinh lý của cây.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 116
Hàm lượng nước trong mô thực vật ñạt ñến 70-90% trọng lượng và như là một thành
phần quan trọng kiến trúc nên cơ thể thực vật. Nhờ nước, thế vươn dài, trải rộng của tán lá
ñược duy trì giúp thực vật dễ dàng tiếp xúc và ñồng hóa các yếu tố môi trường. Người ta ñã
tính toán ñược nhu cầu nước của cây trồng. Nhìn chung cây ñòi hỏi một lượng nước khổng lồ
gấp nhiều lần trọng lượng vật chất khô của chúng. Hệ số tiêu thụ nước của cây trồng là số
ñơn vị nước tiêu thụ ñể hình thành một ñơn vị chất khô.
Hệ số tiêu thụ nước của một số cây trồng như sau (FAO, 1991):
Lúa mì
Ngô
Kê
Lúa
Bông
Ðậu
không hút ñủ nước cây sẽ bị héo, có thể bị chết.
- ðộ ẩm không khí ở thời kỳ thụ phấn của cây ảnh hưởng tới sức nảy mầm của hạt phấn. ðộ
ẩm quá cao hoặc quá thấp ñều làm giảm sức sống của hạt phấn. Ở miền Bắc, một số cây trồng
bị ảnh hưởng của thời tiết ẩm ướt, mưa phùn rả rích vào mùa xuân (tháng II-III) không thụ
phấn, thụ tinh ñược làm thất thu hoặc giảm năng suất nghiêm trọng (như xoài, nhãn , vải ).
- ðộ ẩm không khí có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo quản nông sản. ðộ ẩm không khí
cao, hàm lượng nước trong nông sản lớn, phải phơi lâu, hạt dễ mọc mầm, các chất ñường,
chất béo bị phân giải làm giảm chất lượng hạt.
Rau, hoa quả ñược bảo quản tốt trong ñiều kiện ñộ ẩm không khí 80-90%. ðộ ẩm thấp thì rau
và hoa quả bị mất nước do bốc hơi mạnh, bị vàng úa, giảm chất lượng.
- ðộ ẩm không khí ảnh hưởng tới quá trình chín của quả và hạt. ðộ ẩm thấp thường thúc ñẩy
quá trình chín. Củ khoai tây sau khi thu hoạch phải ñể khô không khí một thời gian mới chín
sinh lý. Một số giống lúa mới thu hoạch phải xử lý kích thích mới nảy mầm.
- ðộ ẩm không khí cao còn ảnh hưởng tới sự phát triển của sâu bệnh. Ðối với gia súc, ñộ ẩm
không khí cao, chuồng trại ẩm thấp là ñiều kiện phát sinh nhiều loại bệnh như viêm phế quản,
viêm phổi, nhiễm trùng da .
- ðộ ẩm không khí ảnh hưởng tới sự phát dục của một số loài sinh vật. Mỗi cơ thể sinh vật
như những chiếc ñồng hồ sinh học, khi ñộ ẩm thay ñổi thì có thể nhận biết ñược. Một số sinh
vật chỉ thị với ñộ ẩm có thể cụp lá xuống khi ñộ ẩm quá cao hoặc quá thấp. Một số loài côn
trùng như chuồn chuồn, kiến, mối thường thay ñổi quy luật hoạt ñộng khi thời tiết thay ñổi.
ðặc biệt, ñộ ẩm, nhiệt ñộ hay quang chu kỳ là những nhân tố môi trường khiến cho côn trùng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 117
có thể bắt ñầu rơi vào hay kết thúc trạng thái tiềm sinh (trạng thái Diapause), trạng thái ngất
(trạng thái Anabiose).
3.3. Ảnh hưởng của chế ñộ mưa ñối với cây trồng
thể hiện ở những ñiểm sau ñây:
- Gió có ảnh hưởng về mặt cơ học ñối với cây trồng: dông bão hoặc gió mạnh có thể làm ñổ
cây, gãy cành, rụng lá, rách lá, khô ñầu lá. Gió có thể làm thay ñổi hình thái của cây, làm cong
thân và cành hoặc làm ñổ rạp những loại cây có thân mềm. Gió cũng thường làm cho các loại
cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, cây lâm nghiệp bị ñổ, gãy. Gió có tốc ñộ 60-70 km/h
có thể làm ñổ cây to trong rừng. Gió thổi một lực F trên một cây cao L(m) thì mômen (M) tạo
nên sẽ là M = F.L. Cây càng cao thì mô men càng lớn. Vì vậy cây to cần nghiên cứu trồng ở
ñộ cao thích hợp ñể chống ñổ. Các chỉ tiêu: chiều cao cây, diện tích lá, ñường kính thân, ñộ
sâu và ñộ toả rộng của rễ ñều liên quan ñến tốc ñộ gió. ðây cũng là tiêu chuẩn chọn giống
trồng ở các vùng và các vụ khác nhau.
- Gió kìm hãm sinh trưởng của cây vì thân cây bị vặn ñi vặn lại, cành lá va ñập vào nhau
nhiều ngày. Nghiên cứu về cây rừng của Becker cho thấy cây chịu tốc ñộ gió 10m/s thì tốc ñộ
sinh trưởng giảm 2 lần so với tốc ñộ gió 5m/s. Nghiên cứu của các tác giả trường ðHNNI cho
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 118
thấy, ở huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) gió to vào tháng X, XI thường làm cho cà phê chè
catimor trên các vườn ñồi ñều bị lay gốc, dập lá. ðặc biệt, sau khi bị lay gốc, cây cà phê
thường bị nấm lở cổ rễ thâm nhập, cây bị vàng lá, dần dần bị chết.
- Gió mạnh làm tăng lượng bốc hơi qua bề mặt lá của cây, cây có thể khô héo, mất cân bằng
nước. Tốc ñộ gió 2-3 m/s thì cường ñộ thoát hơi nước của cây lớn gấp 3 lần so với lúc lặng
gió.
- Gió ảnh hưởng ñến sự thụ phấn, thụ tinh của cây trồng. Nhiều cây trồng thụ phấn nhờ gió,
nếu gió quá mạnh sẽ không thụ phấn ñược hoặc làm hoa bị rụng. Gió nhẹ thổi phấn hoa rải
ñều, tỷ lệ ñậu quả cao hơn. Gió cũng là nguyên nhân gây ra lai tạp giống, nhiều loại giống quý
có thể bị lai tạp làm mất ñi những ñặc ñiểm tốt. Khi nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng cần
phải cách ly nghiêm ngặt ruộng thí nghiệm giống với các ruộng sản xuất khác. Gió cũng làm
phát tán hạt giống ñi xa, lan truyền cỏ dại, sâu bệnh từ nơi này tới nơi khác.
10 m 25 m 50 m 75 m 100m 125m 150m 175m 200m TB
L1 5,0 4,9 5,1 5,0 4,8 5,2 5,0 4,9 5,2 5,0
L2 2,2 2,5 3,2 3,0 3,7 3,8 4,2 4,5 4,6 3,5
L3 1,6 1,4 1,8 2,2 2,6 2,7 3,2 3,1 3,5 2,5
L4 1,6 1,5 1,7 2,1 1,9 1,8 2,3 2,1 2,4 1,9
Nguồn: ðoàn Văn ðiếm, Lê Quang Vĩnh (2000)
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Khí tượng Nông nghiệp 119
Ghi chú: (L1) không có ñai rừng; (L2) có ñai rừng thưa; (L3) , có ñai rừng nửa kín, kiểu mái
nhà; (L4) có ñai rừng nửa kín và ñai rừng bổ sung.
Ở vùng ven biển người ta trồng phi lao ñể chắn gió cát. Cây phi lao chịu mặn, lá nhỏ
khó ñổ, chịu ñược khô hạn và ngăn cản bão cát.
Muốn sử dụng gió phải khảo sát ñặc ñiểm, diễn biến của gió trong các tháng, các mùa vụ ở
từng vùng, trên cơ sở ñó mới có thể sử dụng hợp lý và có thể ñề ra những biện pháp phòng
chống gió nóng, gió lạnh, gió khô, gió bão cho từng loại cây trồng cụ thể.
Gió là một trong những nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Ưu ñiểm lớn của tài
nguyên năng lượng gió là không bao giờ cạn. Dự trữ năng lượng tổng cộng của gió trên trái
ñất lớn gấp chừng 5.000 lần năng lượng than ñá dùng trong một năm. Năng lượng gió hiện
nay mới chỉ ñược khai thác sử dụng chủ yếu trong nông nghiệp, như dùng ñể bơm nước, sản
xuất ñiện, xay bột hoặc chạy ñộng cơ của một số loại máy như máy chế biến thức ăn gia súc.
Gió có giá trị lớn ñối với công cuộc cơ khí hoá ngành chăn nuôi và trồng trọt.
5. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Anh, chị hãy phân tích ảnh hưởng của cường ñộ bức xạ mặt trời ñối với cây trồng ? phương
pháp nâng cao hiệu suất sử dụng bức xạ mặt trời ñể tăng năng suất cây trồng ?
o
C. Sương muối cũng có thể xuất hiện khi nhiệt ñộ không khí trên
dưới 5
o
C, nhưng nhiệt ñộ mặt ñất và lá cây có thể xuống thấp hơn không khí khá nhiều.
Sương muối thường xuất hiện vào ban ñêm khoảng gần sáng, khi mà mặt ñất bức xạ và nguội
lạnh ñi nhiều nhất. Do nhiệt ñộ quá thấp, hơi nước chứa trong không khí tiếp giáp với bề mặt lạnh
sẽ ngưng kết lại ở trạng thái băng, dưới dạng những hạt nhỏ như những tinh thể muối Sương
muối cũng có thể hình thành do hơi nóng, ẩm từ các lớp ñất sâu bốc lên. Do ñó mà sương muối
có thể thấy cả ở mặt trên lẫn mặt dưới lớp lá khô hoặc các vật khác.
ðiều kiện thích hợp nhất cho sự hình thành sương muối là những ñêm có gió mùa ðông Bắc,
trời quang mây, gió nhẹ. Do trời quang mây, bức xạ hữu hiệu của mặt ñất và các vật trên mặt ñất
ñược tăng cường, không khí luôn luôn ñược thay thế và hơi ẩm ñược bổ sung liên tục khi có gió
nhẹ. Sương muối hình thành nhiều nhất ở những nơi có ñộ ẩm vừa phải. Trong các thung lũng,
bồn ñịa nhiệt ñộ hạ thấp hơn các nơi khác nên sương muối dễ xuất hiện hơn so với sườn núi
hoặc ñỉnh ñồi. Sương muối thường xuất hiện với tần suất cao ở những nơi trơ trọc, không có
thảm thực vật và các sườn phía Bắc ñón gió mùa ðông Bắc.
Dựa vào nguyên nhân hình thành mà người ta có thể chia sương muối ra làm 3 loại:
- Sương muối bức xạ: Hình thành do mặt ñất bức xạ quá mạnh làm cho nhiệt ñộ mặt ñất giảm
xuống ñột ngột, nhiệt ñộ hạ xuống dưới 0
o
C. Loại này thường ñược hình thành khi trời quang
mây, gió nhẹ, ñộ ẩm không khí không cao lắm.
- Sương muối bình lưu: Là loại sương muối ñược hình thành khi có bình lưu lạnh tràn về làm
cho nhiệt ñộ không khí và mặt ñất hạ xuống nhanh chóng, phạm vi phân bố loại sương muối này
rất rộng.
- Sương muối hỗn hợp: Là sương muối ñược hình thành không chỉ do sự xâm nhập của không
khí lạnh mà còn do sự lạnh ñi vì bức xạ của mặt ñất. Sau những ñợt gió lạnh tràn về ñộ 1 – 2
ngày, nếu trời quang mây, gió nhẹ, nhiệt ñộ không khí tiếp tục giảm thấp, thì rất dễ xuất hiện
sương muối.
Sìn Hồ 0.04 1.6 4.8 4.4 1.0 0.04 11.9
2.
Tủa Chùa 1.0 0.3 1.3
3. ðiện Biên 0.1 0.3 0.4
4.
Cò Nòi 0.4 1.5 1.0 2.9
5.
Mộc Châu 0.6 2.3 2.0 0.2 5.1
6. Sơn La 0.3 1.1 1.2 2.6
7.
Bắc Hà 0.1 0.4 1.3 1.6 0.1 3.5
8.
Hoàng Liên Sơn 2.0 4.4 2.3 0.2 0.04 5.4
9. Hoà Bình 0.4 0.5 0.9
10.
Phó Bảng 1.3 2.3 2.3 0.6 0.1 6.6
11.
Trùng Khánh 0.04 0.8 2.2 2.5 0.3 5.8
12.
Ðình Lập 0.4 1.5 1.6 0.04 3.5
13. ðịnh Hoá 0.3 0.4 0.7
C : là hệ số phụ thuộc vào ñộ ẩm của không khí (bảng 7.2.)
Trị số C trong bảng chỉ thích hợp khi lượng mây từ 4/10 – 7/10 bầu trời, nếu lượng mây trên
bầu trời < 4/10 thì trị số tính ra phải ñược cộng với số hiệu chính là âm 2.
Bảng 7.2. Quan hệ giữa hệ số C và ñộ ẩm tương ñối của không khí
ðộ ẩm C ðộ ẩm C ðộ ẩm C
100 5,0 70 2,0 40 0,9
95 4,5 65 1,8 35 0,8
90 4,0 60 1,5 30 0,7
85 3,5 55 1,3 25 0,5
80 3,0 50 1,2 20 0,4
75 2,5 45 1,0 15 0,3
Nếu lượng mây > 7/10 bầu trời thì trị số tính ra phải ñược cộng thêm 2.
Nếu M và M’ ñều < - 2 thì khả năng xuất hiện sương muối sẽ là 100%.
Nếu M và M’ ñều > +2 thì không xuất hiện sương muối.
Nếu M > +2 và M’ < - 2 thì khả năng xuất hiện sương muối là 50%.
Lưu ý: Hệ số C phụ thuộc vào ñặc ñiểm ở ñịa phương nên cần phải xây dựng bảng hệ số C
phù hợp cho từng nơi. Theo lý thuyết nêu trên, chúng ta có thể ñề ra nguyên tắc chung của các
biện pháp phòng chống sương muối là giữ cho nhiệt ñộ mặt ñất không xuống quá thấp (dưới
0
o
C). Những biện pháp thường dùng là:
- Hun khói: Dùng rơm rạ, cỏ ẩm chất thành những ñống ở góc ruộng nơi ñầu gió, ñốt cháy âm
ỷ ñể tỏa ra nhiều khói nhằm hạn chế bức xạ hữu hiệu của mặt ñất.
- Tưới nước: Nhằm làm ñất ẩm thêm, tăng cường khả năng giữ nhiệt và ñộ dẫn nhiệt, nhờ ñó
nhiệt từ trong lòng ñất có thể truyền lên, làm tăng nhiệt ñộ mặt ñất. Ở những nơi ñất thấp có thể
bơm nước vào ruộng ñể hạn chế mặt ñất bức xạ mất nhiệt.
- Phủ ñất: Dùng rơm rạ, bèo, cỏ mục phủ lên mặt ñất ñể giảm khả năng bức xạ nhiệt khiến
cho ñất ñỡ lạnh ñi. Những vật phủ phải là vật có ñộ dẫn nhiệt kém.
- Chọn giống có khả năng chịu lạnh cao, ít bị tác hại của sương muối.
III
Tháng
IV
Tháng
V
Tháng
VI
Tháng
VII
Tháng
VIII
Tháng
IX
Tổng cộng
Tần số khô nóng cấp I
Thanh Hóa - 0,4 2,6 3,8 3,7 1,5 0,1 12,1
Vinh 0,2 1,2 5,2 7,2 7,1 5,9 0,4 27,2
Hà Tĩnh 0,3 1,0 5,4 7,3 10,1 6,4 0,6 31,6
ðồng Hới 0,5 1,5 4,9 7,3 6,8 5,2 0,7 26,9
Cửa Tùng 0,6 1,9 3,7 8,7 6,7 5,1 0,7 27,5
Tần số khô nóng cấp II
Thanh Hóa 0.0 0,0 0,0 0,3 0,3 0,0 0,0 0,6
Vinh 0,2 0,6 1,8 2,1 2,7 0,5 0,0 7,9
Hà Tĩnh 0,2 0,2 0,6 0,9 1,2 0,4 0,0 3,5
ðồng Hới 0,4 1,5 3,1 0,7 1,8 0,7 0,0 8,2
Cửa Tùng 0,2 0,8 1,0 3,0 1,0 0,4 0,0 6,4
Các tỉnh Bình - Trị - Thiên cũng là vùng có nhiều gió Tây khô nóng. ðặc biệt khu vực Quảng
Trị có ñèo Lao Bảo, nơi thấp nhất của dãy Trường Sơn hút luồng gió Tây khô nóng thổi thẳng
xuống vùng ñồng bằng, ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sản xuất Nông Lâm nghiệp. Về cường ñộ
và tần số, trung bình mùa hè quan sát ñược 25 – 30 ngày khô nóng cấp I, trong ñó có 7 – 8 ngày
lan trên diện rộng. Mặt khác, tác ñộng gián tiếp của các yếu tố khí tượng còn kéo theo làm khô
kiệt nước trong ñất, chua phèn và muối mặn ngấm lên mặt làm cho bộ rễ cây như bị ngâm trong
các dung dịch có nồng ñộ muối khoáng và a xít cao, cây trồng có thể bị chết.
ðể ñề phòng gió Tây Nam khô nóng, ñối với lúa xuân cần gieo cấy ñúng thời vụ, chăm bón
tốt cho lúa mọc khỏe, trổ sớm, tránh ñược nhũng ñợt gió khô nóng ñầu mùa. ðối với lúa mùa,
khi cấy cần giữ nước mặt ruộng cho mát gốc, bón thêm phân ñể làm tăng sức sống.
Các biện pháp phòng chống như phủ ñất, trồng xen, vun gốc có tác dụng làm giảm tác hại
của gió khô nóng. Việc trồng rừng chắn gió có tác dụng hạn chế tác hại của gió khô nóng vì một
mặt làm hạ thấp nhiệt ñộ, mặt khác tăng thêm ñộ ẩm của không khí.
Gió Lào làm cho sức khỏe của trâu, bò bị giảm sút, do ñó ảnh hưởng ñến năng suất lao ñộng.
Vì thế cần chú ý chăm sóc trâu bò trong mùa gió Lào thông qua việc bảo ñảm cung cấp ñầy ñủ
thức ăn, nước uống, giờ giấc làm việc hợp lý. Trên những vùng ñất trồng trọt và chăn nuôi cần
tạo ra nhiều hồ chứa nước và trồng rừng chắn gió. Vào thời kỳ cuối mùa ñông cần chọn một loại
cây trồng nào ñó vừa chịu hạn vừa sinh trưởng nhanh chóng, tạo lớp phủ thực vật cho các cây
trồng khác có giá trị cao hơn khi bắt ñầu vào mùa gió Lào.
3. HẠN HÁN
3.1. ðiều kiện hình thành
Hạn là một hiện tượng tự nhiên ñược coi là thiên tai, bởi nó gây ra sự thoát hơi nước mặt lá
và bốc hơi mặt ñất mạnh, phá vỡ cân bằng nước trong cây, ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sinh
trưởng, phát triển của cây trồng. Dựa vào nguyên nhân gây ra hạn mà có thể chia ra làm hai loại
là hạn ñất và hạn không khí
a) Hạn ñất
Hạn ñất xảy ra khi trời không có mưa một thờì gian dài, nhiệt ñộ cao kéo theo sự bốc hơi lớn
của mặt ñất. Tình trạng trên gây ra sự mất cân ñối giữa lượng nước cây cần với lượng nước ñược
cung cấp từ ñất dẫn ñến cây héo, năng suất cây trồng bị giảm sút hoặc có thể chết.
Hạn ñất ñược xác ñịnh bởi thời tiết khô, nóng kéo dài từ 15 – 20 ngày trở lên. Trong thời gian
HTC = 0,5 – 0,6 hạn trung bình
HTC = 0,4 – 0,5 hạn nặng
HTC < 0,4 hạn rất nặng
Áp dụng công thức này ở Việt Nam, Trung tâm khí tượng nông nghiệp ñã ñưa ra công thức:
R
K
0,16 t
∑
=
∑
Hệ số 0,16 là hệ số thực nghiệm thường dùng cho vùng nhiệt ñới.
Nếu K = 1 – 2 thì không hạn, là những vùng ẩm ướt
K = 0,5 – 1,0 là vùng bắt ñầu có dấu hiệu hạn
K< 0,5 là vùng hạn
b) Hạn không khí
Hạn không khí xảy ra khi ñộ ẩm không khí quá thấp, nhiệt ñộ cao và gió mạnh. Hạn không
khí thì ñất có thể vẫn ñủ ẩm nhưng các bộ phận của cây trên mặt ñất thoát hơi nước nhiều dẫn ñến
bộ rễ không kịp hút nước cung cấp cho quá trình bốc hơi mặt lá và kết quả là cây bị khô héo.
ðể ñánh giá hạn không khí có thể dùng chỉ số hạn không khí của Subebinler: ðối với hạn
không khí, ñể xác ñịnh cường ñộ hạn cần phải tính ñến khả năng bốc hơi, ñộ ẩm tương ñối, nhiệt
ñộ hoặc ñộ thiếu hụt bão hòa hơi nước (d) của không khí cũng như vận tốc gió. Khi nghiên cứu
về bản chất của hạn không khí, Subebinler nhận thấy rằng hạn không khí xảy ra khi d = 20 mb và
ñưa ra bảng chỉ số hạn sau:
Bảng 7.4. Chỉ số khí tượng của các loại hạn không khí
ðộ thiếu hụt bão hòa (d) lúc 13 h
Hạn không khí
và ∆
R
là chuẩn sai nhiệt ñộ và lượng mưa so với chuẩn trong thời
kỳ nghiên cứu, δ
T
và δ
R
là ñộ lệch chuẩn tương ứng.
Khi S ≥ 2,0 xuất hiện hạn không khí
S ≥ 3,0 hạn nặng
Chỉ số hạn S còn ñược xác ñịnh theo diện, nếu ∆
R
, ∆
T
và S tính theo diện tích ñạt tỷ số:
1 – 10%: Hạn cục bộ
11 – 20%: Hạn rộng
21 – 30%: Hạn rất rộng
31 – 50%: Hạn nghiêm trọng
> 50%: Hạn thiên tai
3.2. Phân bố hạn và biện pháp phòng chống.
Ở Miền Bắc, do tính thất thường của chế ñộ mưa nên hạn là hiện tượng khá thường xuyên. Ở
vùng ñồng bằng Bắc Bộ, hạn hay xảy ra vào vụ ðông Xuân trùng với mùa ít mưa, lượng mưa
trung bình tháng chỉ khoảng 20 – 30 mm, có những giai ñoạn liên tục nhiều ngày không có mưa.
Trong vụ mùa, vẫn có khả năng xảy ra hạn mặc dù là mùa mưa. Hạn ở thời ñiểm này gây thiệt hại
nghiêm trọng vì nhiệt ñộ cao, bốc hơi nước mạnh làm cho cây bị tàn lụi nhanh chóng.
Qua nghiên cứu cho thấy hạn vào thời kỳ lúa làm ñòng năng suất có thể giảm 30%, hạn vào
lúc lúa trổ bông phơi màu, năng suất có thể giảm tới 40 – 50%, còn hạn vào lúc lúa ñang ngậm
IV nhiều vườn cà phê, cây ăn quả ñã bị hạn làm cháy khô. Các ao, hồ, sông, suối và các mạch
nước ngầm ñều cạn kiệt, không còn nguồn nước phục vụ sản xuất.
Hạn hán còn có nguyên nhân từ hoạt ñộng của El Ninô (xem chương IX). Nghiên cứu về hạn
hán ở Việt Nam cho thấy, trong 50 năm hạn trên diện rộng vào vụ ñông xuân chiếm 22%, vụ hè
thu chiếm 12%. Trong ñó trên 60% hạn ñông xuân và trên 80% hạn hè thu có liên quan ñến El
Ninô. Các vụ ñông xuân 1962 – 1963, 1976 – 1977, 1982 – 1983, 1997 – 1998 và các vụ hè thu
1963, 1977, 1983, 1993 và 1998 là các năm có El Ninô ñặc biệt bị hạn nặng.
ðể phòng chống hạn hán, biện pháp chủ yếu là bảo vệ nguồn nước và giữ ẩm cho ñất ngay từ
ñầu mùa khô. Vào ñầu mùa khô cần triển khai một số biện pháp chống hạn như xới xáo ñất ñể
hạn chế bốc hơi, che phủ cho ñất bằng rơm rạ, cỏ mục, bèo hoặc nilon ñể giữ ẩm Ở những nơi
hạn thường xuyên xảy ra trên diện rộng, nên trồng các ñai rừng ñể cải thiện ñiều kiện khí hậu.
Các ñai rừng có tác dụng cản gió, giảm bốc hơi của ñất, hạ thấp nhiệt ñộ và tăng thêm ñộ ẩm.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Quang Vĩnh (2000), phía sau dải rừng ứng với khoảng cách bằng
30 – 40 lần chiều cao của dải rừng, tốc ñộ gió giảm từ 20 – 60%, ñộ bốc hơi giảm 40%, nhiệt ñộ
hạ thấp hơn 0,5 – 1,5
o
C và ñộ ẩm không khí cao hơn 0,5 – 1,5 mb so với không có rừng chắn.
Bởi vậy, rừng có tác dụng rất tốt trong việc chống hạn.
Ở các vùng ñồi núi nên xây dựng các hồ tích chứa nước ñể chủ ñộng trong việc tưới tiêu cho
các loại cây trồng. Những vùng hạn hán khá gay gắt như Tây Nguyên, ven biển Trung Trung Bộ,
Nam Trung Bộ cần áp dụng các biện pháp bảo vệ nguồn nước ngay từ ñầu mùa khô như ñắp
ñập giữ nước, ñóng cống tiêu nước kịp thời, che phủ nilon trên mặt hồ nước, sử dụng tiết kiệm
các nguồn nước Vùng ñồng bằng nên có hệ thống kênh mương hợp lý ñể có thể dẫn nhập ñược
các nguồn nước một cách thuận lợi, nhất là vào mùa khô hạn.
4. LŨ LỤT
Lũ lụt là chỉ hiện tượng nước sông dâng lên do mưa lớn ñầu nguồn, nước lũ ñổ về mạnh
hoặc do vỡ ñê, tràn ñê làm ngập hết cả các vùng thấp. Lũ lụt gây ra hiện tượng úng ñối với cây
trồng.
Úng cũng thường xảy ra trong mùa mưa, khi mưa quá nhiều hoặc mưa lớn tập trung trong
1997 64 243 961 23 759 15 115 600,0
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu KTTV (2000)
Tại miền Trung, năm 1999 do mưa lớn trên diện rộng ñã gây ngập lụt các tỉnh từ Huế ñến
Bình ðịnh, làm nhiều người chết, nhiều người mất nhà cửa. ðồng bằng sông Cửu Long cứ 3 -4
năm lại xảy ra lụt lớn, ñiển hình lụt lớn như các năm 1961, 1966, 1978, 1996, 2000
Úng gây thiệt hại cho mùa màng chủ yếu là do ñất bão hoà nước, ñất thiếu oxy, hạn chế
các quá trình hấp thụ của rễ, làm cho rễ cây bị ủng thối rồi chết. Nếu trong ñất thiếu oxy, thì quá
trình oxy hoá bị ngừng trệ, quá trình yếm khí chiếm ưu thế có thể tạo ra những chất ñộc ñối với
rễ. Lá và thân cây bị ngập nước cũng làm tê liệt các chức năng quang hợp, hô hấp. Nước ngập lâu
ngày, tuỳ loại cây có thể bị chết hoặc giảm thu hoạch.
4.2. ðặc ñiểm lũ lụt ở nước ta và các biện pháp phòng chống lụt và úng.
Hàng năm mùa lũ diễn ra khác nhau ở các vùng. Tùy theo ñiều kiện ñịa lý tự nhiên và thời
tiết mà lũ ñến sớm hay ñến muộn. Mùa lũ ở các vùng thường xảy ra như sau:
• Vùng Bắc Bộ và Bắc Thanh Hóa: từ tháng VI ñến tháng X.
• Vùng ven biển từ Nam Thanh Hóa ñến Hà Tĩnh: từ tháng VII ñến tháng XI.
• Vùng ven biển từ Quảng Bình ñến Ninh Thuận: từ tháng IX ñến tháng XI.
• Vùng Nam Bộ và Tây nguyên: từ tháng VII ñến tháng XI.
Biện pháp căn bản ñể chống úng là ñiều tiết nước, làm thuỷ lợi tốt ñể chủ ñộng ñược nước
tưới, rút nước kịp thời khi úng sẽ khắc phục ñược tình trạng thất thường của chế ñộ mưa.
Xây dựng công trình thuỷ lợi trên các sông lớn, xây hồ chứa nước, nạo vét lòng sông, củng cố bờ
ñê, ñắp thêm một số ñê phụ.
Ðối với kỹ thuật trồng trọt, phải chú ý ñến ñộ cao luống ñất, gieo hạt giống trên khu ñất
cao thích hợp, bố trí giống cây ngắn ngày, gieo trồng ñúng thời vụ ñể thu hoạch trước khi có úng
lụt, hoặc khi bị úng cây ñã sinh trưởng tốt, có khả năng chịu ngập úng. Sau khi bị úng phải rửa
ñất bùn, hoặc phù sa bám vào thân lá, tăng cường chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
5. MƯA ðÁ
Bắt ñầu từ tháng III, tháng IV chiều tối thường có dông xảy ra. Thời tiết trong dông
thường thấy có sấm chớp kèm theo gió mạnh, mưa rào, ñôi khi có mưa ñá. Sấm sét trong dông
chính là sự phóng ñiện của những ñám mây dày ñặc, phát triển rất cao gọi là mây dông. Loại mây
này có thể hình thành do các nguyên nhân sau:
- Do không khí nóng, ẩm bốc lên cao vì bị không khí lạnh, nặng hơn tràn tới ở bên dưới.
- Do không khí nóng, ẩm trượt lên theo sườn dốc ñồi, núi. Trường hợp này gọi là dông ñịa hình
- Do mặt ñất bị nóng lên vì nhận nhiều bức xạ mặt trời, không khí gần mặt ñất nóng, ẩm giãn
nở thể tích bốc lên cao. Loại này gọi là dông nhiệt, ñây là loại dông thường thấy nhiều hơn cả,
xảy ra vào các buổi chiều mùa hè là lúc mặt ñất bị ñốt nóng nhiều nhất.
Ở nước ta, hàng năm có từ 50 ñến 100 ngày có dông, có vùng có nhiều ngày xảy ra 2-3
cơn dông. Mùa dông bắt ñầu từ tháng IV ñến tháng X và tập trung vào khoảng từ tháng V ñến
tháng VIII. Dông ít xảy ra vào mùa lạnh vì nhiệt ñộ và ñộ ẩm ñều thấp.
Dông có thể gây tác hại ñối với sản xuất nông nghiệp do gió mạnh và mưa lớn kèm theo. Ðôi khi
gió trong cơn dông rất mạnh có thể làm gãy cành hoặc ñổ cây lớn. Bên cạnh tác hại, dông cũng
có tác dụng cung cấp cho cây một lượng ñạm ñáng kể trong nước mưa.
7. BÃO VÀ ÁP THẤP NHIỆT ðỚI
7.1. ðiều kiện hình thành bão và áp thấp nhiệt ñới
Bão là một nhiễu ñộng sâu sắc nhất trong cơ chế gió mùa mùa hè. ðó là một vùng khí áp thấp
gần tròn, bán kính vào khoảng 200 – 300 km, các ñường ñẳng áp gần ñồng tâm và dày xít nhau,
gây ra gió rất mạnh có thể lên tới trên 35 m/s, tức là trên 120 km/h. Trừ phần trung tâm của bão
gọi là mắt bão lặng gió, còn toàn bộ hệ thống có chuyển ñộng xoáy ñi lên rất mãnh liệt. Bão có
trữ lượng ẩm rất lớn, có năng lượng nội tại khổng lồ. Mây hình thành trong bão là những lớp mây
rất dày, cho mưa dữ dội trên một vùng rộng lớn. Riêng vùng trung tâm bão là một vùng gió yếu,
thậm chí lặng gió và thường rất ít mây, có khi quang mây. Bão ñược hình thành như thế nào cho