Báo cáo bồi dưỡng HS giỏi lớp 4 môn Tiếng Việt
PHÒNG GD&ĐT VĨNH LỢI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TH PHAN BỘI CHÂU Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BÁO CÁO THAM LUẬN VỀ VIỆC BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
I. THỰC TRẠNG:
- Để đáp ứng yêu cầu cao mục tiêu dạy học và giáo dục trong điều kiện đất nước đang
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có vị trí vô cùng
quan trọng nhằm bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, năng lực
cảm thụ văn chương, đặc biệt là giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Trên cơ sở đó góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại vừa giữ được tinh hoa văn hóa dân tộc, vừa
tiếp thu tốt những giá trị văn hóa tiêu biểu trên thế giới.
- Hiện nay các nhà trường chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những
năng lực còn tiềm tàng trong mỗi học sinh, phát huy hết khả năng vốn có của các em. Ở các
trường Tiểu học hiện nay, cùng với việc nâng cao chất lượng đại trà thì việc chăm lo bồi dưỡng
học sinh giỏi cũng đang được nhiều cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương quan tâm sâu sắc.
- Thực tế hiện nay ở các trường Tiểu học về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã được
chú trọng và quan tâm, song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương
pháp giảng dạy chưa tìm ra hướng đi cụ thể, phần lớn làm theo thực tế bản thân. Từ những bất
cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt như ý muốn.
II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
1.Thuận lợi:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sắc của các cấp lãnh đạo .
- Nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác bồi dưỡng .
- Được sự ủng hộ và tao điều kiện cho học sinh tham gia việc bồi dưỡng của các bậc phụ
huynh.
- Giáo viên bồi dưỡng là những người có năng lực giảng dạy.
2. Khó khăn:
- Một số phụ huynh do trình độ văn hóa thấp nên không thể kèm thêm cho học sinh khi ở
nhà.
của từ cứng cáp ( chỉ trạng thái đã khỏe, không cón yếu ớt), cho nên từ cứng cáp là từ láy.
Vậy có một số trường hợp từ có hình thức như từ láy nhưng cả hai tiếng tạo thành điều có
nghĩa thì ta sẽ xếp vào nhóm từ ghép.
Ví dụ: Phương hướng, tươi tốt, lạnh tanh, nhỏ nhẹ, mong ngóng.
+ Giúp học sinh nhận biết thêm các kiểu từ láy như: ọc ạch, ốn ào, ơn ơn…điều được xem là
từ láy( vắng, khuyết, âm đấu).
- Phân biệt từ ghép phân loại và ghép tổng hợp:
+ Từ ghép tổng hợp: giữa các tiếng có quan hệ đẳng lập mang tính tổng hợp khái quát nghĩa
của những từ đơn hợp thành.
Ví dụ: xe, cộ, bánh kẹo…
+ Từ ghép phân loại: Có yếu tố cụ thể hóa, cá thể hóa nghĩa cho yếu tố kia.
Ví dụ: xe kéo, bánh rán, xe đạp, xe máy…
c. .Làm giàu vốn từ hay luyện kĩ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho học sinh:
-Dạng 1: yêu cầu học sinh giải nghĩa từ hay thành ngữ , tục ngữ :
Ví dụ: Em hiểu câu tục ngữ: “ Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ” là thế náo?
-Dạng 2: yêu cầu phân loại từ theo nhóm :
Ví dụ: Hãy xếp các từ ghép: học tập, học đòi, học hành, học gạo, học lỏm, học hỏi, học vẹt,
anh cả, anh, em, anh trai, anh rễ, thành 2 loại: Từ ghép có nghĩa phân loại và từ ghép có nghĩa
tổng hợp.
- Dạng 3: Dạng để sữa lỗi từ dùng sai:
Ví dụ: Tìm từ dùng sai trong từng câu dưới đây và sửa lại cho đúng.
Một không khí nhộn nhịp bao phủ thành phố.( tràn ngập )
- Dạng 4: Điền từ vào chổ trống:
Ví dụ: Điền thêm tiếng ( vào chổ trống ) sau cho mỗi tiếng dưới đây, để tao ra 2 từ ghép có
nghĩa phân loại, và 2 từ ghép có nghĩa tổng hợp.
Làng…… , ăn………., vui……….
Trên đây chỉ liệt kê một số dạng, còn nhiều dạng khác nữa giáo viên phải nắm, và cho học
sinh tiếp cận nhiều lần thì bài kiểm tra mới đạt hiệu quả cao.
d. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng ngữ pháp:
– cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu đó là các dạng bài tập yêu cầu học sinh chỉ ra
. Định hướng sai hay đúng sẽ quyết định làm bài sai hay đúng .
Muốn tìm hiểu đề bài cần trả lời mấy câu hỏi sau:
+ Đề bài yêu cầu viết loại văn nào? ( miêu tả hay kể chuyện ? )
+ Đề bài đòi hỏi giải đáp vấn đề gì? ( miêu tả ai, cái gì, kể lại câu chuyện nào? …)
+ Phạm vi làm bài đến đâu? Trọng tâm là ở chổ nào?
- Rèn kĩ năng lập dàn ý:
+ Ghi những ý chính mà bản thân đã quan sát hoặc ghi nhớ.
+ Sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý: Giáo viên cần nhắc học sinh có sự sáng tạo
trong bài viết, không lệ thuộc vào văn mẫu.
- Rèn kĩ năng viết văn:
Yêu cầu học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh dựa vào dàn ý đã được giáo viên chỉnh
sửa. cần diễn đạt lưu loát, rõ ý, đúng ngữ pháp, vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, …cho
thích hợp.
-Chấm và chữa bài: Khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra mặt tốt và mặt hạn chế của bài,
chỉ ra cụ thể các lỗi về dùng từ, viết câu, sắp xếp ý … phân tích cho học sinh thấy nguyên nhân
và định hướng cách sữa cho học sinh để học sinh có thể tự chữa lỗi của mình.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Để bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt có hiệu quả trước hết giáo viên phải vững về
kiến thức, kĩ năng thực hành Tiếng Việt, có vốn sống, vốn cảm xúc phong phú.
- Thực sự tâm huyết với công việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Trang 3
Báo cáo bồi dưỡng HS giỏi lớp 4 môn Tiếng Việt
- Thường xuyên học hỏi, trao dồi kiến thức, tham khảo nhiều sách báo, tài liệu liên quan
để làm giàu thêm vốn kiến thức của mình.
- Giao lưu, học hỏi các bạn đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm, có bề dày về thành tích.
- Luôn phối hợp với gia đình học sinh để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học
tập.
Do thời gian ngắn và trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được sự đóng góp chân thành của lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp, để bản thân có thêm
nhiều kinh nghiệm mới và thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả ngày một cao