TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG - Pdf 18



2013
GVHD:PGS.TS. Sử Đình Thành
TH: NHÓM 1 TCNH ĐÊM 2 – K22
7/3/2013
TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI
HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ MỘT
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG
1

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG THÀNH VIÊN NHÓM NGHIÊN CỨU
1. Trần Thái Phương Nam
2. Nguyễn Đôn Nhã Uyên
3. Nguyễn Thị Tuyết Chi
4. Nguyễn Thị Phương Thảo
5. Đoàn Nhật Thanh
6. Võ Trần Đức Tuấn


LỜI MỞ ĐẦU
Trong các nghiên cứu tài chính công từ trước đến nay, nhiều tác giả đã chỉ ra mối liên
hệ mật thiết giữa tài chính công và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, với bài nghiên cứu
―Public finances and long-term growth in Europe: Evidence from a panel data analysis‖ của
Diego Romero – Ávila và Rolf Strauch, các tác giả đã đưa ra những bằng chứng cụ thể cho
vấn đề trên, cùng hàng loạt những phân tích khác liên quan đến cải cách tài chính công và
tăng trưởng dài hạn ở các nước châu Âu.
Được sự phân công nghiên cứu đề tài này của giảng viên bộ môn, nhóm đã cố gắng
tìm hiểu kỹ lưỡng về bài nghiên cứu này thông qua công tác dịch bài, đồng thời tham khảo
các tài liệu nghiên cứu khác có liên quan cũng như hướng dẫn học thuật từ phía GVHD. Bài
nghiên cứu được trình bày lại với kết cấu như sau:
-Thứ nhất là phần giới thiệu;
-Thứ hai là phần tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây;
-Thứ ba là nghiên cứu dữ liệu;
- Thứ tư là trình bày nội dung nghiên cứu cùng các thảo luận;
- Cuối cùng là một vài kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng không thể tránh
khỏi những sai sót về cách dùng từ, câu chữ hay ý nghĩa, nội dung của bài nghiên cứu gốc.
Rất hy vọng phần trình bày tiếp sau đây sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý sâu sắc từ thầy
GVHD cũng như các nhóm đề tài khác để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn.
Chân thành cảm ơn!

Nhóm thực hiện.

4

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

MỤC LỤC


TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG
TỪ MỘT PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG
Diego Romero – Avila, Rolf Strauch
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này giúp trả lời câu hỏi: liệu cải cách tài chính công có ảnh hưởng lên
xu hướng tăng trưởng cho nhóm EU- 15
1
hay không. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng mô hình
chuỗi thời gian để điều tra xem liệu có xu hướng dài hạn nào trong tăng trưởng kinh tế và
các biến tài chính suốt 40 năm qua. Thêm vào đó, tác giả còn ước lượng mô hình phân phối
độ trễ, mà nó:
Thứ nhất, chỉ ra quy mô chính phủ được đo lường theo tổng chi hay thu nhập, thì tiêu
dùng chính phủ và thuế trực tiếp đều ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu
người; trong khi đầu tư công có tác động tích cực.
Thứ hai, cung cấp bằng chứng chứng minh thuế thay đổi hành vi (distornationary
tax
2
) tác động lên tăng trưởng trong trung hạn thông qua tác động của nó lên tích lũy vốn tư
nhân. 1
Từ EU-15 thể hiện cho 15 nước thành viên của liên minh châu Âu đến 31/12/2003, trước khi kết nạp thêm
những thành viên mới vào EU. 15 thành viên là Austria, Belgium, Denmark, Finland, France, Germany,
Greece, Ireland, Italy, Luxembourg, Netherlands, Portugal, Spain, Sweden, and the United Kingdom
2
Đây là một loại thuế ảnh hưởng đến giá cả của một mặt hàng trong thị trường. Chẳng hạn như khi đánh thuế

Bài nghiên cứu cũng đồng thời xem xét liệu các chính sách cải cách của Hiệp ước
Lisbon sẽ đem đến kết quả tăng trưởng như thế nào trong tương lai. Phân tích những hoạt
động trong quá khứ ở các quốc gia châu Âu để xem chính sách tài chính công có khả năng
làm gia tăng tỷ lệ tăng trưởng một cách ổn định hay không, tức là có ảnh hưởng tới xu hướng
tăng trưởng, hoặc là nó có đạt được kỳ vọng cải thiện nhất thời hay không.

3
Xem kết luận của Presidency trong phần 2.
7

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng hồi quy Barro, đưa các biến chính sách và
biến thể chế vào mô hình nhằm nghiên cứu sự tác động của tăng trưởng nội sinh lên thành
quả kinh tế trong dài hạn. Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu này chủ yếu khai thác phương
sai dữ liệu chéo của mẫu rất lớn và không quá phức tạp. Sử dụng tiêu chuẩn thiết lập của
nghiên cứu này, dựa trên mức tăng trưởng sản lượng trung bình dài hạn, sẽ nhanh chóng triệt
tiêu hết các bậc tự do cho các nước châu Âu. Hơn nữa, cách tiếp cận này sẽ không phù hợp
vì mẫu châu Âu là khá đồng nhất với các đặc điểm được đề cập ở trên.
4

Một nghiên cứu thay thế khác được đưa ra, chủ yếu tập trung vào tác động chuỗi thời
gian của hai thành phần của lý thuyết. Theo thuyết tăng trưởng nội sinh, nếu biến chính sách
đi theo một kiểu chuỗi thời gian cụ thể, thì tăng trưởng kinh tế nên biểu hiện trạng thái tương
tự. Và ngược lại, theo các mô hình tăng trưởng ngoại sinh, các thuộc tính chuỗi thời gian của
biến chính sách không nhất thiết phải giống với tăng trưởng sản lượng. Các biến tài chính đặt
nền móng thử nghiệm tốt cho những giả thuyết này; vì theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh thì
thuế làm thay đổi giá và chi phí sản xuất được cho là có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển
kinh tế, trong khi đó đáng lẽ chúng chỉ có các tác dụng theo cấp độ từ một quan điểm tân cổ
điển. Tác giả sử dụng những dự đoán này như một cơ sở để giải thích các mô hình quan sát


9

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

2. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Từ giữa những năm 1980, nghiên cứu lý thuyết tăng trưởng đã cố gắng nội sinh hóa
tốc độ tăng trưởng của sản lượng trong dài hạn. Những mô hình tăng trưởng trước đây, một
trong số đó được xây dựng bởi Solow (1956) và Cass (1965), hình thành xu hướng tăng
trưởng chủ yếu như là một chức năng của các yếu tố ngoại sinh đối với chính sách công -
chẳng hạn như tiến bộ công nghệ và tăng trưởng dân số. Một trong số những lý thuyết tăng
trưởng nội sinh tiên phong đó là các công trình của Romer (1986, 1990), Lucas (1988),
Barro (1990) và Rebelo (1991), chỉ ra cơ chế mà trong đó các biến chính sách có thể không
chỉ ảnh hưởng đến mức sản lượng, mà còn tác động tới tỷ lệ tăng trưởng ổn định. Nghiên
cứu Barro (1990) là một trong các nỗ lực đầu tiên nội sinh mối quan hệ giữa tăng trưởng và
chính sách tài khóa. Ông phân biệt bốn loại tài chính công: chi phí sản xuất so với phi sản
xuất và thuế thay đổi giá so với không làm thay đổi giá. Tác giả trình bày sơ lược mô hình
Barro để cho thấy cả chi tiêu công sản suất và thuế làm thay đổi giá có thể ảnh hưởng đến
tăng trưởng sản lượng dài hạn. Giả sử số lượng người tiêu dùng đơn giản hóa là một. Những
người tiêu dùng (cả tiêu thụ và sản xuất sản phẩm cuối cùng) theo hàm sản xuất sau đây:
y = Ak

=
𝑦′
𝑦
=
1
𝜎
[(1-τ)(1-γ)𝐴
1
1−𝛾
(
𝑔
𝑦
)
𝛾
1−𝛾
− 𝜌] (3)
Phương trình (3) cho thấy chi tiêu sản xuất chính phủ như một phần của sản lượng
ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng dài hạn trong khi thuế làm thay đổi giá có tác động tiêu
cực đến tăng trưởng. Không có chi tiêu phi sản xuất và cũng không có thuế gộp ảnh hưởng
đến tăng trưởng sản lượng đầu ra trong trạng thái ổn định. Từ mô hình này, chúng ta thấy
rằng các biến tài chính từ cả hai mặt của vấn đề hạn chế ngân sách cho sự tăng trưởng, và sự
thất bại bao gồm cả chi tiêu chính phủ và thuế suất làm thay đổi giá trong hồi quy tăng
trưởng sẽ dẫn đến mô hình không xác định được.
Jones (1995) đầu tiên thực hiện nghiên cứu, ông cố gắng khai thác các tính chất chuỗi
thời gian để kiểm tra lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh so với nội sinh. Ông bắt đầu với lập
luận đơn giản mà theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, thay đổi thường xuyên trong biến
chính sách nhất định phải có một ảnh hưởng lâu dài trên tốc độ tăng trưởng của sản lượng.
Do đó, nếu tốc độ tăng trưởng ở Mỹ và các nước OECD khác hiện không có thay đổi lớn kéo
dài, các biến chính sách cơ bản cũng sẽ không biểu hiện các thay đổi lớn liên tục hoặc các
dịch chuyển liên tục trong các biến này phải dừng. Sử dụng kiểm định chuyển đổi thông

Những đóng góp chính của bài nghiên cứu hiện tại được trình bày như sau. Phân tích
của tác giả là những nỗ lực đầu tiên, nghiên cứu khả năng hai lực đối nghịch có thể truyền
dẫn một tác động ngược lại (và cũng có thể là bù đắp nhau) lên tăng trưởng theo tính hợp lý
trong phân tích của Jones. Bài nghiên cứu này được thực hiện bằng cách ghép hai giả thuyết
chính. Một mặt, chúng tôi lấy mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) – mô hình này
dự đoán rằng chi tiêu sản xuất chính phủ và thuế làm thay đổi giá gây ra một tác động lên
tăng trưởng. Mặt khác, tác giả xem xét lý thuyết về khả năng bền vững theo thời gian của các
chính sách tài chính, trong đó dự đoán rằng chi tiêu và thu nhập của chính phủ được thống
nhất nhằm đảm bảo rằng các hạn chế/ràng buộc hiện giá ngân sách chính phủ nắm giữ qua
các thời kỳ. Vì vậy, ngay cả khi tìm thấy các biến tài chính riêng biệt có biểu hiện không ổn
định trong khi tăng trưởng sản lượng là không đổi, mô hình này có thể vẫn còn phân kỳ với
những dự đoán tăng trưởng nội sinh nếu biến chính sách khác có tác động bù trừ lâu dài đến
tăng trưởng nội tại. Do đó, không giống như các nghiên cứu của Evans (1997) và Karras
(1999) và dựa trên lý thuyết về tài chính bền vững, chúng ta nhìn vào mặt đối lập của giới
hạn ngân sách chính phủ khi bất kỳ chi tiêu tăng thêm nào cần được tài trợ, dẫn đến một tổn
thất phúc lợi do thuế cao hơn.

12

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

3. CHỌN MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Theo như lý thuyết nghiên cứu được trình bày tóm tắt ở phần trước, các bằng chứng
thực nghiệm hiện hữu, hoàn toàn hỗ trợ những dự đoán tăng trưởng nội sinh, của một tác
động tăng trưởng dài hạn, khi cả hai khía cạnh của ngân sách được xem xét, nhưng bằng
chứng thì vẫn chưa đầy đủ. Ngoại trừ nghiên cứu của Bleaney và cộng sự (2001), mẫu của
các quốc gia và các loại ngân sách được sử dụng rất có chọn lọc. Bleaney và cộng sự (2001)
kết hợp hầu hết các nền kinh tế châu Âu trong mẫu của họ và bao gồm tất cả các hạng mục
ngân sách, nhưng họ chỉ tập trung vào dữ liệu của chính quyền Trung ương. Tất nhiên,
những hạn chế của phương pháp này là họ chỉ tìm kiếm các số liệu của chính quyền trung

it
= α + δTi + e
it
cho các
giả định khác nhau về tính không đồng nhất của α và δ, trong đó y là biến được xem xét cho quốc
gia i tại thời điểm t và T đại diện cho xu hướng thời gian. Bảng báo cáo các giá trị ước lượng của δ
và độ lệch chuẩn Newey West cho phép kiểm tra tương quan chuỗi trong một khoảng thời gian. Ba
dấu sao cho thấy ý nghĩa thống kê ở mức 1%.

5
Xem bảng A1 đối với định nghĩa các biến dùng trong phân tích và nguồn dữ liệu. Thống kê mô tả và ma trận
tương quan được cung cấp lần lượt trong bảng A2 và A3. Ba bảng này nằm ở phụ lục A.
14

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

4. NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH
4.1. Tính chất chuỗi thời gian của tăng trưởng và tài chính công:


6
Nghiên cứu của Pesaran cùng cộng sự (1996) cho thấy sự nhất quán tiệm cận của các ước lượng trung bình-
nhóm.
16

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

Vì toàn bộ chi tiêu và thu nhập là các đo lường không chính xác của các khoản chi sản
xuất và thuế làm thay đổi giá, Bảng 1 trình bày các giá trị ước lượng xu hướng cho nhiều
loại chi tiêu và thu nhập khác nhau, và những loại chi tiêu và thu nhập này có thể có một tác
động tăng trưởng theo mô hình của Barro. Cột thứ hai xác định xu hướng đi lên kéo dài trong
chi tiêu chính phủ, xu hướng này xuất hiện và được điều khiển chủ yếu bởi những dịch
chuyển và bởi một phạm vi thấp hơn ở một mức nào đó trong tiêu dùng của Chính Phủ. Điều
thú vị là, đầu tư công cho thấy sự phát triển ngược lại, thể hiện qua hệ số âm và có ý nghĩa
thống kê trong toàn bộ bảng. Đồng thời, thuế làm thay đổi giá, được tính như là tổng của
toàn bộ thuế trực thu và đóng góp an ninh xã hội, tăng đều trong suốt thập kỷ cuối. Sự suy
giảm dài hạn của đầu tư công và thuế làm thay đổi giá tăng lên, cả hai đều tương thích với xu
hướng tăng trưởng thấp hơn thể hiện rõ ràng trong ước lượng của tác giả.
4.1.2. Các xu hướng ngẫu nhiên:
Đưa ra các chuỗi quan sát trong hình 2 và 3, các biến chính sách của tác giả có thể
không chỉ thể hiện tính xác định mà nó còn là xu hướng ngẫu nhiên liên tục. Để kiểm tra giả
thuyết này, tác giả thực hiện một số kiểm định nghiệm đơn vị theo bảng, các kiểm định này
khắc phục tương quan thấp, và kết hợp kiểm định nghiệm đơn vị riêng lẻ. Tác giả sử dụng
các kiểm định của Im cùng cộng sự (2003) (từ đây về sau gọi tắt là IPS) và Breitung (2000).
Công thức dạng bảng của chúng tôi được đưa ra như sau:

Trong đó p
i
là mức trễ của mỗi quốc gia theo tạo ra các số dư,

1
rằng γ
i
<0 với i = 1,2, , N
1
và γ
i
= 0, với i = N
1
+1, N
1
+2, , N. Giả sử rằng các
đơn vị chéo N là phân phối độc lập, các thống kê-t có thể được tính như là trung bình của các
thống kê-t ADF riêng lẻ, cụ thể:

Trong đó t
iT
(p
i
, ρ
i
) là thống kê-t cho kiểm định γ
i
= 0 trong mỗi ADF riêng lẻ. Giả
sử rằng vector thứ hai của t
iT
(p
i
, ρ
i

8
Để giải quyết vấn đề này, Breitung (2000) đề xuất một kiểm định nghiệm đơn vị cho
dữ liệu bảng, kiểm định này sử dụng các thống kê-t không chệch. Bằng việc cho phép các

8
Chúng tôi trình bày các kết quả IPS của sự đồng nhất có và không có xu hướng xác định không đồng nhất.
Chúng tôi đưa các biến giả thời gian vào để kiểm soát những cú sốc ảnh hưởng đến tất cả các nước thành viên
EU trong một thời gian nhất định.
(6)
(5)
18

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

xu hướng xác định không đồng nhất và dịch chuyển ngắn hạn giữa các quốc gia mà không
cần điều chỉnh sai lệch, kiểm định Breitung thì mạnh hơn để bác bỏ một giả thuyết H
0
là sai
và không có ý nghĩa với mức tăng thêm của các đồng nhất thức ADF.
9Hình 3: Thu nhập công tại các nước châu Âu, 1961 – 2002
Bảng 2 trình bày các kết quả tăng trưởng bình quân đầu người thực tế, thu nhập hiện
tại và tổng chi tiêu cùng với các phạm trù kinh tế khác (chẳng hạn như thuế trực thu, các
khoản đóng góp an sinh xã hội, thuế gián thu, tiêu dùng của chính phủ, chuyển nhượng và
đầu tư công).
10
Các kết quả kiểm định cho thấy GDP bình quân đầu người theo một mô hình
I(1), trong khi tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thực tế là cố định (tĩnh) cho mẫu của nhóm

20

TCNHĐ2_N1 TÀI CHÍNH CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN Ở CHÂU ÂU: BẰNG CHỨNG TỪ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẢNG

thách thức đối với lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Vì những thay đổi lâu dài trong các hạng
mục tài chính không xuất hiện kèm với những thay đổi liên tục trong tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân đầu người, đã không hỗ trợ cho dự đoán tăng trưởng nội sinh theo tính hợp
lý thể hiện qua nghiên cứu của Jones (1995) và Karras (1999).
4.1.3. Đồng liên kết giữa chi tiêu và thu nhập:
Mô hình chuỗi thời gian phân kì của tăng trưởng GDP bình quân đầu người và các
biến chính sách tài khóa có thể tương thích với nhau nếu một biến chính sách khác với sự
ảnh hưởng lâu dài trong tăng trưởng. Nói cách khác, hai điều kiện phải được đáp ứng đó là:
thứ nhất, các biến phải di chuyển cùng chiều với các công cụ chính sách được xem xét và thứ
hai, nó sẽ thể hiện một hiệu ứng tăng trưởng liên tục theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Rõ
ràng tác giả đang tìm kiếm mặt trái của ngân sách vì bất cứ sự gia tăng chi tiêu nào cũng phải
được tài trợ, và nó có thể dẫn tới một gánh nặng thuế quá mức.
Ràng buộc ngân sách nhà nước theo thời gian dẫn đến mối quan hệ tương quan
giữa chi tiêu và thu ngân sách nhà nước (Afonso, 2005; Santos Bravo and Silvestre, 2002;
Trehan and Walsh, 1988; Bohn, 1991). Tuy nhiên cho dù có tồn tại mối quan hệ này trong
mẫu của chúng ta và cho dù nó có thể giải thích mô hình được quan sát của tăng trưởng kinh
tế hay không thì nó vẫn là một câu hỏi thực nghiệm. Trước tiên, lý thuyết tăng trưởng tập
trung vào chi phí sản xuất và thuế gián thu. Vì thế, cho dù mối liên hệ tương quan giữa các
khoản chi tiêu và thu nhập. Ví dụ, đầu tư công cao có thể được tài trợ thông qua thuế tiêu
dùng trực thu. Thứ hai, sự ràng buộc ngân sách theo thời gian phải được giữ trong khoảng
thời gian vô tận và ràng buộc dưới giả định là nền kinh tế đang hoạt động hiệu quả. Những
điều liên quan trong khoảng thời gian xác định thì không được dự báo rõ ràng, đặc biệt là
nếu nền kinh tế hoạt động không hiệu quả và tốc độ tăng trưởng vượt quá mức lãi suất cân
bằng. Trong tình huống này, các nước có thể tham gia vào ―trò chơi thâm hụt‖ ngay cả đối
với một khoảng thời gian dài (Ball et al., 1998; O'Connell and Zeldes, 1988).
Vì thế, chúng tôi tiến hành kiểm tra tương quan giữa các phối hợp khác nhau của

it
.
Để xác định các mối quan hệ dài hạn chúng tôi trình bày kết quả của thống kê t-
giá trị trung bình nhóm ADF và giá trị gộp được phát triển bởi Pedroni (1999) cho phân tích
kĩ thuật có và không có những xu hướng không đồng nhất trước đó.
11
Pedroni (1999) đã tính
lại giá trị thống kê t-trung bình nhóm ADF với N
-1/2
để nó có phân phối chuẩn. Tiêu chuẩn
hóa các số liệu thống kê tương quan có thể được thực hiện như sau:

Trong đó K
NT
là dạng tiêu chuẩn thống kê kiểm định đối với N và T. Giá trị trung
bình (µ) và Variance (v) được trình bày trong Pedroni (1999). Giá trị của số liệu thống kê
bình thường được so sánh với giá trị tới hạn được hàm ý bởi tiêu chuẩn phân phối bên thấp
hơn. Tác giả lựa chọn để bình thường hóa trên các biến ủng hộ cho mặt thu nhập của ràng
buộc ngân sách mà không có hàm ý từ chỉ dẫn quan hệ nhân quả của chi tiêu tới thu nhập
ngân sách.
12

Kết quả trong bảng 3 hỗ trợ cho sự tồn tại của một mối quan hệ dài hạn giữa thu
nhập và chi tiêu ngân sách. Đầu tiên, tổng chi như là một phần của GDP dường như có một
mối tương quan rõ ràng với tổng thu hiện tại khi những xu hướng trước đó đã bao hàm trong

11
Sự đóng góp của thông tin được thực hiện theo kích thước dữ liệu cho kiểm định và theo kích thước của
thống kê t-trung bình nhóm ADF. Sau đó, cho phép thêm nguồn không đồng nhất giữa các quốc gia theo sự
thay đổi. Nghiệm đơn vị bảng và phân tích đồng liên kết được thực hiện như thông thường, được cung cấp

Bảng 4 trình bày các ước lượng của hệ số tương quan dài hạn đối với các biến
theo véc tơ tương quan. Ước lượng dài hạn sẽ cung cấp bằng chứng cho sự dịch chuyển
cùng chiều giữa những phạm trù tài khóa từ các mặt của ngân sách nhà nước. Tác giả căn cứ
trên ước lượng trung bình nhóm FMOLS được đề xuất bởi Pedroni (2000) sửa tiêu chuẩn
OLS cho xu hướng gây ra bởi các biến nội sinh và sự tương quan nối tiếp của các biến hồi
quy được đề xuất. Đồng thời cho phép co giãn sự tương quan không đồng nhất và thử
nghiệm giả thuyết linh hoạt hơn. Véc tơ tương quan một lần nữa được tiêu chuẩn hóa trên
các loại doanh thu.
Nhìn vào các quan hệ này từ phía chi tiêu ngân sách, tác giả thấy rằng hệ số
tương quan dài hạn giữa tổng doanh thu và tổng chi phí là khoảng 0.7 và bao gồm những
ảnh hưởng thời gian. Điều này cho thấy rằng một sự gia tăng trong tổng chi tiêu chính phủ
thì không được bù đắp đủ bởi sự gia tăng của tổng thu.
13
Chúng tôi đã thử nghiệm quan hệ
một-một giữa tổng thu và tổng chi, loại trừ sự tồn tại của một mối quan hệ tương ứng tại
mức ý nghĩa 1%.
14
Phát hiện này có thể được giải thích một phần bởi sự thiên về thâm hụt
dẫn đến một món nợ liên tục được gây dựng suốt những năm 1970 và 1980 ở nhiều nước
Châu Âu.
15
Hơn nữa, hệ số tương quan của chi chuyển nhượng chính phủ và tiêu dùng với
tổng thu nhập và những khoản mục của nó đều không có ý nghĩa khi những biến giả thời
gian được đưa vào, mặc dù vẫn còn dấu dương và hơi có ý nghĩa. Điều này cho thấy một
phần của sự chuyển dịch cùng chiều giữa các loại hình ngân sách được ghi nhận bởi các yếu
tố bất biến giữa các quốc gia Châu Âu như là tổng cung hay những cú sốc về cầu. Độ co
giãn dài hạn của đầu tư công đối với tổng thu ngân sách và thuế gián thu bằng 0.15 và 0.32
cho thuế trực thu trong phân tích kĩ thuật với biến giả thời gian.

13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status