MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, chính sách an sinh xã hội đã và đang được Đảng,
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhất là những chương trình chính sách dành cho nhóm
đối tượng yếu thế trong xã hội như người nghèo. Trong hơn 20 năm thực hiện công
cuộc đổi mới, công tác xoá đói giảm nghèo của ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, được nhân dân ghi nhận và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Năm 2009, trong bối
cảnh chịu nhiều tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới,
Nhà nước ta vẫn tiếp tục triển khai nhiều giải pháp và chương trình xoá đói giảm
nghèo, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Nhiều mô hình, chính sách được đưa ra
nhằm giúp người dân vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo; xây dựng Quỹ vì
người nghèo; hàng năm lấy ngày 31 tháng 12 là ngày Tết của người nghèo-ngày hội
Nối vòng tay lớn, thể hiện tinh thần tương thân tương ái của cả dân tộc. Đó là những
nỗ lực không mệt mỏi của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong công cuộc xóa
đói giảm nghèo.
Phát huy tinh thần đó, Ninh Bình tự hào là một trong những tỉnh hoàn thành
sớm chương trình “xóa nhà tranh tre nứa lá” và giúp người dân vươn lên làm kinh tế
để thoát nghèo của cả nước. Nằm ở vùng cực nam đồng bằng châu thổ sông Hồng với
diện tích tự nhiên trên 1400 km
2
và dân số là 898.459 người, Ninh Bình xuất phát
điểm là một tỉnh miền núi nghèo, đại bộ phận dân cư sống bằng nghề sản xuất nông
nghiệp, trồng lúa nước và một số nghề thủ công truyền thống (thêu ren, dệt cói…) nên
đời sống còn nhiều khó khăn với 23 xã nghèo, cụm xã nghèo trọng điểm trên tổng số
144 phường xã. Song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của tỉnh ủy, hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, cùng sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành,
đoàn thể và tầng lớp nhân dân, công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh đã gặt hái được
những thành công vượt bậc. Đặc biệt trong 2 năm trở lại đây nhiều chương trình, dự
án, chính sách đã được tỉnh đề ra và triển khai thực hiện góp phần tăng hiệu quả của
2
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra
nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập,
doanh nghiệp nhà nước.
4
2. Mục đích của hoạt động thanh tra:
Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính
sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc
phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ
chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Thanh tra lao động, thương binh và xã hội:
Thanh tra lao động, thương binh và xã hội là cơ quan thanh tra thuộc ngành lao
động, thương binh và xã hội; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc phạm vi và chức năng quản lý nhà nước của
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, bao
gồm: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động,
người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng,
chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội)
trong phạm vi cả nước.
4. Thanh tra chính sách xã hội:
Thanh tra chính sách xã hội là một trong những hoạt động chuyên môn của
thanh tra ngành lao động thương binh xã hội.
Thanh tra chính sách xã hội nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối
với việc thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, đánh giá đúng
việc tổchức thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội ở mỗi cấp;
khẳng định những ưu điểm của địa phương, của cơ quan quản lý nhà nước; phát hiện
tra
Quyết định 04/2008/QĐ-BNV ngày 17/11/2008 về tiêu chuẩn nghiệp vụ các
ngạch công chức ngành Thanh tra
Quyết định 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10/11/2006 về Quy chế hoạt động Đoàn
thanh tra
Thông tư 02/2010/TT-TTCP ngày 02/03/2010 quy định quy trình tiến hành một
cuộc thanh tra
Thông tư 05/2011/TT-TTCP Quy định về phòng, chống tham nhũng trong
ngành thanh tra
Thông tư 191/2006/TTLT-TTCP-BNV-BTC ngày 19/01/2006 hướng dẫn thực
hiện Quyết định 202
Quyết định 1657/2005/QĐ-TTCP ngày 06/09/2005 về Quy chế bảo vệ bí mật
nhà nước trong ngành Thanh tra
II/ THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
1. Tổng quan về công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình
Theo thống kê của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình, từ năm
2005 đến năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 7,2% (tương đương 2250 hộ).
7
Đây là một con số rất đáng mừng cho thấy công tác giảm nghèo của tỉnh đã
thực sự đi vào đời sống với sự tham gia mạnh mẽ của các cấp, các ngành và toàn thể
nhân dân. Đặc biệt, năm 2008 là năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-TU và
đề án số 15 của UBND tỉnh về “Tăng cường lãnh đạo đối với công tác giảm nghèo
đến năm 2010” với nhiều chương trình, dự án được thực thi, đem lại những kết quả
chuyển biến tích cực.
1.1. Việc thực hiện đề án số 02 của HĐND tỉnh về “Hỗ trợ xây mới, cải tạo
và sửa chữa nhà dột nát trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2008-2010”
Những năm qua ở Ninh Bình, các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở
thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp cả hệ thống
chính trị và nhiều nguồn lực thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, nhất là
Bình. Năm 2008, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã tổ chức giải ngân kịp thời
9
nguồn vốn do ngân sách tỉnh chuyển sang để tạo điều kiện cho hộ nghèo ở 23 xã có tỷ
lệ hộ nghèo cao vay vốn phát triển sản xuất.
Nhằm khuyến khích và tạo điều kiện để người dân các xã nghèo được đi xuất
khẩu lao động, Ngân hàng có chính sách hỗ trợ mức cho vay từ 30-50 triệu
đồng/người, trong đó có 13 hộ được hỗ trợ từ ngân sách tỉnh. Hỗ trợ lãi suất cho các
hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền trên 456 triệu đồng.
Hầu hết nguồn vốn được giải ngân đều được ủy thác và lồng ghép vào các
chương trình, dự án của các cấp Hội, đoàn thể nên rất phù hợp với nhu cầu việc làm
của từng thành viên tham gia. Đồng thời thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn được
thành lập ở từng thôn, xã và được ban xóa đói giảm nghèo xã, phường trực tiếp kiểm
tra, quản lý thông qua các tổ trưởng nên tình trạng sử dụng vốn vay sai mục đích được
hạn chế đến mức thấp nhất. Nhiều hộ gia đình được vay vốn của Ngân hàng Chính
sách xã hội đã đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thu hút và tạo việc làm cho nhiều
lao động, tăng thu nhập cải thiện đời sống. Không chỉ được vay vốn, những đối tượng
này còn được tư vấn giúp đỡ về phương hướng, cách thức sản xuất nên đa số hộ nghèo
đã làm ăn có hiệu quả và vươn lên thoát nghèo. Ở khắp mọi vùng miền, thôn bản,
vùng sâu, vùng xa đã và đang xuất hiện nhiều hộ vay vốn sử dụng có hiệu quả, vươn
lên hộ khá giả. Điển hình là anh Phùng Duy Ba, xã Ninh Xuân (huyện Hoa Lư). Trước
năm 2000, gia đình anh còn nằm trong diện hộ nghèo, chỉ trông vào mấy sào ruộng,
cuộc sống gặp không ít khó khăn. Từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã
hội, gia đình anh phát triển kinh tế trang trại và kinh doanh dịch vụ. Đến nay, gia đình
anh đã thoát nghèo, không những trả được nợ cho ngân hàng mà còn xây dựng được
cơ ngơi khang trang.
Theo báo cáo thống kê năm 2005 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh,
tổng nguồn vốn hỗ trợ cho vay ưu đãi là 260.000 triệu đồng, trong đó vốn Ngân hàng
10
phục vụ người nghèo là 238.500 triệu đồng, vốn ngân sách địa phương là 4.500 triệu
đồng, vốn dự án Việt-Đức Fa III là 6.000 triệu đồng, vốn huy động cộng đồng là
. Theo thống kê đến
ngày 25-11-2007, Thành phố có 27.908 hộ dân với 105.482 nhân khẩu, trong đó còn
545 hộ nghèo, 1.511 khẩu thuộc diện nghèo, chiếm tỷ lệ 1,95% số dân, là đơn vị có tỷ
lệ hộ nghèo thấp nhất trong tỉnh.
Từ năm 2005 đến năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo của thành phố giảm đáng kể, tuy
nhiên các biện pháp giảm nghèo còn chưa thực sự sát với thực tế, các hộ thoát nghèo
thiếu bền vững. Việc huy động nguồn lực tại chỗ và trong dân chưa tương xứng với
khả năng của địa phương, trách nhiệm của cộng đồng đối với người nghèo chưa được
khơi dậy và phát huy đầy đủ. Mặt khác, cán bộ làm công tác lao động việc làm ở các cấp
do phải kiêm nhiệm nên quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế.
Với việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 và Đề án số 15 của Tỉnh ủy,
Thành phố đã đầu tư xây dựng và chỉ đạo tập trung các mô hình, giải pháp giảm nghèo
hiệu quả, đem lại những chuyển biến tích cực.
2.1. Chú trọng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn,
nhất là người nghèo.
Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp rơi vào diện nghèo là do bị thất nghiệp
hoặc công việc không ổn định. Chính vì thế công tác giải quyết việc làm cho người
lao động luôn dành được rất nhiều sự quan tâm của lãnh đạo Thành phố:
- UBND Thành phố Ninh Bình phối hợp với các ban ngành đoàn thể đã tiến
hành rà soát và phân loại nhóm đối tượng thiếu việc làm trên địa bàn. Theo đó, đối với
nhóm đã được đào tạo nghề, thành phố vận động các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
12
phối hợp với đoàn thanh niên tổ chức hội chợ việc làm, mục đích là để nhà doanh
nghiệp và người lao động trực tiếp trao đổi, tìm hiểu về nhu cầu, nguyện vọng mỗi
bên. Bên cạnh đó, Thành phố cho quy hoạch các cụm công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, làng nghề để thu hút đầu tư, tạo việc làm cho người lao động, góp phần nâng
cao mặt bằng kinh tế cho các khu vực có đông hộ nghèo. Cụ thể năm 2008, Thành phố
tổ chức giải phóng thêm mặt bằng ở khu công nghiệp Ninh Phúc, Phúc Sơn. Cụm tiểu-
thủ công nghiệp Ninh Phong, Phúc Trì (phường Nam Thành), cụm công nghiệp
phường Phúc Thành (22,4 ha), cụm công nghiệp Ninh Tiến (20 ha), cụm công nghiệp
chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, kinh doanh… Các lớp tập huấn ngắn ngày, các lớp học
nghề đã giúp cho người nghèo chưa có việc làm trên địa bàn tiếp thu được những kiến
thức nhất định, những kinh nghiệm trong sản xuất, trong cuộc sống và cả những kiến
thức mà xã hội đang cần để người nghèo biết cách sử dụng đồng vốn cũng như sự
giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng một cách hiệu quả.
- Hỗ trợ trên 300 người nghèo kinh phí mua bảo hiểm y tế tự nguyện trong một
năm với số tiền 320 nghìn đồng/người, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo trong
khám chữa bệnh. Bên cạnh đó các hoạt động miễn giảm học phí, tặng quà cho học
sinh nghèo, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn…được tổ chức
thường xuyên.
Phường Thanh Bình là đơn vị đầu tiên của thành phố và cũng là của tỉnh không
còn hộ nghèo. Có được kết quả này là nhờ thành phố đã có những quyết sách tập
trung, đồng bộ và phù hợp với từng đối tượng. Đảng ủy và chính quyền thành phố xác
14
định, đối với những hộ neo đơn, các đối tượng xã hội ngoài sự hỗ trợ của tỉnh, thành
phố sẽ trợ cấp để đảm bảo cuộc sống, thu nhập ổn định vượt tiêu chí hộ nghèo.
Hiện nay một số phường như: Vân Giang, Đông Thành…số hộ nghèo cũng chỉ
còn “đếm trên đầu ngón tay”
3. Thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
ở huyện Nho Quan
Huyện Nho Quan nằm phía Tây Bắc tỉnh Ninh Bình với diện tích tự nhiên
475km
2
và dân số là 147.514 người. Toàn huyện có 1 thị trấn và 26 xã, trong đó có 9
xã nghèo nhất (nằm trong tổng số 23 xã nghèo trọng điểm của tỉnh) là: Gia Sơn,
Thạch Bình, Kì Phú, Phú Long, Văn Phong, Văn Phương, Quảng Lạc, Thanh Lạc,
Thượng Hòa.
Là huyện miền núi có số xã nghèo và tỷ lệ hộ nghèo nhiều nhất của tỉnh Ninh
Bình, 2 năm qua huyện Nho Quan đã huy động tổng lực vào chiến dịch xóa nghèo
theo Nghị quyết số 10 của tỉnh ủy. Với nhiều mô hình xóa nghèo đa dạng, sáng tạo,
khai áp dụng đem lại hiệu quả cao.
Có thể nói đây là cách làm rất hay của lãnh đạo xã khi đã tạo điều kiện cho
người dân tự vươn lên thoát nghèo bằng cách cung cấp “cần câu” và “con cá” cho bà
con, hướng dẫn bà con cách “câu” sao cho hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng
giảm nghèo và chống tái nghèo.
16
3.2. Chuyển đổi mô hình kinh tế, đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và giải
quyết việc làm.
Qua việc điều tra, khảo sát thực trạng và hoàn cảnh dẫn đến đói nghèo của từng
hộ, Ban giảm nghèo của huyện đã đề ra nhiều giải pháp như: hỗ trợ các đối tượng
nghèo chuyển đổi cây trồng vật nuôi để phát triển sản xuất; các mô hình chuyển diện
tích vùng trũng từ trồng lúa bấp bênh sang mô hình lúa, cá; hỗ trợ giống, vốn, phân
bón cho các hộ nghèo trọng điểm; xây dựng các mô hình nuôi trồng cây, con đặc sản,
phù hợp với điều kiện đất đai, gia cảnh của hộ nghèo.Trong 2 năm 2007 và 2008,
huyện đã cấp hơn 2,1 tỷ đồng cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho hơn
2800 hộ; hỗ trợ giống lúa lai, ngô lai, lạc, giống gia cầm, phân đạm với mức bình quân
hơn 600.000 đồng/hộ. Mặt khác, huyện chỉ đạo các xã miền núi có diện tích rừng
phòng hộ ít xung yếu chuyển sang trồng rừng kinh tế, nâng cao thu nhập cho người
trồng rừng tại Thạch Bình, Quảng Lạc, Kì Phú, Phú Long, Gia Lâm với diện tích 200
ha, khiến nhân dân yên tâm phấn khởi bám đất, bám rừng.
Cùng với chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, nhiều mô hình kinh tế như phát triển
ngành nghề nông thôn, tạo việc làm cho người lao động được triển khai ở tất cả các
địa bàn từ vùng núi rừng đến xã vùng chiêm trũng. Điển hình là hơn 100 hộ đã đưa
nghề trồng nấm vào sản xuất, bước đầu sản lượng đạt hơn 10 tấn nấm khô được công
ty nấm Hồng Ngọc bao tiêu toàn bộ sản phẩm đạt giá trị hơn 120 triệu đồng, bình
quân thu nhập trên 1 triệu đồng/hộ.
Bên cạnh đó các cơ sở dạy nghề của huyện phối hợp với Đoàn thanh niên, Hội
phụ nữ, Hội nông dân, phòng Nông nghiệp & PTNT tổ chức nhiều lớp đào tạo nghề,
chuyển giao khoa học kĩ thuật cho 3000 lao động với các nghề: may công nghiệp, mây
tre đan, làm chiếu trúc, đan cói xuất khẩu, hàn điện, nuôi thỏ…với kinh phí hơn 300
nguy cơ tái nghèo và phát sinh hộ nghèo còn cao.
Công tác giảm nghèo cũng bộc lộ những tồn tại nhất định cần sớm được khắc
phục, như là:
- Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt của các xã nghèo còn
thiếu. Chẳng hạn một số địa phương chưa có đường giao thông đến xã, song Nhà nước
lại đầu tư từ xã đến thôn bằng nguồn vốn chương trình 135 (tiêu biểu là xã Kim Hải-
Kim Sơn).
- Các công trình: điện, đường, trường, trạm, nhà máy nước của 3 xã Gia Lạc,
Gia Minh, Gia Phong (Gia Viễn) được xây dựng từ nguồn dự án phân lũ nhưng tiến độ
triển khai còn chậm. Do vậy một số công trình ở các xã này đều đang thi công dang
dở.
- Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế-xã hội với chương trình
giảm nghèo còn hạn chế, chưa mang lại hiệu quả cao. Nhiều mô hình, cách làm hay về
giảm nghèo chưa được kịp thời tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm để nhân rộng. Bên
cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhân dân chưa có ý thức phấn đấu vươn lên tự thoát
nghèo, còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
2. Định hướng giải pháp:
- Xây dựng và triển khai đồng bộ các chính sách, dự án về giảm nghèo; lồng
ghép có hiệu quả các chính sách, dự án giảm nghèo với các chính sách kinh tế-xã hội
khác của tỉnh. Phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cấp, các ngành trong việc xây
dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo.
19
- Tạo bước đột phá mới trong chỉ đạo, phát huy sức mạnh và sự tham gia tích
cực của các tầng lớp nhân dân, gắn trách nhiệm của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể để đạt và vượt mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã đề ra; đẩy mạnh
phong trào “Ngày vì người nghèo” đến mọi tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp dân
cư.
- Gắn xóa đói giảm nghèo với giải quyết việc làm. Đối với khu vực nông thôn
thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tổ chức sản xuất, cung ứng và quản lý giống, kiên cố
rừng Cúc Phương, nhà thờ đá Phát Diệm, Tam Cốc-Bích Động…), tận dụng được lợi
thế này sẽ góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, từ đó cũng giảm bớt đói
nghèo.
21
KẾT LUẬN
Thành phố Ninh Bình và huyện Nho Quan chỉ là hai trong số những điểm sáng
về công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Có được những chuyển
biến tích cực như trên là nhờ sự đoàn kết quyết tâm cao của lãnh đạo các cấp chính
quyền, các ban, ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân, đồng thời cũng không thể
không nhắc đến việc thanh tra, kiểm tra những hoạt động này đã được thực hiện một
cách nghiêm túc, thể hiện sự quan tâm sát sao, góp phần đẩy mạnh công cuộc xóa đói
giảm nghèo của tỉnh.
Mảnh đất cố đô xưa đang ngày càng “thay da đổi thịt”, đời sống của người dân
đang từng bước được cải thiện và không ngừng nâng lên. Đó là những kết quả đáng
ghi nhận và đáng tự hào. Vẫn biết rằng cuộc chiến chống đói nghèo là một cuộc chiến
lâu dài với nhiều thách thức và khó khăn, song tin rằng với tinh thần đoàn kết và sự nỗ
lực cố gắng không ngừng, Đảng bộ,quân và dân Ninh Bình sẽ sớm hoàn thành những
mục tiêu đề ra trong chiến lược xoá đói giảm nghèo những giai đoạn tiếp theo.
Trên đây là bài viết của tôi về công tác thanh tra việc thực hiện chính sách xoá
đói giảm nghèo của một số địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Dù rất cố gắng
nhưng bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự
quan tâm nhận xét của thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn./.
22
Tài liệu tham khảo
1. Luật Thanh tra năm 2010
2. Tạp chí Thanh tra
3. Website: thanhtravietnam.vn
4. Báo điện tử Ninh Bình
5. Nguồn số liệu: Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Ninh Bình